Chỉ có một thành công mà thôi, đó là sống cuộc sống của mình theo cách của chính mình.

Christopher Morley

 
 
 
 
 
Tác giả: David Baldacci
Thể loại: Trinh Thám
Nguyên tác: Memory Man
Biên tập: Yen Nguyen
Upload bìa: Yen Nguyen
Số chương: 82 - chưa đầy đủ
Phí download: 8 gạo
Nhóm đọc/download: 0 / 1
Số lần đọc/download: 0 / 17
Cập nhật: 2023-06-19 10:54:17 +0700
Link download: epubePub   PDF A4A4   PDF A5A5   PDF A6A6   - xem thông tin ebook
 
 
 
 
Chương 28
ecker và Lancaster đi dọc theo căn tin, mỗi người đi từ một đầu khác nhau.
“Vậy là có thể hiểu sẽ có một lối vào ở trong này,” Lancaster nói. “Phòng lớn, có thể tập trung nhiều học sinh ở đây và sau đó là dẫn các em xuống nơi trú ẩn trong trường hợp có sự cố khẩn cấp.”
Decker gật đầu mà không nói gì.
Chị tiếp tục, “Nếu nó ở trong này, chắc hẳn nó phải được giấu sau một cái gì đó. Có thể là các thiết bị chăng?”
Decker lắc đầu. “Không thể là thứ gì đó kiên cố thế được. Trong trường hợp khẩn cấp, cần phải có thể di tản sao cho nhanh chứ.”
“Nhưng có thể nó đã được che phủ một lớp gì đó lên,” Lancaster nêu ý kiến. “Xây đè chẳng hạn.”
“Nhưng kẻ nổ súng vẫn không thể đục tường, sàn nhà hoặc trần, bởi làm như thế sẽ tạo ra tiếng động và để lại bằng chứng về việc hắn đi từ đây ra hành lang phía sau như thế nào.”
“Ồ, hắn có để lại bằng chứng là hắn ở trong này đấy thôi. Đồ ăn ôi thiu, nhớ không?”
“Hắn cố tình để lại bằng chứng đó. Hắn hoàn toàn có thể dễ dàng hạ nhiệt độ trở lại sau khi đã ra khỏi đó. Chết tiệt, dù sao hắn cũng đâu cần phải ở lại trong kho lạnh suốt cả đêm. Hắn muốn chúng ta biết là hắn đã ở trong đó. Nhưng hắn không muốn chúng ta tìm ra được hắn đi từ trước ra sau như thế nào. Chí ít là không muốn bị lộ ngay tức thì. Đó là lý do hắn để lại dấu vết trên trần và vụn gạch trên sàn. Một biện pháp đánh lạc hướng kinh điển. Hắn đang chơi chúng ta. Và hắn khiến chúng ta mất thời gian. Tất cả có lợi cho hắn và bất lợi cho chúng ta.”
Lancaster tiếp tục liếc nhìn xung quanh. “Vậy là chúng ta đang tìm kiếm một lối dẫn vào trong này đã được che kín. Chỉ có điều chúng ta không biết nó ở đâu và được che thế nào.”
“Từ ‘che’ có thể chỉ rất nhiều thứ khác nhau. Nhưng điểm mấu chốt là, gã này kết bạn với Debbie vì một lí do và một lí do duy nhất - tìm hiểu về lối đi này.”
“Thôi nào, Decker. Làm thế nào hắn biết là cô bé biết mà hỏi chứ?”
“Tôi phát hiện ra điều đó dựa trên quan sát, linh cảm và một chút tìm hiểu. Hắn có thể làm điều tương tự. Đây là một thị trấn tương đối nhỏ. Có vô số cách để hắn phát hiện ra Simon Watson đã từng làm việc ở căn cứ. Hắn cũng có thể biết được ông ấy từng sống với gia đình Watson. Hắn có thể đã tiếp cận Debbie để dò hỏi xem cô bé liệu có biết gì về nó hay không. Và tất nhiên là cô bé có biết.”
“Như thế sẽ cần lên kế hoạch và tính toán trước rất lâu.”
“Và đó có vẻ như là một thế mạnh của gã này.”
Decker đi qua đi lại trước một phần của bức tường.
Lancaster nhìn thấy và nói, “Tôi cá là những quy định đó sáu mươi năm nay không hề thay đổi. Tôi đoán anh ngoan ngoãn tuân thủ tất cả những cái đó hồi còn học ở đây chứ hả?”, chị nở một nụ cười theo cùng.
Những “quy định” mà chị đang nhắc tới được dán trên một khoảng rộng của bức tường mà Decker đang chăm chú quan sát. Các quy định bao gồm: không nói to, không ném đồ ăn, không ăn đồ ăn trên dĩa của người khác, không được bỏ lại vỏ hộp sữa trên bàn, bỏ rác vào thùng, không chạy, vân vân và vân vân.
“Amos, tôi nói -”
Anh giơ một tay lên ra hiệu cho chị im lặng, trong lúc đó anh bước đi bước lại dọc theo bức tường và rồi sau đó nhìn xuống sàn nhà.
“Cô nhìn dưới này có thấy gì không Mary?”
Chị cúi xuống thấp và nhìn vào vị trí mà anh đang chỉ.
“Một vài vết hằn. Có lẽ là dấu giày của tụi học sinh.”
“Tôi không nghĩ vậy. Trường Mansfield không yêu cầu mặc đồng phục. Hầu hết nam sinh đều đi giày thể thao. Và từ những gì tôi nhìn thấy, phần lớn nữ sinh đi giày thể thao, giày bệt hoặc cao gót đế vuông. Các loại giày dép đó không thể để lại những vết hằn kiểu như vậy được. Thật ra dấu này giống như cào rách cả lớp vải sơn lót sàn vậy. Và những vết đó không hề ngắn, không giống vết mà gót giày có thể tạo ra. Chúng khá dài. Và chúng hơi uốn sóng nhẹ. Trông như có tận vài vết cả thảy.”
“Hừm, thế anh nghĩ chúng là gì?”
Anh đứng gần hơn vào cái phần của bức tường mà tại đó các quy định được in vào một tấm gỗ lớn có màu sơn tương đồng với màu của bức tường. Tấm gỗ bám sát với sàn nhà và chạm gần tới trần.
“Không có dấu vết của bản lề,” anh nói. “Nhưng -”
Anh dí các ngón tay vào dưới khu vực bên phải của bức tường và chọc vào nhiều vị trí khác nhau. Anh làm tương tự với phía bên trái của bức tường. Cuối cùng, sau mười phút thăm dò, chọc và đẩy, một tiếng tách nhẹ vang lên và toàn bộ khu vực phía sau tấm biển bật mở, hướng ra ngoài. Anh kéo tiếp nó, để mở rộng hơn. Để lộ ra phía sau đó là hai cánh cửa bằng gỗ cũ được sơn màu trùng với màu của bức tường.
“Nhìn sàn nhà kìa,” Decker nói.
Lancaster để ý thấy có một vài những vết kéo xước mới xuất hiện tại vị trí mà tấm gỗ bắt đầu di chuyển từ đó dọc theo sàn nhà khi anh đẩy mở nó.
“Chết tiệt, Amos ạ. Dấu vết trên sàn nhà là từ cánh cửa, khi nó được kéo mở.”
“Bản lề được đặt ở bên trong, cách khoảng ba mươi phân và được đặt trên một cấu trúc đỡ để không ai nhìn thấy được. Nhưng bản lề đã bị cong đi đôi chút theo thời gian, do đó mới kéo xước sàn nhà.” Anh vuốt những ngón tay dọc theo một bộ bản lề, và khi bỏ tay ra, đầu ngón tay của anh bị đen đi.
“Mới được tra dầu gần đây,” anh nói.
Có một cái tay nắm cửa nhỏ ở chính giữa mặt phía sau của bức tường.
“Anh nghĩ cái đó để làm gì?”
Decker suy nghĩ một lúc. “Khi đã sang được phía bên kia, nó được dùng để kéo kín bức tường lại.”
“Phải rồi. Nhưng tại sao lại phải có cửa nhỉ? Nếu họ muốn che kín nó, tại sao không che luôn đi?”
“Tôi không biết, Mary ạ. Chắc hẳn xây được nó tốn kém nhiều tiền của lắm. Có thể họ muốn có một lối vào tương đối dễ dàng trong trường hợp có thể phải sử dụng đến nó lần nữa.”
“Có lẽ vậy.”
“Tôi không thấy có dấu vân tay nào, nhưng chúng ta không nên bỏ qua. Vẫn có những dấu vân tay ẩn, và chúng được gọi với cái tên đó là có lí do.”
Anh cầm lấy một con dao từ trong cái hộp trên một kệ bếp để cạy mở cánh cửa bằng ấn cái khóa loại thường dùng đang giữ hai cánh cửa với nhau ra sau. Cánh cửa được đẩy mở nhẹ nhàng, cho thấy bản lề của nó cũng mới được tra dầu gần đây.
Có một hàng các bậc cầu thang dẫn xuống một nơi tối đen như mực.
Decker chộp lấy chiếc đèn pin khẩn cấp cắm trên cái giá treo gắn vào tường bên cạnh quầy phục vụ và quay trở lại, đứng trước bậc cửa. “Sẵn sàng không?”
“Chẳng phải chúng ta nên báo cho những người khác nữa sao?” Lancaster lo lắng nói.
“Sẽ báo, sau khi chúng ta xem thử nó dẫn tới đâu.”
“Nhưng FBI thì sao?”
“Kệ mẹ tụi FBI đi, Mary. Vụ này là của chúng ta, không phải của họ.” Anh nhìn chị chằm chằm. “Cô đi với tôi chứ?”
Cuối cùng chị gật đầu và theo anh bước xuống cầu thang.
Họ đi tới bậc thang cuối cùng, và tại đây Decker dừng lại và rọi đèn xung quanh.
“Nhìn ở kia kìa.”
Họ nhìn thấy treo ở một mặt tường là hai miếng gỗ ép lớn được sơn màu. Những cái đinh bị đập cong nhô ra trên những miếng gỗ.
Decker nói, “Đó mới thật là cách họ che giấu lối đi này. Tôi nhìn thấy các lỗ đóng đinh ở xung quanh cánh cửa đôi. Tấm gỗ ép đó được đóng phía trước hai cánh cửa, tất cả những gì mà họ nhìn thấy là một bức tường kiên cố.”
“Anh nghĩ là kẻ nổ súng đã làm việc đó sao?”
Decker rọi đèn xuống sàn nhà. “Chắc chắn là thế. Mùn cưa trên sàn trông khá là mới. Nếu hắn nạy đinh, bụi mùn cưa chắc chắn sẽ rơi ra và rớt xuống sàn. Tương tự khi hắn kéo tấm biển gỗ để ra được cầu thang. Và có thể hắn đã dùng cưa để cắt lớp ván gỗ nữa.”
“Nghĩa là hắn đã phải làm việc này từ trước đó. Chẳng lí gì hắn có thể cắt được lớp tường gỗ trong giờ học. Sẽ tạo ra rất nhiều tiếng động.”
“Có thể hắn đã làm việc này từ đêm hôm trước. Hắn từ trong kho lạnh đi ra và bắt tay vào làm việc. Ở đây không có ai nên chẳng ai nghe thấy gì. Hắn mở bức tường có tấm biển ra, cắt lớp tường gỗ, mở hai cánh cửa, và dồn tất cả mọi thứ xuống đường hầm.”
“Nếu là hắn làm tất cả những việc đó, thì Amos ạ, có thể đó là lí do vì sao hắn trốn trong kho lạnh.”
“Có thể là thế,” Decker nói.
Decker chỉ tay xuống sàn nhà thêm một lần nữa. Dưới lớp bụi là những dấu giày rất rõ ràng dẫn theo hướng mà họ đang đi.
Hai nhóm dấu giày rõ ràng dẫn đi dọc theo đường hầm.
“Đi sang bên phải đi, Mary, để bảo toàn chúng. Và dùng điện thoại chụp ảnh lại trong lúc chúng ta đi.”
“Được thôi, nhưng tại sao lại có những hai dấu chân nhỉ? Liệu có phải là của hai người khác nhau không?”
Decker ngồi xuống và rọi đèn vào chúng. “Không. Các dấu chân trông có vẻ là giống hệt nhau. Và không phải là của hai người đi bên cạnh nhau. Khoảng cách giữa các dấu chân quá gần nhau. Nhưng có hai nhóm dấu chân thì có thể hiểu được.”
“Tại sao?”
“Đi nào.”
Họ tiếp tục, vừa đi chị vừa chụp ảnh lại. Họ đi qua một cánh cửa lớn, bằng kim loại dày cả chục phân, nó được mở dễ dàng là bởi vì nó được gắn với bản lề thủy lực.
“Một dạng cửa chịu được sức nổ,” Decker nói.
Giờ, không gian mở rộng thành một căn phòn lớn rộng khoảng hơn ba mét rưỡi và sâu gấp đôi quãng đó. Sàn nhà bằng bê tông, các bức tường và trần nhà cũng vậy. Trên các bức tường gắn các tấm biển, chỉ dẫn những việc phải làm trong trường hợp xảy ra sự cố khẩn cấp. Một số được in thêm biểu tượng đầu lâu xương chéo, dấu hiệu quốc tế thể hiện có nguy hiểm. Dọc theo các bức tường là các tủ đựng đồ bằng kim loại đã cũ, trên đó cũng được gắn biển tên. Một trong số đó ghi MẶT NẠ PHÒNG ĐỘC. Một biển khác ghi, ĐỒ SƠ CỨU. Biển thứ ba ghi, NƯỚC VÀ THỰC PHẨM. Bụi và mạng nhệ giăng kín, và không khí có mùi cũ kỹ và ẩm mốc.
“Chắc hẳn họ phải có một nguồn cung cấp không khí độc lập,” Decker nói. “Nếu bị tấn công hạt nhân, không thể lấy được không khí từ bên ngoài.”
“Nhưng dưới này cũng không thể kín khí được. Tôi vẫn thở bình thường.”
“Điều đó có nghĩa là dưới này có chỗ nào đó thông khí, như thế các công nhân mới có thể đưa nhu yếu phẩm chất đầy trong này, và những người xuống đây có thể thở được, nhưng họ sẽ đóng lỗ thông đó khi có chuông báo động.”
Đi theo dấu giày, họ vượt qua không gian của hầm trú bom và đi qua một cánh cửa chịu sức nổ khác, bên kia cánh cửa có thêm một đường hầm khác y hệt như đường hầm vừa rồi. Bóng tối được xua đi sau mỗi giây nhờ ánh đèn flash từ điện thoại của Lancaster khi chị chụp ảnh những dấu giày tiếp tục đi theo đường hầm này.
Decker đang nhẩm đếm số bước chân trong đầu. Tiếp đó họ bắt gặp một dãy cầu thang nữa. Những bậc thang này hướng lên trên. Cứ qua một lúc, Decker lại soi đèn xuống sàn nhà một lần. Các dấu giày mà họ nhìn thấy lúa trước song song với họ suốt cả chặng đường. Chúng hướng lên trên. Ở phía cuối của cầu thang là một bức tường trắng trơn.
“Đường cụt sao?” Lancaster khác.
“Không thể nào.” Decker ấn đầu ngón tay quanh gờ của bức tường, sờ lên rồi xuống ở cả hai cạnh mép. Rồi anh sờ thấy một cái tay cầm, kéo nó. Bức tường bắt đầu tách ra, và rồi sau đó nó mở ra.
“Là gỗ bấc,”anh nói, dễ dàng nhấc nó ra và đặt sang bên. Ở phía bên kia của bức tường đã mở là một không gian mở nhỏ chất đầy rác rưởi. Phía bên kia của đống rác là một cánh cửa.
“Chính quyền không thể che chỗ này bằng gỗ bấc được,” Lancaster nhận xét.
“Tôi dám chắc là không. Nhưng khác với trong căn tin, bức tường không thấy được bằng mắt thường, bức tường có lẽ được đặt ở đây phòng trường hợp có người mở cánh cửa đó. Kẻ nổ súng chắc hẳn đã thay thế bức tường từng ở đây bằng gỗ bấc. Trông có vẻ chắc chắn nhưng lại có thể dễ dàng di chuyển được.”
“Những việc anh nói nãy giờ là rất nhiều, Amos ạ. Hắn không thể nào làm tất cả chỉ trong một đêm.”
“Nhưng nếu hắn có thể thâm nhập vào trường mỗi tối, có thể hắn đã ở đây nhiều lần, làm tất cả những gì hắn cần.”
“Nhưng làm thế nào hắn làm được việc đó? Hắn không thể chỉ trông chờ vào các buổi kịch ở trường mỗi tối, đúng không? Và còn mang theo cả cưa và những dụng cụ khác nữa?”
“Tôi không biết chắc hắn làm được việc đó bằng cách nào.” Decker rọi đèn xuống sàn nhà. “Kiểm tra mảng gỗ ngay phía trước bức tường đi. Không có nhiều bụi lắm. Đống rác kia đã từng ở ngay phía trước bức tường, nhưng đã được di chuyển để không ngáng đường.”
Decker kiểm tra tay nắm cửa để tìm dấu vân tay, và sau đó dùng con dao mà anh đã mang theo để cố nạy mở chốt cửa.
“Nó bị khóa rồi. Hộ tôi một giây.” Anh đưa cái đèn pin sang cho chị và lấy dụng cụ phá khóa từ trong túi ra.
“Dụng cụ tiêu chuẩn của thám tử tư à?” chị nói với vẻ chế giễu.
“Hồi làm cảnh sát cô chưa phá khóa bao giờ à?”
Một phút sau cánh cửa bung mở ra sau chừng vài chục phân và va vào cái gì đó.
“Cái gì thế?” Lancaster thì thầm.
Decker để ý thấy chị đã rút súng ra. Và rằng tay trái của chị vẫn đang run rẩy.
“Có cái gì đó chặn ở cửa.” Anh thò đầu qua phần cửa đã mở và nhận ra họ đang ở đâu.
“Đây là kho chứa của lớp học nghề. Tôi đã từng xem qua chỗ này. Cánh cửa va phải một chồng các cụm máy điều hòa gắn cửa sổ đã cũ. Đó là lí do vì sao lúc trước tôi không nhìn thấy cánh cửa. Mấy cụm máy đó đã che kín nó từ vị trí mà tôi đứng ở phía bên kia.”
“Và tôi dám cá khi chúng ta lục soát khu vực này, không ai để ý thấy cánh cửa ở phía bên kia cũng vì lí do này.”
“Nghe có vẻ hợp lý.”
Lancaster nhìn khoảng trống. “Tôi có thể đi qua đó được.”
Chị xoay ngang người và dễ dàng đi qua khoảng hẹp.
Chị nhìn xung quanh. “Nếu anh có thể tiếp tục đẩy cánh cửa từ bên anh, tôi sẽ chỉnh mấy cụm máy điều hòa đi theo cho cân, để chúng khỏi đổ xuống.”
Anh dùng sức nặng của mình tiếp tục đẩy cảnh cửa, và cánh cửa mở rộng thêm nữa, cùng với mấy cụm máy điều hòa di chuyển theo, trong khi Lancaster bám chắc người theo chúng, giữ cho chúng đứng thẳng.
“Được rồi, Amos, thế là thừa chỗ cho anh đi qua rồi.”
Decker đi qua khoảng trống đã được mở rộng, nhìn cánh cửa đã được mở một phần và rồi sau đó nhìn mấy cụm máy điều hòa chồng lên nhau, và sau đó nhìn chằm chằm xuống sàn nhà.
Và rồi anh cau mày.
“Giờ sao?” Lancaster hỏi.
“Ở trong này không có nhiều bụi lắm, thế nên tôi không nhìn thấy dấu giày nào nữa.”
“Nhưng chúng ta đã nhìn thấy dấu giày đi lên cầu thang. Chắc hẳn hắn cũng đã phải đi vào đây.”
“Đồng ý. Vậy là cứ giả sử hắn đã đi vào đây và đi vào lớp học nghề.”
Họ rời kho chứa đồ và đi vào trong căn phòng rộng với đầy đủ dụng cụ và bàn thực hành.
“Nhưng làm thế nào để gã đó biết sẽ không có ai trong phòng học nghề?” Decker nói.
“Ồ, vậy là anh không biết à?” Lancaster nói, giọng có vẻ hài lòng khi có điều chị biết mà Decker không biết.
“Biết gì?”
“Giáo viên dạy nghề thôi việc hồi cuối năm ngoái. Họ không tìm được người thay, thế nên cả năm nay đâu có lớp dạy nghề.”
“Đó là lý do mà cửa phòng học bị khóa. Và cũng là lý do mà kẻ nổ súng biết phòng học không có người. Chắc chắn Debbie đã kể cho hắn rằng lớp học nghề không mở.”
“Nhưng anh đã đúng, Amos ạ. Đây là cách để hắn đi từ căn tin tới đầu kia của trường mà không để bị nhìn thấy.”
Anh gật đầu. “Thật ra ngày hôm đó hắn đã làm việc này hai lần. Hắn đi ra khỏi kho lạnh, đi xuống tầng hầm, đi ra và xuất hiện trong hành lang, bắn những người trên đường hắn đi tới khu vực phía trước. Sau đó hắn lại đi vào đường hầm trong căn tin, đóng bức tường lại, vav đi ngược trở xuống đường hầm.”
“Đó là lí do vì sao lại có hai nhóm dấu chân giống hệt nhau.” Lancaster nói thêm.
“Phải. Rồi, vì lớp học nghề cũng có không gian rộng, thế nên có thể họ đã tính toán sẽ tập tring bọn trẻ ở cả hai đầu của ngôi trường và dẫn xuống nơi trú ẩn trong trường hợp xảy ra tình huống khẩn cấp.”
“Anh tính toán thì đường hầm sâu bao nhiêu?” chị hỏi.
“Dựa theo số bậc, khoảng ba mét rưỡi.”
“Không chắc đủ để bảo vệ khỏi vụ nổ hạt nhân. Kể cả nếu được xây bằng bê tông và có cửa gia cố.”
Anh nhìn chị chằm chằm. “Ồ, thế chính xác thì cái gì có thể bảo vệ cô khỏi bom hạt nhân?”
“Rồi rồi.”
“Tôi đã đi vào đây đêm đầu tiên mà tôi tới xem xét xung quanh. Những dấu giày đằng kia là của tôi.” Anh chỉ tay vào bức tường ở góc xa. “Tôi đi xung quanh, và rồi sau đó, như tôi đã nói, tôi kiểm tra qua phòng kho ở phía sau.”
Decker hạ gối quỳ xuống và quan sát sàn nhà. “Mary, rọi đèn vào chỗ này đi. Chắc hẳn lúc trước tôi đã bỏ qua nó.”
Lancaster làm theo, để lộ ra một dấu dài cắt ngang qua lớp bụi đang lấp lánh dưói ánh đèn, cùng với dấu in giày.
“Anh nghĩ đó là cái gì?”
“Rọi đèn nhích sang trái khoảng mười lăm phân đi.”
Chị làm theo. Không có gì cả.
“Thử nhích sang phải mười lăm phân xem nào.”
Chị làm theo và họ nhìn thấy một dấu vết tương tự.
“Đó là cái gì?” Lancaster hỏi.
“Dấu vết từ chân của Debbie Watson.”
“Chân của cô bé sao?”
“Hoặc nói đúng hơn là dấu giày cao gót, khi cô bé bị kéo ra khỏi đây. Dấu giày là của kẻ nổ súng.”
“Ra khỏi đây á? Cô bé đang làm gì ở trong này chứ?”
“Gặp mặt thằng bạn trai Jesus của cô bé.”
“Không phải là thật đâu, đúng không?”
“Debbie là bệnh nhân đầu tiên được giải phẫu tử thi. Cô có đọc báo cáo pháp y không?”
“Tất nhiên là có.”
“Nguyên nhân tử vong là gì?”
“Tại sao phải lãng phí thời gian thế hả Amos? Nguyên nhân tử vong của cô bé là một phát đạn bằng súng hoa cải vào mặt, như anh đã biết rất rõ.”
“Cái đó thì rõ ràng rồi. Nhưng cô có để ý nhân viên điều tra tìm được gì trong miệng cô bé không?”
“Ý anh là còn gì nữa ngoài mấy viên đạn ấy hả?” Lancaster nói bằng giọng mỉa mai.
“Anh ấy tìm được một ít còn sót lại của kẹo ngậm bạc hà.”
“Kẹo ngậm bạc hà sao? Tôi không nhớ từng đọc qua đoạn đó.”
“Nó nằm ở gần cuối của báo cáo. Tôi luôn luôn đọc đến hết.”
“Nhưng kẹo ngậm bạc hà sao?”
“Một ít còn sót lại của kẹo ngậm bạc hà. Một gói kẹo như thế được tìm thấy trong tủ đựng đồ của cô bé. Hai gói khác đã bị lấy mất. Đó là lí do vì sao mà cô bé đi tới tủ khóa của mình. Để lấy kẹo bạc hà. Để hơi thở thơm tho hơn trước khi đi gặp bạn trai. Và cũng là kẻ sát hại cô bé. Và việc này giải thích được vì sao lại có khoảng trống thời gian. Hắn từ trong kho lạnh đi ra vào lúc bảy giờ hai mươi tám phút. Hắn đi xuống đường hầm. Nhưng hắn phải đợi Debbie ra khỏi lớp. Có thể bọn họ đã có thời gian chuẩn bị trước. Cô bé giả vờ không khỏe, xin giấy nghỉ, đi tới chỗ tủ khóa, lấy kẹo bạc hà, và rồi đi vào phòng học nghề.”
“Nhưng anh nói cửa bị khóa cơ mà?”
“Jesus có thể đã mở khóa cho cô bé từ bên trong.”
“Phải rồi.” Chị nhìn anh với vẻ hoài nghi. “Chính xác thì anh đã suy ngẫm đến những điều này trong bao lâu rồi?”
“Không lâu lắm.” Decker nhắm mắt và đưa tay ra sau đầu, chạm vào khoảng giữa đầu từ trên xuống. “Và kết quả giải phẫu cho thấy có một vùng tụ máu bán cấp dưới màng cứng ở phía sau đầu, ngay vị trí này. Bên trái của xương chẩm bị rạn, đó là một loại xương rất cứng và rất khó có thể bị tổn thương đến mức đó. Vết thương đó đủ để giết chết cô bé kể cả nếu khẩu súng không làm được việc đó, nó sẽ gây chảy máu trong và dẫn tới làm tăng áp lực lên não. Bác sĩ pháp y suy đoán vết thương xuất hiện khi cô bé ngã ngửa ra sau, đập đầu xuống sàn sau khi bị bẵn.” Anh mở mắt ra và nhìn người cộng sự của mình. “Bên trái.”
“Nghĩa là cú đánh sẽ xuất phát từ bên trái và từ đằng sau? Đó là một kẻ thuận tay trái? Như anh đã nói kẻ viết bản nhạc, chính là thuận tay trái.”
“Phải, nhiều khả năng là như thế.”
“Vậy là hắn gặp cô bé trong này và hạ gục cô bé, nhưng tại sao chứ?”
“Hắn cần loại bỏ cô bé. Và hắn cần phải giết chết cô bé đầu tiên, trước bất kì ai khác. Hắn không thể mạo hiểm để cô bé có khả năng sống sót. Cô bé có thể chỉ mặt điểm tên hắn. Thế nên hắn sắp xếp để gặp cô bé, dùng đường hầm để đi dọc trường mà không bị ai nhìn thấy. Tôi có thể hình dung đây không phải là lần đầu tiên mà cả hai làm việc này. Có thể hai đứa nó đã từng quan hệ tình dục trong lớp học nghề trong hoặc sau giờ học trong một vài dịp khác. Tôi tự hỏi Debbie có thường xuyên xin phép lên phòng y tế không?”
“Quan hệ tình dục sao? Anh nói nhiêm túc đấy à?”
“Một nơi riêng tư của riêng hai đứa ngay giữa trường học kia mà. Còn gì có thể tuyệt hơn thế trong mắt một đứa trẻ vị thành niên say đắm men tình với người đàn ông trưởng thành của nó, một kẻ thậm chí không hề học tại đây? Và kẻ sát nhân chắc hẳn cũng muốn nhân dịp ghi nhớ mọi lối đi trong đường hầm khi hắn lên kế hoạch toàn bộ chuyện này. Hắn còn có thể mang đồ và cất giữ ở trong đây. Quá hoàn hảo.”
“Vậy anh đoán mọi việc đã diễn ra như thế nào?”
“Hắn gặp cô bé trong phòng học nghề, cô bé nghĩ hai đứa sẽ thân mật với nhau, thế nên dùng đến kẹo bạc hà. Hắn đánh ngất cô bé, lấy dụng cụ, lẻn ra khỏi phòng, đi vòng qua góc khuất tới trước camera và để hình ảnh của mình được ghi lại.” Anh liếc nhìn Lancaster. “Cô nhìn thấy dấu giày trong đường hầm rồi chứ?”
“Anh biết là tôi thấy mà.”
“Tôi ước tính giày sẽ có cỡ khoảng 39 hoặc có thể là 40, nhưng không to hơn thế.”
Lancaster trông có vẻ bối rối. “Vậy là cỡ chân không hề lớn đối với một kẻ to cao,” chị chậm rãi nói. “Earl cao một mét tám mà đã đi giày cỡ 44 rồi.”
“Tôi cao một mét chín lăm và đi giày cỡ 47, với người kích cỡ như tôi thì như thế chẳng có gì là bất thường. Một gã cao gần một mét chín và nặng khoảng trên 90 cân mà lại đi giày cỡ 39 ư?” Không đúng lắm. Và tôi không thể lách qua cái khe cửa nếu có mấy dàn máy điều hòa chắn đường. Tôi phải đẩy chúng ra xa hơn mới đủ chỗ. Và do không có dấu vết nào trên sàn nhà, chứng tỏ tôi là người duy nhất từng đẩy dàn máy điều hòa ra. Cô thì có thể đi qua quá dễ rồi, nhưng cô thấp và gầy gò. Gã trong đoạn băng ghi hình có phần eo nhỏ hơn tôi rất nhiều, nhưng vai và ngực của hắn thì rộng không kém gì tôi. Như vậy làm thế nào để hắn đi qua được khe cửa mà không cần dịch chuyển mấy cái máy nhỉ?”
“Tôi không biết. Anh có biết không?”
“Tôi có vài ý này.”
Lancaster bồn chồn nhìn xung quanh và miệng nhai kẹo điên cuồng, đến nỗi răng của chị va vào nhau. “Chúng ta cần điều một đội pháp chứng vào đây. Tôi cầu Chúa là chúng ta chưa làm nhiễu bằng chứng. Cục sẽ xé chúng ta tan tành, sau khi Mac sạc cho chúng ta một trận.” Chị nhìn xung quanh và rồi dường như chị chợt nhận ra điều gì đó.
“Chờ chút đã. Nếu gã đó đánh ngất Debbie và kéo cô bé ra khỏi đây, làm thế nàk để hắn bắn cô bé ở tư thế đứng thẳng bên ngoài hành lang? Phân tích đường đạn đạo đã xác nhận rất rõ ràng. Cô bé đứng thẳng. Các vết máu bắn ra không thể làm giả được. Và giữa thời điểm hình ảnh của hắn bị ghi lại trên video và thời điểm giết Debbie cũng chỉ có khoảng cách là một phút thôi.”
“Có một cái lỗ ở sau lưng áo khoác của cô bé, ngay vị trí đằng sau cổ,” Decker nói. “Có thể hắn đã móc cái áo khoác lên tủ khóa của cô bé. Nó có thể giữ cô bé đứng thẳng trong một thời gian ngắn. Hắn lách người, đi vòng qua góc khuất, để hình ảnh của mình được thu lại, vòng trở về và bắn cô bé. Phát súng đã đốn ngã cô bé. Đó là khi mà chiếc áo khoác bị xé rách, nó bị giật bung ra khỏi tủ khi cô bé ngã xuống.”
Decker rọi đèn xung quanh căn phòng và phát hiện ra thêm nhiều dấu giày khác, bao gồm một nhóm dấu giày dẫn vào trong kho và sau đó là quay ngược xuống đường hầm. Trong lớp học nghề cũng có những dấu chân, thuộc về Debbie Watson. Cô bé đi loại bốt hầm hố. Đôi bốt đó vẫn ở nguyên trên thi thể cô. Nhìn theo dấu vết dưới sàn, Decker có thể dần hình dung được cảnh tượng đã diễn ra. Hai nhóm dấu chân tiến lại rất sát với nhau. Có thể là khi hai người đó hôn nhau. Cô bé đã mong chờ được quan hệ thể xác với người đàn ông mà cô gọi là Jesus, ấy thế nhưng mà thay vào đó cô bé lại bị vứt thẳng xuống mồ ở tuổi đời quá trẻ.
Decker dựa vào tường và tua lại cái đầu máy ghi hình của mình cho tới khi anh dừng lại tại điểm mà anh muốn. “Cô có để ý thấy thứ gì khác dưới đường hầm không hả Mary?”
“Cái gì khác? Chẳng hạn là cái gì?”
Anh mở mắt ra. “Có hai nhóm dấu chân đi lên cầu thang dẫn vào phòng kho của lớp học nghề.”
“Đúng thế.”
“Và có một nhóm là đi ngược cầu thang để xuống.”
“Cũng đúng. Rồi sao?”
“Và mặc dù có những vết xước ở khắp cái khu vực đó cho thấy hắn đã từng sử dụng đường hầm này, thế nhưng lại chẳng có một nhóm dấu chân rõ ràng nào đi ngược xuống đường hầm quay về căn tin để khớp với hai nhóm dấu chân đi từ trước ra sau ngôi trường.”
Hai mắt Lancaster mở to. “Chết tiệt, đúng là như thế. Vậy thì gã này đã trốn thoát khỏi trường bằng cách nào.”
“Giờ thì, đó là một câu hỏi rất hay.”
Ký Ức Vĩnh Cửu Ký Ức Vĩnh Cửu - David Baldacci Ký Ức Vĩnh Cửu