Letting go means to come to the realization that some people are a part of your history, but not a part of your destiny.

Steve Maraboli

 
 
 
 
 
Tác giả: David Baldacci
Thể loại: Trinh Thám
Nguyên tác: Memory Man
Biên tập: Yen Nguyen
Upload bìa: Yen Nguyen
Số chương: 82 - chưa đầy đủ
Phí download: 8 gạo
Nhóm đọc/download: 0 / 1
Số lần đọc/download: 0 / 17
Cập nhật: 2023-06-19 10:54:17 +0700
Link download: epubePub   PDF A4A4   PDF A5A5   PDF A6A6   - xem thông tin ebook
 
 
 
 
Chương 23
ôi là một người “mắc hội chứng Savant 1 không do bẩm sinh.”
1. Hay còn gọi là Hội chứng bác học. Người có hội chứng - bệnh này thường có khả năng xuất chúng như tính toán nhanh, nhớ giỏi, khả năng ngôn ngữ hay nghệ thuật siêu phàm,... Tuy nhiên họ cũng thường bị mắc các chứng liên quan như tự kỉ, Asperger...
Chính xác hơn thì tôi là một người mắc hội chứng Savant không do bẩm sinh chức năng cao.
Decker đang nằm trên giường trong căn nhà một phòng ngủ của mình tại Residence Inn. Anh vẫn chưa ngủ. Anh không thể nào ngủ được.
Orlando Serrell.
Orlando Serrell cũng là một người mắc hội chứng Savant không do bẩm sinh, do bị một quả bóng chày đập vào đầu khi anh mới lên mười tuổi. Kể từ đó, anh sở hữu những khả năng phi thường trong tính toán lịch, trí nhớ chính xác về thời tiết vào bất kể ngày nào, cũng như khả năng ghi nhớ gần như hoàn hảo về nơi chốn hoặc hành động cụ thể của anh khi ấy vào bất cứ ngày nào.
Danniel Tammet
Danniel Tammet từng trải qua hàng loạt những cơn động kinh từ khi còn là một đứa trẻ. Anh đã thoát khỏi trải nghiệm gần như chết người đó và trở thành một trong những bộ óc vĩ đại nhất thế kỉ, có khả năng đọc thuộc lòng số pi đến vị trí thập phân thứ hai mươi hai nghìn và học toàn bộ các ngôn ngữ trong một tuần. Anh từng được chẩn đoán mắc hội chứng Asperger, cũng nhìn thấy các con số và nhìn thấy cả mọi vật đi kèm màu sắc giôang như Decker.
Decker từng nghiên cứu mọi thứ mà anh có thể tìm được về những người mắc hội chứng Savant không bẩm sinh, những người có được những khả năng xuất chúng sau một sự kiện nào đó, cho dù là sau một chấn thương trong trường hợp của Serrell hay sau một căn bệnh trong trường hợp của Tammet.
Không có quá nhiều người mắc hội chứng Savant trên thế giới, và Decker cũng chưa từng hoàn toàn chuẩn bị cho việc gia nhập hàng ngũ này. Khi LeCroix hạ gục anh trên sân bóng bầu dục, các bác sĩ đã kiểm tra toàn diện cho anh sau đó và đưa ra kết luận rằng chấn thương đã gây ra hai ảnh hưởng lên bộ não của anh.
Đầu tiên, nó đã mở ra các kênh mới trong trí não anh, giống như khơi thông một ống dẫn nước vậy, nó cho phép thông tin luân chuyển hiệu quả hơn nhiều. Thứ hai, nó khiến cho các mao mạch khác trong trí não anh giao nhau, giúp anh có khả năng thấy được màu sắc của các con số.
Nhưng đó mới chỉ là suy đoán. Decker tin rằng so với các bác sĩ một trăm năm về trước, các bác sĩ ngày nay cũng chỉ biết nhiều hơn chút ít về nguyên lý hoạt động thực sự của não bộ.
Decker đã tỉnh dậy trong bệnh viện sau cú va chạm, nhìn vào thiết bị theo dõi các dấu hiệu sinh tồn và những chỉ số hiện trên đó. Anh đã nhìn thấy nhịp tim của mình, 95 - tương tự với con số trên áo bóng đá của anh - số chín hiện ra với màu tím và số năm là màu nậ. Trước chấn thương, anh thậm chí còn không biết đến màu tím. Và những con số phình to khổng lồ trong đầu anh, cao lớn và đồ sộ. Anh có thể nhìn thấy mọi chi tiết của chúng. Chúng giống như những sinh vật sống vậy.
Anh nhớ lại, khi đó mình ngồi bật dậy trên giường, mồ hôi túa ra. Anh nghĩ mình đang sắp phát điên rồi. Anh rung chuông gọi y tá. Một bác sĩ được gọi đến và Decker lắp bắp kể lại những gì anh đang phải trải qua. Các chuyên gia được gọi đến. Nhiều tháng sau đó, và sau một quãng thời gian đằng đẵng ở cơ sở nghiên cứu phía ngoại ô Chicago, kết quả thống nhất rằng lúc này anh đã chính thức trở thành một người mắc hội chứng Savant không bẩm sinh cùng với hội chứng trí nhớ siêu phàm hyperthymesia và khả năng gặp cảm giác kèm synesthesia. Chấn thương trên sân cỏ đã chấm dứt mãi mãi sự nghiệp bóng bầu dục của anh, nhưng đã đem lại cho anh một trong những bộ não đặc biệt nhất thế giới. Đã nhiều năm rồi nhưng anh vẫn nhớ được tên và lai lịch của tất cả những chuyên gia khác, những người anh đã gặp qua, những hơn một trăm người.
Có thể anh đã được lên các trang tạp chí về học thuật và có rất nhiều sự chú ý từ truyền thông xung quanh những gì đã xảy ra với anh, tỉ lệ tình trạng anh gặp phải là khoảng đâu đó một trên một tỷ. Nhưng anh đã không cho phép bất cứ điều nào trong số đó xảy ra. Anh chưa từng xem bản thân mình là một thần đồng. Anh coi mình là một kẻ quái dị. Trong hai mươi hai năm cuộc đời mình, con người anh vẫn luôn là một kiểu một. Anh chỉ lơ là trong vài phút thôi để rồi vô tình trở thành một con người khác hoàn toàn. Trở thành người mà một ngày nào đó anh sẽ chết với danh phận ấy. Nó giống như một người lạ bước vào cơ thể anh và chiếm lấy nó, và anh chẳng thể làm gì để đưa người đó ra ngoài hết.
Một kẻ chiếm đoạt cuộc đời đang trú ngụ trong tâm trí tôi. Và tình cờ anh ta lại chính là tôi.
Mỗi lực tác động sẽ có một phản ứng đối nghịch tương ứng. Ồ, trong trường hợp của anh, một cầu thủ bóng bầu dục trẻ dễ gần, thích giao du, đùa cợt đầy hứng khởi lại trở nên dè dặt, thu mình và kém giao tiếp xã hội. Anh không còn hiểu được rất nhiều điều mà con người vẫn dành phần lớn thời gian để làm: nói chuyện phiếm, một vài lời nói dối vô hại, trút ra sắc thái cảm xúc, tán gẫu. Anh không thể hiểu được sự cảm thông hay đồng cảm. Anh chẳng hề quan tâm đến cảm xúc của người khác. Nỗi đau đớn và sầu khổ của họ. Cứ như thể những thứ này bị bật nảy ra khi chạm vào bộ não mới và cải tiến của anh, tình trạng này chưa từng thuyên giảm. Dù khiến anh trở nên thông minh hơn nhiều, cú va chạm ấy đã cướp đi khỏi anh những điều làm nên một con người. Như thể đó là một khoản được yêu cầu phải thanh toán vậy. Anh không có quyền lựa chọn chấp nhận hay không.
Anh thậm chí còn không quan tâm đến việc xem thể thao nữa. Anh chưa từng xem một trận bóng nào kể từ chấn thương đó.
Việc kết hôn với Cassie thực sự đã cứu rỗi anh. Cô biết bí mật của anh. Cô chia sẻ những nỗi lo toan ấy cùng anh. Nếu không có cô, Decker nghi ngại về việc liệu anh có thể xoay chuyển cuộc đời mình, tìm được sự nghiệp mới là cảnh sát và rồi thăng tiến thành một thanh tra, dùng bộ não mới mẻ và được cải thiện đáng kể của mình cho việc theo đuổi sự công bình. Và mặc dù anh không bao giờ có thể thể hiện sự yêu thương với Cassie như trước khi gặp phải cú va chạm được nữa, anh vẫn quan tâm cô, một cách sâu sắc. Anh sẽ làm bất cứ điều gì vì cô. Họ thậm chí còn cười đùa về việc khả năng kết nối với người khác của anh giống như một cái máy hơn là một con người. Nhưng Decker biết rằng cả hai người họ đều thầm ước rằng anh có thể làm được như bao người khác.
Mỗi khi ôm lấy con gái mình, Decker đều chẳng thể nghĩ gì khác ngoài cô bé, như thể bộ óc quái vật của anh đã bị mê hoặc bởi con người nhỏ bé thích âu yếm với người cha khổng lồ của mình - một con gấu và đứa con của nó. Anh sẽ vuốt tóc và xoa má cô bé và mặc dù hồi ức thật mờ nhạt, giống như khi xem một chiếc TV cũ bằng chiếc mắc áo thay cho ăng-ten, anh vẫn có thể nhớ lại con người cũ của mình một cách đầy sức sống hơn bất cứ lúc nào khác.
Như thể bộ óc mới của anh cho hai con người này là một ngoại lệ, cho phép anh gần trở lại là con người xưa kia.
Nhưng chỉ khi ở bên hai người đó thôi.
Giờ thì anh chỉ có một mình.
Và sẽ chỉ là một cỗ máy mãi mãi về sau.
Giờ lại có kẻ châm chọc, chế nhạo anh. Chính là con quái vật bệnh hoạn nào đó đã giết chết gia đình anh và sau đó chuyển hướng sang Trường Trung học Mansfield. Và nếu bức hình graffiti trên tường nhà anh vẫn chưa đủ sức thuyết phục, thì đoạn thông điệp được mã hóa đã xóa tan mọi nghi ngờ.
Kẻ bắn súng trong hai vụ là một người.
Và gia đình anh đã chết vì hắn. Từ lâu anh đã biết rằng điều này là hoàn toàn khả thi, thậm chí là khả năng cao. Nhưng chút ít không chắc chắn đó thực ra là một điều tốt, nó cho phép anh tin rằng vẫn có khả năng anh không phải là động cơ cho cuộc tàn sát của chúng.
Giờ thì sự không chắc chắn đó đã biến mất rồi. Và sự rõ ràng tuyệt đối trở nên thật kinh khủng, nó khiến ý định buông xuôi của anh giảm xuống. Vầ cảm giác tội lỗi ập đến với anh mạnh mẽ thậm chí còn mạnh hơn cả cú va chạm mà Dwayne LeCroix từng giáng cho anh.
Vào 5 giờ sáng, anh bật dậy, tắm rửa, khoác lên mình bộ vest và đứng trước chiếc gương nhở phòng tắm có kích thước tương đồng với anh. Trong hình ảnh phản chiếu, anh nhìn thấy những hạt ánh sáng, màu sắc và con số bay vụt qua tấm kính. Anh nhắm mắt lại và hình ảnh đó vẫn không hề thay đổi. Chúng không nằm trên tấm kính ấy, mọi thứ đều nằm trong đầu anh. Người ta nói rằng những người mắc hội chứng Savant, đặc biệt là những người được chẩn đoán mắc hội chứng Asperger, bị thu hút bởi những chủ đề rất riêng: các con số, lịch sử, một lĩnh vực khoa học hay ngôn ngữ nhất định. Decker không biết chủ đề riêng biệt mà đáng ra anh phải quan tâm là gì. Anh không biết liệu cú va chạm từ LeCroix có khiến anh mắc chứng Arperger hay không. Thậm chí anh còn không biết liệu điều đó có khả thi không và anh cũng chưa từng được chẩn đoán một cách chính thức đã mắc chứng nói trên.
Tất cả những gì anh biết đó là anh không bao giờ có thể quên được điều gì. Trí não anh gán màu sắc lên những thứ mà đáng ra không hề có màu đó. Anh có thể nhớ được một ngày cụ thể khi chọn một thứ bất kì nào trong tuần của lịch hàng trăm năm qua. Trí não anh là một trò chơi ghép hình mà tất cả được ghép lại với nhau, nhưng bằng cách nào đó nó vẫn lộn xộn, bởi vì anh chẳng hiểu gì về nó hết. Con người anh hiện tại là vậy. Và điều đó đã khiến anh sợ chết khiếp ngay từ ngày đầu tiên.
Vậy mà khi có Cassie ở cạnh, anh lại kiểm soát được nó. Nếu không có cô, không có Molly, những người đã cho anh điều gì đó để suy nghĩ về cuộc đời phía trước của chính mình, Amos Decker lại một lần nữa trở thành kẻ quái dị. Một kẻ có đa nhân cách. Chỉ khác một điều là phần nhân cách tốt đã biến mất và ra đi mãi mãi.
Một đội quân những con số ba đợi anh khi anh lê bước trong bóng tối đến chỗ buffet ăn sáng được mở vào đúng sáu giờ. Anh gắp đầy ắp thức ăn lên dĩa và đi đến chỗ bàn nhỏ kiêm văn phòng của mình, rồi chỉ ngồi đó nhìn chằm chằm vào đống đồ ăn trên dĩa và không ăn dù chỉ một miếng.
June, một nhân viên phục vụ buffet, vội vã đi về phía anh.
“Amos, cậu ổn chứ?” bà nói, khuôn mặt già nua của bà hằn rõ lên sự lo lắng. Chưa có khi nào anh lại không ngấu nghiến đồ ăn của mình.
Khi anh nói không có gì, bà bưng một ly cà phê lên. “Tôi có thể rót cho cậu một ly không? Có rất nhiều vấn đề được giải quyết bằng một ly cà phê đó.”
Coi sự im lặng của anh là đồng ý, bà rót cà phê đang còn bốc hơi nónh vào ly, để lại trên bàn anh rồi bước đi.
Decker không trả lời bà ấy bởi vì anh thậm chí còn không biết bà đang ở đó. Tâm trí anh đang ở cách nhà hàng tại Residence Inn đó một khoảng rất xa.
Anh không cần nhìn vào đồng hồ của mình. Lúc này đã là 6:23. Một phần trong tâm trí anh luôn giữ một cái đồng hồ nội tâm, một cỗ máy tính giờ tốt hơn bất cứ cái đồng hồ nào mà bạn có thể mua.
Vào lúc mười giờ, Sebastian Leopold sẽ thưa kiện, lần này là có đi kèm luật sư. Decker dự định có mặt tại đó.
Anh đi bộ. Anh thích đi bộ hơn, ngay cả trong bóng đêm. Đội quân những con số ba vẫn ở đó nên anh luôn phải cúi đầu xuống.
Decker từng đọc được rằng những người mắc hội chứng Savant khác cảm thấy được an ủi bởi đại dương và bầu trời những con số thường xuyên bao phủ lấy họ. Đối với Decker, các con số chỉ là công cụ để đạt được mục đích. Chúng không đem đến cho anh hạnh phúc thật sự. Có lẽ bởi vì anh đã từng được trải qua niềm vui hạnh phúc khi còn là một người chồng và người cha. Những con số chỉ đơn giản là không thể cạnh tranh được với điều đó, ngay cả đối với mắc hội chứng Savant.
Anh ngồi trên một chiếc ghế dài phía ngoài tòa án và ngắm mặt trời dần nhú lên, ánh bình minh ló dạng và phá vỡ đi màu đen, quệt lên đó những dải màu đỏ, vàng và hồng. Hoặc trong tâm trí của Decker, vẽ lên đó một loạt những con số liên quan tới màu sắc ấy.
Lúc 9:45, anh nhìn thấy chiếc xe cảnh sát tấp vào lối đi nhỏ cạnh bên tòa án. Xe di chuyển phạm nhân đã đến. Anh tự hỏi không biết có bao nhiêu bị cáo khác cũng đi cùng Leopold hay liệu kẻ sát nhân được cho là sát hại ba người ấy sẽ đến một mình.
Decker gắng đứng dậy và chậm rãi băng qua đường để tới lối vào tòa án. Vài phút sau đó, anh ngồi vào hàng thứ hai. Anh để ý thấy vị luật sư công đang ngồi xem qua hồ sơ tại bàn luật sư. Anh ta trông khoảng ngoài bốn mươi tuổi với những sợi bạc đang bắt đầu len lỏi vào mái tóc của anh. Bộ vest hai mảnh màu nâu của anh ta được thiết kế rất đẹp cùng với một chiếc túi hình vuông có màu sắc sặc sỡ. Anh ta trông thật tự tin và có cái vẻ của một vị luật sư kì cựu. Decker không tin là có ai muốn một tân binh tham gia vào vụ này.
Vẫn là nhân viên chấp hành đó, anh ta đứng cạnh cửa phòng thẩm phán trò chuyện với Sheila Lynch, có vẻ cô vẫn mặc chiếc váy và áo khoác giống như hôm qua.
Decker nghe thấy tiếng cửa phòng xét xử mở ra và quay lại nhìn.
Đó không phải Lancaster hay Miller.
Đó là phóng viên Alex Jamison. Cô nhìn thấy Decker, gật đầu, mỉm cười và rồi chọn một chỗ ngồi gần phía sau.
Decker quay lại mà không thèm đáp trả cô.
Nhân viên chấp hành đó đã biến mất trong phòng thẩm phán. Lynch quay lại bàn luật sư, nói một vài câu với vị luật sư công và sau đó ngồi vào chỗ của mình.
Cánh cửa dẫn tù nhân mở ra và đó là Sebastian Leopold, trông hắn không khác gì ngày hôm qua.
Hắn được áp giải qua chỗ luật sư của mình, còng tay được tháo ra và các viên cảnh sát lùi lại.
Nhân viên chấp hành mở cửa, đọc tuyên bố, mọi người đứng dậy và Abernathy bước qua, chọn chỗ ngồi ngay sau băng ghế.
Ông ta mất một lúc để nhìn qua phòng xét xử và mỉm cười một cách hài lòng khi thấy vị luật sư ngồi cạnh Leopold.
Sau đó ông nhìn sang Lynch.
“Việc đánh giá tâm lí đã hoàn tất chưa?”
Đã được thực hiện xong, Lynch nói với ông. Và kết quả cho thấy Leopold hoàn toàn có khả năng hầu tòa.
Điều này khiến Decker ngạc nhiên.
“Ông Leopold, ông định bào chữa thế nào?”
Luật sư của hắn ta giữ chặt lấy cánh tay của thân chủ mình và cùng đứng dậy. “Tôi từ chối nhận tội,” Leopold tuyên bố chắc nịch.
Decker nghe rõ tuyên bố của hắn ta nhưng dường như không thể hiểu được những gì hắn vừa nói.
Luật sư của hắn nói, “Thưa ngài, tôi đề nghị bác bỏ mọi cáo buộc chống lại thân chủ của tôi. Chính quyền không có bằng chứng về việc ông ấy có liên quan đến vụ sát hại ba người.”
Lynch bật dậy. “Ý của ông là không có bằng chứng nào khác ngoài lời thú nhận của hắn.”
Vị luật sư công đáp lại một cách trôi chảy, “Ông ấy hiện giờ đang công khai rút lại lời thú nhận. Ông Leopold là người mắc chứng bệnh lưỡng cực, đã ngưng dùng thuốc, điều này dẫn đến một vài tình trạng căng thẳng đáng tiếc về mặt tinh thần. Hiện giờ ông ấy đã quay trở lại dùng thuốc và lí trí đã quay trở lại, vì vậy ông ấy mới có thể vượt qua bài kiểm tra tâm lí.” Vị luật sư giơ lên một số tài liệu được ghim lại. “Và rồi có cái này. Xin phép tôi lại gần chứ?”
Abernathy vẫy cô lại gần phía ông ta. Lynch vội vã đi qua bên bị.
Vị luật sư công nói bằng một giọng đủ để Decker nghe thấy, “Đây là báo cáo bắt giữ hoàn chỉnh đã được xác thực có kèm ảnh căn cước và dấu vân tay, có thể cho thấy kết luận là ông Leopold bị giam ở Cranston, cách đây hai thị trấn, vào chính cái đêm mà vụ giết người xảy ra. Tôi cũng có một bản sao của hồ sơ bắt giữ ông Leopold từ Burlington. Chúng đã được đánh giá độc lập, hình ảnh và dấu vân tay khớp hoàn hảo. Không có lí gì lại là ông ấy, tôi dám chắc là cô Lynch sẽ đồng tình.”
Lynch giận dữ nói, “Thưa Ngài, luật sư bào chữa không hề chia sẻ thông tin này với tôi.”
Abernathy nhìn cô với thái độ khinh khỉnh. “Cô có thể lập một hồ sơ bắt giữ nhanh hơn luật sư bào chữa mà, cô Lynch. Nếu ngài ấy tìm được thì đáng ra cô cũng phải tìm được chứ.”
Lynch đỏ bừng mặt. “Hắn ta bị bắt vì tội gì?” cô nói bằng giọng cáu kỉnh.
“Vô gia cư,” vị luật sư công nói. “Ông ấy được thả vào sáng ngày hôm sau. Cranston cách đây bảy mươi dặm và ông Leopold không có phương tiện di chuyển. Nhưng điểm quan trọng hơn nữa là báo cáo của cảnh sát cho thấy ông Leopold bị bắt lúc sáu giờ chiều và được thả ra lúc chín giờ sáng hôm sau. Do đó ông ấy không thể thực hiện hành vi giết người được, vụ án xảy ra vào khoảng nửa đêm.” Anh ta chuyển tập tài liệu sang chỗ Lynch, cô nhìn xuống chúng, nghị lực và sự tự tin của cô hoàn toàn biến mất khi đọc đến trang cuối cùng. “Hắn có thể có đồng phạm,” cô đáp lại một cách yếu ớt.
“Ồ, nếu cô có thể chứng minh được điều đó, thì đó sẽ là lợi thế cho cô,” vị luật sư công nói. “Nhưng cho đến giờ cô vẫn chưa chứng minh được điều gì cả. Thân chủ của tôi đã bỏ thuốc và vô tình nói dối về việc gây ra tội mà ông ấy không thể thực hiện. Toàn bộ vụ việc này tóm gọn lại là vậy, cũng tức là không có vụ xử án nào cả.”
“Chúng tôi có thể buộc tội hắn ta vì đã làm lãng phí thời gian của cảnh sát, cản trở tư pháp công chính.”
“Như tôi đã nói, ông ấy đã dừng thuốc. Ông ấy không thể hình thành chủ ý cần có cho bất cứ tội danh nào trong hai tội danh đó.”
Lynch nói, “Tôi tin là khoảng thời gian được đưa ra đó -”
Abernathy cắt lời cô. “Cô có bằng chứng nào khác ngoài lời thú tội đã được rút lại để cáo buộc bị cáo vào những tội danh chống lại ông ta không?”
Rõ ràng rơi vào trạng thái bối rối, Lynch nói, “Thưa Ngài, bị cáo đã tự giao nộp mình cho cảnh sát và thừa nhận gây án. Do đó chúng tôi đã không cố dựng hiện trường pháp lý chống lại hắn ta.”
“Bị cáo có kí vào bản thú tội không?”
“Có,” cô đáp lại chắc nịch.
“Trong đó có bao gồm những tình tiết mà chỉ thủ phạm thực sự của vụ án mới biết không?”
Một lần nữa Lynch lại bị bất ngờ. “Tôi... tôi không nghĩ vậy, không. Tôi cứ nghĩ là một cuộc thẩm vấn bổ sung sẽ diễn ra, nhưng -”
Ngắt lời cô, Abernathy nói, “Vậy không bàn đến lời thú nhận đó nữa, cô không có bằng chứng gì khác ư?”
“Không,” Lynch thừa nhận, cô giận ra mặt nhưng đã kiềm chế lại.
“Và giờ thì chúng ta đã biết chắc chắn là ông Leopold đã ở trong tù cách bảy mươi dặm khi vụ giết người diễn ra.”
“Đúng vậy, chúng ta đều biết,” vị luật sư công nói, gần như không thể che giấu đi nụ cười.
“Xin hãy lùi lại,” Abernathy nhẹ nhàng nói.
Các vị luật sư quay trở lại khu vực tương ứng của họ.
Abernathy nhìn lướt nhanh từ băng ghế. “Các cáo buộc chống lại bị cáo Sebastian Leopold được bác bỏ và bảo lưu quyền truy tố. Ông Leopold, ông đã được tự do. Và hãy tiếp tục dùng thuốc của ông.”
Ông ta gõ búa xuống.
Luật sư của Leopold quay sang hắn ta để bắt tay, nhưng Leopold lại nhìn quanh phòng xét xử như thể hắn ta vẫn chưa chắc chắn được mùnh đang ở đâu. Khi ánh nhìn của hắn ta dừng lại ở Decker, hắn khẽ mỉm cười và nhẹ nhàng vẫy tay một cái ngượng ngùng.
Không mỉm cười hay vẫy tay đáp lại khi các viên cảnh sát đưa Leopold ra khỏi căn phòng.
Khi Abernathy biến mất khỏi căn phòng, Decker nhìn thấy Lynch và vị luật sư công đang trao đổi qua lại bằng những lời lẽ sắc bén. Sau đó Decker đứng dậy và đi khỏi phòng xét xử.
Alex Jamison đi ra cùng anh.
“Leopold vẫy tay với anh à, anh Decker?” cô hỏi, giọng điệu đầy tò mò, và trong giọng nói nhẹ nhàng đó, dường như có một dấu vết nghi ngờ đang thấm qua.
“Tôi không biết hắn làm gì.”
“Cô từng gặp hắn ta trước đó chưa?”
Decker tiếp tục bước đi.
Cô gọi với theo anh. “Mọi người muốn nghe từ phía anh.”
Anh quay lại và đi về phía cô. “Cái gì từ phía tôi cơ?”
“Anh có biết Leopold không, bởi vì tôi nghĩ hắn đã giao tiếp bằng mắt với anh. Hắn mỉm cười và vẫy tay. Anh là người duy nhất ngồi phía đó.”
“Tôi không biết hắn ta.”
“Nhưng hai người từng nói chuyện trước đây rồi phải không? Trong phòng giam của hắn?”
Decker liên hệ ngay lập tức. Brimmer. Đây chính là cách cô ta đáp trả lại anh vì đã gài cô khi ở trong nhà giam. Cô đã tiết lộ cuộc gặp mặt của anh vơiz Leopold cho Jamison.
“Tại sao anh lại gặp kẻ bị cáo buộc tội giết gia đình mình vậy?”
Decker quay lưng và bỏ đi. Và lần này anh không dừng lại.
Ký Ức Vĩnh Cửu Ký Ức Vĩnh Cửu - David Baldacci Ký Ức Vĩnh Cửu