There is a temperate zone in the mind, between luxurious indolence and exacting work; and it is to this region, just between laziness and labor, that summer reading belongs.

Henry Ward Beecher

 
 
 
 
 
Thể loại: Tuổi Học Trò
Dịch giả: Hồ Thanh Ái
Biên tập: Lê Huy Vũ
Upload bìa: Lê Huy Vũ
Số chương: 41
Phí download: 5 gạo
Nhóm đọc/download: 0 / 1
Số lần đọc/download: 6271 / 92
Cập nhật: 2017-04-18 13:32:36 +0700
Link download: epubePub   KindleMobi/PRC   PDF A4A4   PDF A5A5   PDF A6A6   - xem thông tin ebook
 
 
 
 
Chương 16 - Điều Chỉnh Các Mối Quan Hệ
ây là nơi thân thương nhất mà tớ từng thấy - còn thân thương hơn cả nhà của tớ nữa,” Philippa Gordon cảm thán và nhìn quanh một cách hứng thú. Lúc hoàng hôn, mọi người tụ tập lại trong phòng khách lớn của Nhà Patty - Anne và Priscilla, Phil và Stella, dì Jamesina, Mốc, Joseph, mèo Sarah, Gog và Magog. Ánh lửa nhảy múa trên tường; các chú mèo rên gừ gừ; một bát lớn đầy hoa cúc trồng trong nhà kính, quà tặng từ một nạn nhân của Phil, lấp lánh như những mặt trăng màu kem trong cảnh tranh tối tranh sáng nhuộm vàng.
Đã ba tuần kể từ khi họ sắp xếp ổn thỏa mọi thứ và cho đến giờ ai nấy đều tin tưởng cuộc thí nghiệm sống chung sẽ thành công tốt đẹp. Hai tuần đầu tiên sau khi quay lại trường đại học tràn đầy những chuyện kịch tính thú vị; họ bận bịu bày biện đồ nội thất, sắp xếp lại lãnh địa nhỏ bé của mình và điều hòa những ý kiến khác biệt.
Đến lúc quay lại trường, Anne rời khỏi Avonlea mà không quá sức lưu luyến. Những ngày cuối kỳ nghỉ chẳng mấy dễ chịu đối với cô. Truyện ngắn đoạt giải của cô đã được xuất bản trên báo Đảo; ông William Blair đặt ngay trên quầy hàng một chồng tờ rơi đủ màu hồng xanh vàng in truyện ngắn đó tặng kèm cho mọi khách hàng. Ông gửi tặng một xấp tờ rơi cho Anne, cô lập tức tống tất cả vào bếp lò. Nỗi nhục nhã cô cảm thấy chỉ là kết quả của lý tưởng bị tổn thương mà thôi, vì dân Avonlea nghĩ rằng cô thật tuyệt vời khi giành được giải thưởng ấy. Bạn bè chân thành ngưỡng mộ; số ít kẻ thù thì khinh thường nhưng vẫn ghen tỵ với cô. Josie Pye nói cô tin là Anne Shirley đạo văn; cô nhớ chắc từng đọc nó trên báo nhiều năm về trước rồi. Nhà Sloane, phát hiện ra hay đoán được chuyện Charlie bị “từ chối”, cho biết họ thấy chẳng có gì đáng tự hào cả; chỉ cần cố thì ai mà không viết được truyện cơ chứ. Bà dì Atossa nói với Anne là mình rất lấy làm tiếc khi thấy cô theo nghiệp viết truyện; không ai sinh ra và lớn lên ở Avonlea hạ mình làm điều đó cả; đó chỉ là con đường của những đứa trẻ mồ côi được nhận nuôi, ra đời ở một nơi nào có trời mới biết, cha mẹ ruột là loại người gì thì chỉ có trời mới hay. Ngay cả bà Rachel Lynde cũng khá ngần ngừ không biết việc viết tiểu thuyết là đúng hay sai, dẫu bà gần như hoàn toàn ủng hộ tấm séc hai mươi lăm đô la.
“Thật quá sức bất ngờ trước cái giá người ta chịu trả cho những lời dối trá, thế đấy,” bà nói nửa tự hào nửa trách móc.
Tính đi tính lại, thật nhẹ nhõm khi đến lúc rời đi. Và thật là sung sướng khi trở lại Redmond với tư cách một sinh viên năm hai khôn ngoan đầy kinh nghiệm cùng hàng đống bạn bè chào đón vào ngày khai trường vui nhộn. Pris, Stella và Gilbert đều có mặt, Charlie Sloane, khệnh khạng hơn bất cứ sinh viên năm hai nào, Phil, với câu hỏi lớn về Alec và Alonzo vẫn chưa tìm được lời giải đáp, và Moody Spurgeon MacPherson. Moody Spurgeon đi dạy học ngay sau khi rời trường Queen, nhưng mẹ anh kết luận rằng đã đến lúc anh gạt chuyện dạy học qua một bên để tập trung học cách làm một mục sư. Moody Spurgeon đáng thương gặp vận rủi ngay khi bắt đầu sự nghiệp học hành ở trường đại học. Nửa tá sinh viên năm hai tàn nhẫn, những kẻ cùng ở trọ chung với anh, đột ngột tấn công anh vào một đêm nọ và cạo hết nửa số tóc của anh. Moody Spurgeon xui xẻo phải giữ bề ngoài như thế cho đến khi tóc mọc dài ra như cũ. Anh cay đắng nói với Anne rằng có lúc anh tự hỏi mình thực sự có thiên hướng làm mục sư hay không.
Dì Jamesina chỉ đến nơi khi các cô gái đã chuẩn bị Nhà Patty sẵn sàng để chào đón dì. Bà Patty đã gửi chìa khóa cho Anne cùng một bức thư dặn dò rằng Gog và Magog được đóng gói trong cái hộp bên dưới giường phòng dành cho khách, nhưng nếu muốn thì có thể lấy ra trưng bày; trong dòng tái bút, bà nói thêm rằng bà hy vọng các cô gái cẩn thận khi đóng đinh treo ảnh. Phòng khách vừa được dán giấy lại năm năm trước, bà và cô Maria không muốn xuất hiện nhiều lỗ đinh hơn mức tuyệt đối cần thiết trên lớp giấy dán tường ấy. Còn lại thì bà tin tưởng hoàn toàn vào Anne.
Ôi, những cô gái thích thú cảm giác trang hoàng tổ ấm của mình đến dường nào! Như Phil nói, hạnh phúc chỉ kém kết hôn một tẹo. Tha hồ bày trí nhà cửa mà không bị đấng ông chồng làm phiền. Ai cũng đem theo thứ gì đó để trang hoàng hay giúp cho căn nhà nhỏ tiện nghi hơn.
Pris, Phil và Stella mang đến những đồ trang trí lặt vặt và vô số tranh ảnh, họ treo ảnh lên tường theo gu riêng của mình chẳng thèm để ý gì đến lớp giấy dán tường mới của bà Patty.
“Chúng tớ sẽ lấp đầy các lỗ đinh khi dọn đi, bạn yêu quý - cô ấy sẽ không bao giờ biết đâu,” họ nói khi Anne phản đối.
Diana tặng Anne một chiếc nệm ghế nhồi lá thông, cô Ada cho cô và Priscilla một chiếc nệm khác được thêu tỉ mẩn đến phát khiếp. Marilla gửi đến một hộp mứt lớn và dọa dẫm ám chỉ sẽ có một thùng đồ ăn cho lễ Tạ ơn, bà Lynde cho Anne một chiếc mền bông may ghép từ nhiều mảnh vải khác nhau và cho cô mượn thêm năm cái nữa.
“Cháu cầm hết đi,” bà kẻ cả tuyên bố. “Nếu không thì chúng cũng nằm trong hòm trên gác xép để mối gặm mà thôi.”
Chẳng có con mối nào dám mạo hiểm tiến gần mấy tấm chăn này vì chúng nồng nặc mùi long não đến mức phải treo ngoài vườn Nhà Patty suốt hai tuần liền mới có thể chịu đựng nổi ở trong nhà. Quả thực là đại lộ quý tộc Spofford hiếm khi nào được chứng kiến một cảnh tượng như thế. Ông triệu phú già nua cộc cằn sống “bên kia bờ giậu” ghé thăm và muốn mua tấm chăn “hoa văn tulip” màu đỏ và vàng tuyệt đẹp mà bà Rachel cho Anne mượn. Ông ta nói mẹ mình từng làm những tấm chăn như thế, và Chúa ơi, ông muốn mua một cái để tưởng nhớ đến mẹ. Ông ta khá thất vọng vì Anne không bán, nhưng cô viết thư cho bà Lynde kể rõ mọi chuyện. Quý bà hết sức tự hào ấy gửi thư đáp lại là bà có một cái y chang như vậy, thế là cuối cùng ông vua thuốc lá mua được tấm chăn và nhất định đòi trải nó trên giường, mặc cho bà vợ sành điệu chê bai ghê tởm.
Mấy tấm chăn của bà Lynde hết sức hữu ích vào mùa đông năm đó. Nhà Patty dẫu có rất nhiều ưu điểm nhưng vẫn có khuyết điểm riêng. Nó thực sự là một ngôi nhà khá lạnh; và khi những đêm sương giá ập tới, các cô gái rất vui sướng được chui vào bên dưới tấm chăn của bà Lynde, và mong rằng Chúa sẽ đánh giá cao sự hào phóng của bà. Anne được ở trong gian phòng màu xanh mà cô mê tít ngay từ cái nhìn đầu tiên. Priscilla và Stella ở chung trong phòng ngủ lớn. Phil hoàn toàn lên mây khi chiếm được phòng ngủ nhỏ phía trên nhà bếp, còn dì Jamesina lấy phòng ngủ ở dưới nhà kề bên phòng khách. Mốc ban đầu phải ngủ trên bậc cửa.
Vài hôm sau ngày khai giảng, Anne đi bộ từ Redmond về nhà và phát hiện những người đi đối diện quan sát cô với một nụ cười khoan dung vụng trộm. Anne băn khoăn tự hỏi mình có bị gì không. Mũ lệch qua một bên? Dây thắt lưng bị tuột? Ngoái đầu lại kiểm tra, Anne lần đầu tiên nhìn thấy Mốc.
Chạy lon ton sát gót đằng sau cô là một mẫu vật đáng thương nhất của bộ tộc mèo mà cô từng để mắt. Con vật này đã quá thời bé con từ lâu, gầy gò ốm yếu, bề ngoài bẩn thỉu. Hai lỗ tai sứt sẹo, một mắt tạm thời không nhìn thấy gì và hàm thì sưng vù. Về màu sắc, nếu đem một con mèo đen ra hơ lửa kỹ càng thì lớp lông của nó sẽ loang lổ mỏng dính và xấu xí y hệt chú mèo vô chủ này.
Anne “suỵt” đuổi, nhưng chú mèo không chịu bỏ đi. Mỗi khi cô đứng lại, nó ngồi xổm xuống và con mắt còn sót lại nhìn cô trách móc, khi cô tiếp tục bước đi, nó lập tức theo sau. Anne đành mặc nó đi cùng cho đến khi cô tới cổng Nhà Patty rồi lạnh lùng đóng sầm cửa lại ngay trước mũi nó, vui mừng tưởng bở rằng đó là lần cuối cùng phải nhìn thấy con vật. Nhưng mười lăm phút sau khi Phil mở cửa ra, chú mèo nâu mốc meo vẫn ngồi trên bậc cửa. Hơn nữa, nó nhanh chóng vọt vào và nhảy lên lòng Anne với tiếng meo meo nửa van vỉ nửa đắc thắng.
“Anne,” Stella nghiêm khắc hỏi, “cậu là chủ con vật ấy à?”
“Không, đời nào chứ,” Anne khinh bỉ phản bác. “Con vật này giữa đường tự dưng đi theo tớ về nhà. Tớ không tài nào đuổi nó đi được. Úi, xuống ngay. Ta tương đối thích những con mèo sạch sẽ đàng hoàng; nhưng ta không thích mấy con thú hoang màu sắc như nhà ngươi.”
Thế nhưng chú mèo không chịu nhảy xuống. Nó thản nhiên cuộn người trong lòng Anne và bắt đầu rên gừ gừ.
“Nó nhận nuôi cậu rồi, rõ ràng là thế,” Priscilla phá lên cười.
“Tớ không đời nào để nó nhận nuôi đâu,” Anne ngoan cường đáp trả.
“Con vật đáng thương này đói ngấu rồi,” Phil thương hại nhận xét. “Chứ còn gì nữa, gần như là da bọc xương.”
“Được rồi, tớ sẽ cho nó ăn một bữa ra trò và sau đó nó phải quay trở lại chỗ của mình, dù ở đâu đi nữa,” Anne kiên quyết.
Chú mèo được cho ăn và đẩy ra khỏi nhà. Sáng hôm sau, nó vẫn còn nằm trên bậc cửa. Nó cứ tiếp tục ngồi trên bậc cửa, xông thẳng vào trong bất cứ khi nào cửa mở. Thái độ lạnh nhạt không chào đón chẳng ảnh hưởng gì đến nó, nó cũng chẳng thèm để ý đến bất kỳ ai ngoài Anne. Xuất phát từ lòng từ bi nên các cô gái vẫn cho nó ăn; nhưng sau một tuần họ quyết định phải làm gì đó mới được. Bề ngoài của chú mèo đã cải thiện kha khá. Mắt và mặt nó đã trở lại bình thường; nó không còn quá gầy nữa và bắt đầu chịu liếm láp sửa soạn.
“Nhưng dù sao chăng nữa chúng ta cũng không thể giữ nó lại được,” Stella nói. “Dì Jimsie sẽ đến vào tuần tới và dì sẽ mang theo mèo Sarah. Chúng mình không thể nuôi hai con mèo được; nếu không thì con mèo mốc meo này sẽ đánh nhau mãi với mèo Sarah mất. Nó là một chiến binh bẩm sinh. Nó đã chiến một trận ra trò với mèo nhà ông trùm thuốc lá tối qua và đánh bại cậu chàng tơi bời không còn manh giáp.”
“Chúng ta phải tống khứ nó đi thôi,” Anne đồng ý, lườm lườm nhìn sang chủ đề của cuộc thảo luận, chú mèo vẫn đang nằm trên tấm thảm trải trước lò sưởi, rên gừ gừ với vẻ ngoan ngoãn chẳng kém cừu non. “Nhưng câu hỏi là - làm thế nào? Bốn phụ nữ chân yếu tay mềm làm sao có thể tống khứ một con mèo kiên quyết không chịu bị tống khứ?”
“Chúng mình phải đánh thuốc mê nó,” Phil nhanh nhảu đề nghị. “Đó là cách nhân đạo nhất.”
“Ai trong chúng ta biết cách đánh thuốc mê một con mèo nào?” Anne rầu rĩ hỏi.
“Tớ biết, cưng à. Đấy là một trong những thành tựu ít ỏi, đếm được trên đầu ngón tay của tớ. Tớ đã xử lý vài ba con như thế ở nhà rồi. Cậu dựng con mèo dậy vào buổi sáng và cho nó ăn một bữa ngon lành. Sau đó cậu lấy một túi vải bạt cũ - có một cái ở hiên sau đó - đặt con mèo lên rồi úp một cái hộp gỗ vào. Sau đó lấy một chai thuốc mê, mở nắp rồi chuồi vào dưới mép hộp. Đặt một vật gì đó thật nặng lên trên hộp và để nguyên đó tới tối. Con mèo sẽ chết, cuộn người yên ả như đang ngủ. Không đau đớn - không chống cự.”
“Nghe có vẻ dễ dàng đấy,” Anne ngờ vực nhận xét.
“Dễ thật mà. Cứ để tớ lo. Tớ sẽ xử lý đâu vào đó,” Phil an ủi.
Thế là thuốc mê được mua về, và sáng hôm sau Mốc bị dụ dỗ đến địa điểm thi hành án. Nó ăn sáng, liếm mép rồi nhảy vào lòng Anne. Trái tim Anne chợt ngần ngừ. Sinh vật đáng thương này yêu cô - tin cậy cô. Làm sao cô có thể tham gia hành động hủy diệt này được chứ?
“Đây này, giữ lấy nó,” cô vội vàng gọi Phil. “Tớ cảm thấy mình như một tay giết người ấy.”
“Nó sẽ không đau đớn gì đâu, cậu biết mà,” Phil an ủi, nhưng Anne đã bỏ chạy.
Hành động định mệnh được thực hiện ở hiên sau.
Không ai dám lại gần nơi ấy trong ngày hôm đó. Nhưng lúc chạng vạng Phil tuyên bố phải chôn con mèo mốc đi.
“Pris và Stella ra đào mộ trong vườn,” Phil ra lệnh, “và Anne phải cùng nhấc cái hộp lên với tớ. Đó là việc tớ ghét nhất.”
Hai kẻ đồng mưu miễn cưỡng rón rén đi ra hiên sau. Phil cẩn thận nâng tảng đá đặt trên hộp. Đột nhiên, một tiếng meo yếu ớt nhưng rõ ràng không thể lầm lẫn được vang lên bên dưới cái hộp.
“Nó... nó chưa chết,” Anne thở hắt ra rồi thẫn thờ ngồi xuống bậc cửa nhà bếp.
“Nó phải chết rồi mới đúng,” Phil thốt lên không sao tin nổi.
Một tiếng meo khe khẽ nữa chứng tỏ nó vẫn chưa chết. Hai cô gái nhìn nhau chằm chằm.
“Chúng mình phải làm gì bây giờ?” Anne hỏi.
“Sao các cậu còn chưa ra thế?” Stella hỏi, xuất hiện nơi ngưỡng cửa. “Chúng tớ đã đào xong mộ rồi. ‘Im lặng, im lặng thôi, im lặng mãi?’” cô tinh nghịch đọc[13].
“‘Ôi, không, âm thanh của người đã khuất. Vọng lại tựa tiếng nước chảy nơi xa,’” Anne lập tức đọc tiếp hai câu thơ tiếp theo, long trọng chỉ vào cái hộp.
[13]. Trích bài “Đảo Hy Lạp” của Byron.
Tiếng cười giòn tan phá vỡ bầu không khí căng thẳng.
“Chúng ta phải để yên nó ở đây cho đến sáng thôi,”
Phil đặt tảng đá vào vị trí cũ. “Nó không kêu suốt năm phút rồi. Có lẽ tiếng meo meo bọn mình nghe hồi nãy là tiếng rên hấp hối. Hay có khi đó chỉ là sản phẩm của trí tưởng tượng vì lương tâm trĩu nặng cắn rứt của chúng ta.”
Nhưng khi hộp được nhấc lên vào buổi sáng hôm sau, Mốc vui sướng nhảy vọt ngay lên vai Anne và bắt đầu liếm mặt cô vẻ trìu mến. Chưa có con mèo nào tràn đầy sức sống như nó.
“Đây này, một khe hở trên hộp,” Phil rên rỉ. “Hôm qua tớ không nhìn thấy. Đó là lý do tại sao nó vẫn chưa chết. Bây giờ chúng ta phải làm lại tất cả từ đầu.”
“Không, không cần,” Anne đột ngột tuyên bố. “Con Mốc sẽ không bị giết một lần nào nữa. Nó là mèo của tớ - và các cậu ráng mà chấp nhận sự thật ấy đi.”
“Ôi, được rồi, cậu tự dàn xếp với dì Jimsie và mèo Sarah đi nhé,” Stella phủi tay chối bỏ trách nhiệm.
Từ hôm đó Mốc trở thành thành viên của gia đình. Nó ngủ suốt đêm trên tấm thảm chùi chân ngoài hiên sau và tự săn bắt kiếm ăn. Lúc dì Jamesina đến nơi, nó đã mập ú, lông bóng mượt và bề ngoài khá vừa mắt. Nhưng, như con mèo của Kipling, nó thuộc dạng thích “lang thang một mình”. Nó giương vuốt chống lại mọi con mèo khác, và những con mèo khác cũng chẳng tha cho nó. Từng tên một, nó đè bẹp hết đám mèo quý tộc trên đại lộ Spofford. Đối với con người, nó chỉ yêu Anne và một mình Anne mà thôi. Không ai khác dám vuốt ve nó. Những ai dám động vào nó sẽ được đón tiếp bằng cú khạc nhổ giận dữ cùng tiếng gừ gừ nghe khá giống như những lời chửi thề tục tằn.
“Điệu bộ chảnh chọe của con mèo đó thật không sao chịu đựng nổi,” Stella tuyên bố.
“Nó là một chú mèo già dễ mến, thật mà,” Anne khăng khăng biện luận, tay ôm ấp thú cưng của mình.
“Chao ôi, tớ chẳng biết nó và mèo Sarah làm sao sống chung được nữa đây,” Stella bi quan. “Đám mèo xâu xé nhau ngoài vườn ban đêm đã khủng khiếp lắm rồi. Nhưng nếu chuyện ấy xảy ra ngay trong phòng khách thì không thể tưởng tượng nổi.”
Dì Jamesina đã đến nơi đúng hẹn. Anne, Priscilla và Phil trước nay chờ đón dì với tâm trạng khá ngờ vực, nhưng khi dì Jamesina đã lên ngồi trên ghế bập bênh trước lò sưởi, họ gần như khom lưng ngưỡng mộ dì.
Dì Jamesina là một bà già thấp bé có khuôn mặt nhỏ và cằm hơi nhọn, đôi mắt to xanh lơ dịu dàng lấp lánh vẻ trẻ trung vĩnh cửu và tràn đầy hy vọng như một cô gái. Dì có đôi má hồng hào và tóc trắng phau đánh bồng thành những lọn xinh xinh bên trên lỗ tai.
“Kiểu này lỗi thời lắm rồi,” dì vừa nói vừa thoăn thoắt đan thứ gì đó trông thanh thoát và phơn phớt hồng như áng mây chiều. “Nhưng ta vốn lạc hậu thế đấy. Quần áo của ta cũng thế, và lý luận tương tự, những suy nghĩ của ta cũng theo nếp xưa nốt. Ta không dám nói nếp xưa tốt hơn lối nay, các cháu nhớ rõ nhé. Thực ra, ta dám chắc nếp xưa tệ hơn khá nhiều. Nhưng thứ gì xưa cũng dễ chịu và dễ dàng hơn. Giày mới đẹp hơn giày cũ thật, nhưng chẳng thoải mái bằng. Ta đủ già để cho phép mình tận hưởng quyền suy nghĩ theo nếp xưa và mang giày cũ. Ở đây, ta muốn mọi chuyện diễn ra thật thoải mái. Ta biết các cháu nghĩ ta sẽ dõi theo các cháu và bắt các cháu cư xử cho đúng đắn, nhưng ta chẳng làm vậy đâu. Các cháu lớn rồi tự biết nên hành xử thế nào khi cần. Vì vậy, riêng đối với ta,” dì Jamesina kết luận với cái nheo mắt trẻ trung, “các cháu thích quậy phá thế nào cũng được.”
“Ôi, có ai tách mấy con mèo rời nhau không?” Stella rùng mình van vỉ.
Dì Jamesina không những mang theo mèo Sarah mà còn thêm Joseph nữa. Dì giải thích rằng Joseph là con mèo cũ của người bạn thân đã chuyển đến sống tại Vancouver.
“Bà ấy không thể dắt Joseph theo được nên năn nỉ ta nuôi nó. Ta thực sự không thể từ chối được. Nó là một con mèo đáng yêu - ý là tính tình nó khá là đáng yêu. Bà ấy gọi nó là Joseph vì lông của nó đủ màu sắc cả.”
Hẳn là thế rồi. Như Stella khinh khỉnh nhận xét, Joseph trông giống như một nùi giẻ rách di động. Không thể nói chính xác lông của nó màu chính là gì. Chân nó màu trắng đốm đen. Lưng nó xám với một mảng màu vàng bên hông bên này và một mảng đen ở hông bên kia. Đuôi nó vàng chóp xám. Một tai đen, một tai vàng. Khoang đen ngay trên một bên mắt khiến nó trông có vẻ ngông nghênh đáng sợ. Trên thực tế, nó ngoan ngoãn và chẳng làm gì đáng chê trách, tính tình hòa nhã dễ gần. Nhưng Joseph đúng là một bông huệ trên đồng, dẫu chỉ là về một mặt này: Nó chẳng kéo sợi cũng chẳng dệt vải mà cũng không bắt chuột. Nhưng ngay cả vua Salomon dù vinh hoa tột bậc cũng không được ngủ trên nệm êm, được ăn no nê thức ăn ngon lành bằng nó.
Joseph và mèo Sarah được giao tới trên chuyến tàu tốc hành trong hai thùng riêng biệt. Sau khi được đưa ra ngoài và cho ăn uống no đủ, Joseph chọn tấm nệm và góc phòng vừa ý, còn mèo Sarah uy nghiêm hạ mình nằm xuống trước lò sưởi và bắt đầu liếm láp. Nó là một nàng mèo xám trắng khá lớn và béo tốt, điệu bộ cao quý phi thường không hề bị ảnh hưởng bởi nguồn gốc bình dân của mình. Người thợ giặt của dì Jamesina đã tặng nó cho dì.
“Bà ấy tên là Sarah, do đó, chồng ta luôn luôn gọi nó là mèo Sarah,” dì Jamesina giải thích. “Nó tám tuổi rồi, và bắt chuột rất giỏi. Đừng lo, Stella ạ. Mèo Sarah chẳng bao giờ đánh nhau và Joseph hiếm khi nào ra tay lắm.”
“Ở đây chúng sẽ phải chiến đấu để tự vệ thôi,” Stella nói.
Tại đúng thời điểm này Mốc xuất hiện. Nó tung tăng vui vẻ đi đến giữa phòng cho đến khi nhìn thấy những kẻ xâm nhập. Thế là nó dừng phắt lại; đuôi xù ra cho đến khi to gấp ba cái đuôi bình thường. Lông trên lưng dựng đứng vẻ chống đối; Mốc thấp đầu rít lên một tiếng khủng khiếp đầy hận thù và thách thức, rồi nhảy chồm lên người mèo Sarah.
Con vật oai vệ kia dừng liếm láp và nhìn Mốc vẻ tò mò. Cô nàng vung vuốt sắc khinh thường quét ngang cú tấn công của nó. Mốc bất lực lăn cù mèo trên tấm thảm; nó đứng dậy đầy ngạc nhiên. Loại mèo gì dám bạt tai mình như vậy chứ? Nó ngần ngừ quan sát mèo Sarah. Đánh hay không đánh? Mèo Sarah cố ý quay lưng về phía nó và tiếp tục công việc làm vệ sinh của mình. Mốc quyết định không đánh. Và nó chẳng bao giờ ra tay nữa. Từ đó trở đi mèo Sarah là sếp sòng. Mốc không bao giờ động chạm vào cô nàng nữa.
Nhưng Joseph vô tình ngồi dậy ngáp một cái. Mốc, nung nấu quyết tâm rửa sạch mối nhục, đột ngột tấn công nó. Joseph tính tình tuy hiền hòa nhưng khi cần vẫn có thể chiến đấu và chiến đấu khá ngon lành. Kết quả là một loạt trận đấu ngang tay diễn ra. Mỗi ngày Mốc và Joseph hễ gặp là bắt đầu lao vào xâu xé. Anne bênh Mốc và ghét Joseph ghê gớm. Stella hoàn toàn tuyệt vọng. Nhưng dì Jamesina chỉ cười.
“Cứ để chúng đánh nhau cho đã đi,” dì nói đầy vẻ bao dung. “Chẳng bao lâu chúng sẽ huề nhau thôi. Joseph cần tập thể dục một chút - nó quá béo rồi. Và Mốc phải học bài học rằng nó không phải là con mèo duy nhất trên thế giới.”
Cuối cùng Joseph và Mốc chấp nhận thực tế và từ kẻ thù truyền kiếp đã trở thành bạn bè truyền kiếp. Chúng ngủ chung trên cùng một cái nệm, chân quàng lấy nhau và nghiêm túc liếm láp cho nhau.
“Chúng mình cũng dần quen việc sống chung với nhau,” Phil nói. “Còn tớ đã học được cách rửa chén đĩa và quét sàn.”
“Nhưng cậu không cần phải cố gắng thuyết phục bọn tớ rằng cậu có thể đánh thuốc mê một con mèo,” Anne cười.
“Tất cả là tại cái khe hở mà,” Phil phản đối.
“Cái khe hở đó tồn tại thế là đúng,” dì Jamesina nói với giọng khá nghiêm túc. “Phải trấn nước lũ mèo con, ta đồng ý điều đó, nếu không thì trái đất sẽ chật chỗ mất. Nhưng không nên giết chết bất cứ con mèo trưởng thành đàng hoàng nào, trừ khi nó ăn trộm trứng.”
“Dì sẽ không cho rằng Mốc đàng hoàng đâu nếu dì nhìn thấy nó lúc mới đến,” Stella nói. “Nó trông y hệt như lão Nick[14]vậy.”
[14]. Tiếng lóng chỉ quỷ Satan.
“Ta không cho là lão Nick quá sức xấu xí,” dì Jamesina trầm ngâm. “Nếu quả thế thật thì ông ta đâu có gây nhiều chuyện rắc rối đến thế. Ta luôn luôn cho rằng ông ta là một quý ông khá đẹp trai.”
Tập 3 - Anne Tóc Đỏ Ở Đảo Hoàng Tử Edward Tập 3 - Anne Tóc Đỏ Ở Đảo Hoàng Tử Edward - Lucy Maud Montgomery Tập 3 - Anne Tóc Đỏ Ở Đảo Hoàng Tử Edward