Những ai dám làm, sẽ thắng.

Winston Churchill

 
 
 
 
 
Thể loại: Tuổi Học Trò
Dịch giả: Hồ Thanh Ái
Biên tập: Lê Huy Vũ
Upload bìa: Lê Huy Vũ
Số chương: 41
Phí download: 5 gạo
Nhóm đọc/download: 0 / 1
Số lần đọc/download: 6271 / 93
Cập nhật: 2017-04-18 13:32:36 +0700
Link download: epubePub   KindleMobi/PRC   PDF A4A4   PDF A5A5   PDF A6A6   - xem thông tin ebook
 
 
 
 
Chương 6 - Trong Công Viên
ác cô nàng định làm gì hôm nay nào?” Phillippa hỏi khi ló đầu vào phòng Anne vào một buổi chiều thứ Bảy.
“Bọn tớ định đi dạo ngoài công viên,” Anne đáp. “Lẽ ra tớ phải ở nhà khâu cho xong cái áo. Nhưng tớ chẳng thể may vá gì vào một ngày thế này. Có thứ gì trong không khí đã chui vào máu tớ, khiến cho linh hồn tớ lâng lâng. Tay tớ cứ giật giật và thế là đường may bị méo. Thế là, đi công viên thăm hàng thông thôi.”
“‘Bọn tớ’ có bao gồm ai khác ngoài cậu và Priscilla không?”
“Có chứ, có Gilbert và Charlie, và chúng tớ rất vui nếu cậu tham gia.”
“Nhưng,” Philippa u sầu đáp, “nếu tớ đi tớ sẽ trở thành kỳ đà cản mũi, mà Philippa Gordon chưa từng làm kỳ đà bao giờ.”
“À, phải thử một lần mới biết. Đi với bọn tớ đi, rồi cậu sẽ thông cảm với những linh hồn tội nghiệp cứ phải làm kỳ đà cản mũi mãi. Mà đám nạn nhân của cậu đâu rồi?”
“Ôi, tớ chán tất cả bọn họ và chẳng thể chịu nổi bất kỳ ai trong ngày hôm nay. Hơn nữa, tớ đang cảm thấy chán đời tí xíu xiu, như màu trời xanh nhờ nhờ ấy. Không đến nỗi đen tối lắm đâu. Tuần trước tớ viết thư cho Alec và Alonzo. Tớ bỏ thư vào phong bì, ghi tên nhưng chưa dán lại. Chiều hôm ấy, có một chuyện tức cười diễn ra. Alec sẽ thấy tức cười, nhưng Alonzo thì không đâu. Tớ đang vội, thế là tớ lôi lá thư gửi Alec ra - ít nhất là tớ nghĩ thế - và viết vội một hàng tái bút. Sau đó tớ gửi hai lá thư đi. Tớ nhận được thư trả lời từ Alonzo sáng nay. Các cô gái ơi, tớ đã viết dòng tái bút vào thư của anh chàng, và anh chàng tức điên lên. Đương nhiên là anh chàng sẽ qua cơn thôi - tớ cũng cóc thèm để ý nếu anh chàng còn giữ cơn tức giận - nhưng một ngày của tớ thế là xong. Thế là tớ nghĩ tớ sẽ đi tìm các cậu để vui vẻ hơn một chút. Mùa bóng bắt đầu là tớ chẳng có buổi chiều thứ Bảy rảnh rỗi nào nữa đâu. Tớ mê đá bóng lắm. Tớ có cái mũ và áo len tuyệt vời kẻ sọc các màu Redmond để mặc tới các trận đấu. Đương nhiên, nhìn xa thì tớ trông giống như là cái trụ đèn ba màu ở hiệu cắt tóc ấy. Cậu có biết là Gilbert của cậu đã được bầu là đội trưởng đội bóng năm nhất không?”
“Có, cậu ấy kể cho bọn tớ nghe chiều qua,” Priscilla kể khi thấy Anne giận đến mức không trả lời nổi. “Cậu ấy và Charlie ghé chơi. Bọn tớ biết là họ sẽ tới, nên đã khổ sở cất hết đám đệm ghế của cô Ada ra khỏi tầm nhìn hay tầm tay. Cái đệm thêu nổi cầu kỳ ấy, tớ dúi nó xuống sàn trong góc đằng sau cái ghế. Tớ nghĩ nó sẽ sống an toàn ở đó. Nhưng cậu có tin nổi không? Charlie Sloane tiến tới cái ghế đó, để ý thấy cái đệm đằng sau, nghiêm trang kéo nó lên và ngồi lên đó suốt cả buổi chiều. Sau đó nhìn nó thảm đến chết được! Hôm nay, cô Ada đáng thương hỏi tớ, vẫn mỉm cười nhưng nụ cười sao mà đầy trách móc, rằng vì sao tớ lại để người ta ngồi lên nó. Tớ đáp rằng tớ không cho ai làm thế cả, chỉ là ý trời kết hợp với tính nhà Sloane mà thôi, và tớ thì làm sao chống lại cặp đôi ấy nổi.”
“Mấy cái đệm ghế của cô Ada bắt đầu làm tớ phát khùng rồi đấy,” Anne nói. “Tuần trước, cô ấy làm xong hai cái mới, đường thêu chằng chịt đến mức chẳng còn thêu thêm chỗ nào nữa. Không còn chỗ nào thiếu đệm nữa, cô ấy dựng sát vào tường trên chiếu nghỉ cầu thang. Hở chút là chúng lại đổ xuống, và cứ đi lên xuống cầu thang trong bóng tối là bọn tớ lại bị vấp. Chủ nhật vừa rồi, khi tiến sĩ Davis cầu nguyện cho những người phải đối mặt với những hiểm nguy ngoài biển cả, tớ thầm thêm vào, ‘và cho những kẻ sống trong những ngôi nhà mà đệm ghế không những được yêu mến mà còn được tôn thờ!’ Này, bọn tớ sẵn sàng rồi, và tớ đã thấy bọn con trai đang đi vòng qua Cựu St. John. Cậu có gia nhập không, Phil?”
“Đi chứ, nếu tớ được đi chung với Priscilla và Charlie. Làm kỳ đà cản mũi cho cặp này thì cũng chịu đựng được. Chàng Gilbert của cậu dễ thương lắm, Anne ạ, nhưng vì sao chàng lúc nào cũng đi chung với cái tên mắt ốc nhồi kia thế?”
Anne cứng người. Cô không ưa Charlie Sloane cho lắm, nhưng anh ta là dân Avonlea, cho nên không có người ngoài nào được quyền cười nhạo anh ta cả.
“Charlie và Gilbert là bạn từ nhỏ,” cô lạnh lùng đáp. “Charlie là một cậu trai dễ thương. Cậu ấy đâu có lỗi vì đôi mắt của mình.”
“Đừng có nói thế! Cậu ta có lỗi chứ! Kiếp trước chắc cậu ta phải phạm tội gì ghê gớm lắm nên kiếp này mới phải mang cặp mắt như thế. Chiều nay Pris và tớ sẽ đùa cậu ta ra trò. Bọn tớ sẽ trêu chọc cậu ta thẳng mặt mà cậu ta chẳng bao giờ hiểu.”
Đương nhiên, “hai cô nàng P bị bỏ rơi”, như Anne hay gọi, đã tiến hành ý định đáng yêu của mình. Nhưng may mắn thay Sloane chẳng biết tí gì, anh ta nghĩ thật oách khi được đi chung với hai nữ sinh như thế, nhất là Philippa Gordon, hoa khôi của lớp. Nhất định Anne sẽ ấn tượng lắm đây. Cô ấy sẽ thấy là cũng có người đánh giá đúng giá trị của anh ta.
Gilbert và Anne la cà đằng sau, tận hưởng vẻ đẹp tĩnh lặng buổi chiều thu dưới hàng thông trong công viên, trên con đường quanh co vòng qua bến cảng.
“Nơi đây tĩnh lặng như một lời cầu nguyện vậy, phải không?” Anne ngẩng mặt lên bầu trời đầy nắng. “Tớ yêu những hàng thông quá! Chúng cắm rễ thật sâu, xuyên qua những truyền thuyết lãng mạn của các thời đại. Thỉnh thoảng tới đây trò chuyện với chúng thì thật dễ chịu. Lúc nào tớ cũng cảm thấy rất hạnh phúc ở nơi này.”
“‘Và dãy núi cô đơn bỗng chìm đắm. Như bùa mê thuốc say. Lo âu rơi khỏi họ như muôn lá. Gió giũ hàng thông bay.’”[10]
[10]. “Dickens ở trại”, thơ Bret Harte, kể về những người thợ mỏ nghe đọc Dickens bên lửa trại.
Gilbert ngâm nga.
“Chúng khiến cho những tham vọng của chúng ta trông thật nhỏ nhen, phải không Anne?”
“Tớ nghĩ, nếu có chuyện gì thật buồn xảy đến với tớ, tớ sẽ tìm an ủi ở hàng thông,” Anne mơ màng.
“Tớ mong là chẳng có chuyện gì buồn xảy ra với cậu cả, Anne à,” Gilbert không thấy có mối liên hệ nào giữa nỗi buồn và cô nàng sống động vui vẻ bên cạnh anh, anh không biết rằng người biết bay lên đỉnh cao nhất thì cũng có thể lao xuống vực sâu nhất, và những kẻ tột cùng yêu mến cuộc đời cũng là những kẻ đau khổ nhiều nhất.
“Nhưng phải có thôi, một ngày nào đó,” Anne lẩm bẩm. “Cuộc đời giờ chẳng khác gì ly rượu nồng kề sát môi tớ. Nhưng luôn có chút cay đắng trong mỗi ly rượu. Tớ sẽ nếm trải một ngày nào đó. Ôi, tớ hy vọng mình sẽ đủ mạnh mẽ để đón nhận. Và tớ mong đó sẽ không phải là do lỗi của tớ. Cậu có nhớ tối Chủ nhật tuần trước tiến sĩ Davis đã nói gì không, rằng những buồn thương mà Chúa gửi tới mang theo cả sự an ủi và sức mạnh, trong khi những buồn thương chúng ta tự chuốc lấy vì ngu ngốc hay xấu xa mới là khó chịu đựng nhất? Nhưng chúng ta không nên nhắc đến những chuyện buồn đau vào một buổi chiều thế này. Nó chỉ dành riêng cho niềm vui cuộc sống tuyệt đối thôi, phải không?”
“Nếu có thể, tớ sẽ giữ cho cuộc đời cậu chỉ tràn đầy niềm vui và hạnh phúc thôi, Anne à,” Gilbert nói với một giọng “cảnh báo nguy hiểm”.
“Vậy thì cậu thật ngốc,” Anne vội cắt ngang. “Tớ chắc chắn là chẳng có cuộc đời nào hoàn chỉnh nếu không có vài trắc trở và buồn đau, mặc dù tớ cho rằng chúng ta chỉ nói thế khi đang hạnh phúc mà thôi. Đi nào, mấy người kia đã đi đến chòi nghỉ mát và đang vẫy gọi chúng ta kìa.”
Họ ngồi xuống bên trong chòi nghỉ mát ngắm cảnh hoàng hôn mùa thu đỏ thẫm màu lửa xen lẫn ánh vàng lấp lánh. Bên trái họ là Kingsport, mái nhà và tháp nhọn lờ mờ dưới lớp sương tím. Bên phải là cảng biển, ửng màu hồng pha đồng trải dài đến tận nơi mặt trời lặn. Trước mặt họ, mặt nước lấp lánh màu xám bạc mịn như nhung, xa hơn nữa, đảo William nhẵn nhụi nhô ra khỏi làn sương, chẳng khác gì chú chó bun cường tráng đang canh gác cho thị trấn. Ánh đèn hải đăng lóe sáng trong làn sương như ngôi sao báo bão, đối ứng với một ngôi sao khác ở tít tận chân trời.
“Cậu có bao giờ nhìn thấy một nơi nào nhìn có vẻ vững vàng như thế chưa?” Philippa hỏi. “Tớ không hẳn là muốn sở hữu đảo William, nhưng tớ tin chắc dù tớ có muốn thì cũng chẳng được. Nhìn chàng lính canh trên chóp pháo đài kìa, ngay bên cạnh ngọn cờ đấy. Trông cứ như là bước ra từ một truyền thuyết Trung cổ ấy nhỉ?”
“Nói đến truyền thuyết,” Priscilla thốt lên, “bọn tớ đang tìm ít thạch nam, nhưng đương nhiên là không tìm được rồi. Tớ nghĩ là quá mùa rồi.”
“Thạch nam!” Anne kêu lên. “Thạch nam làm gì có mọc ở châu Mỹ?”
“Trên cả lục địa chỉ có hai chỗ mà thôi,” Phil đáp, “một ở ngay trong công viên này, và một ở chỗ nào đó tận Nova Scotia mà tớ quên mất tiêu rồi. Một năm nọ Trung đoàn cao nguyên nổi danh Black Watch đến đây cắm trại, và khi những người lính giũ rơm khỏi giường vào mùa xuân, vài hạt thạch nam đã nảy mầm.”
“Ôi, tuyệt quá!” Anne kêu lên sung sướng.
“Chúng ta vòng qua đại lộ Spofford về nhà đi,” Gilbert đề nghị. “Chúng ta sẽ tha hồ ngắm ‘những ngôi nhà đẹp đẽ nơi các nhà quý tộc giàu có cư ngụ.’ Đại lộ Spofford là con đường dân cư đẹp nhất ở Kingsport này đấy. Không ai xây nổi căn nhà nào ở đây nếu không phải là triệu phú đâu.”
“Ôi, đi đi,” Phil nói. “Có một chốn nhỏ nhắn đáng yêu đến chết được tớ muốn cho cậu xem, Anne ạ. Chủ của nó không phải triệu phú đâu. Nó nằm ngay sau chỗ cậu rời công viên đấy, chắc mọc lên ở đó từ thuở đại lộ Spofford vẫn còn là một con đường làng. Nó mọc lên thật đấy, không phải được xây nên đâu! Tớ chẳng ưa những căn nhà khác trên đại lộ. Nhìn chúng mới tinh tươm và trông như hàng mẫu ấy. Nhưng chốn nhỏ nhắn này là một giấc mơ, và tên của nó nữa chứ, nhưng đợi chút chính mắt cậu sẽ thấy.”
Họ nhìn thấy nó khi leo từ công viên lên ngọn đồi thông xanh viền quanh. Ngay trên đỉnh, nơi đại lộ Spofford thu nhỏ thành một con đường bình thường, một căn nhà khung trắng mái thấp nằm dưới vòng tay che chở của cụm thông ở hai bên. Dây leo vàng đỏ phủ kín căn nhà, lấp ló đằng sau là những ô cửa sổ với cửa chớp sơn xanh. Đằng trước là một khu vườn bé tí teo lọt giữa bức tường đá thấp. Dẫu trời đã vào tháng Mười, khu vườn vẫn tươi thắm với những bông hoa và cây bụi kiểu xưa thanh tao đáng yêu: táo gai, ngải bụi, cỏ roi chanh, cải gió, thuốc lá cảnh, vạn thọ và cúc đại đóa. Một bức tường gạch xếp chữ chi dẫn từ cổng vào tận hiên trước. Nơi này cứ như là được bứng rễ từ một làng quê xa xôi nào đó đến đây, nhưng ở ngôi nhà vẫn có nét đặc biệt khiến cho láng giềng gần nhất, tòa lâu đài to đùng với bãi cỏ viền quanh của một ông vua thuốc lá, nhìn cực kỳ thô lỗ, lòe loẹt và thiếu trau chuốt. Đúng như Phil nói, đó là sự khác biệt giữa tự nhiên và nhân tạo.
“Đây là nơi ở tuyệt vời nhất mà tớ từng thấy,” Anne vui sướng thốt lên. “Nó khiến tim tớ lại quặn lên rất kỳ cục và hân hoan, cứ như hồi xưa ấy. Nó trông còn thân thương và đặc biệt hơn cả căn nhà đá của cô Lavendar nữa kìa.”
“Tớ muốn cậu đặc biệt chú ý đến tên của nó,” Phil lên tiếng. “Nhìn kìa, chữ màu trắng, xung quanh cổng tò vò bên trên cửa. ‘Nhà Patty’. Có chết người không chứ? Nhất là trên đại lộ toàn Đồi Thông, Trại Tuyết Tùng và Khoảnh Du? ‘Nhà Patty’, thế cơ chứ! Tớ nhìn mà mê tít mắt.”
“Cậu có biết Patty là ai không?” Priscilla hỏi.
“Patty Spofford là tên của quý bà chủ nhà, tớ hỏi rồi. Bà ấy sống ở đây với cô cháu gái, họ đã ở đây cả trăm năm rồi, lâu cỡ đó đó, chỉ xê xảy chút ít thôi, nhưng có lẽ là thua vài ba năm, Anne ạ. Cường điệu chỉ là một khoảnh khắc thăng hoa thơ ca thôi. Tớ biết đám nhà giàu đã nhiều lần tìm cách mua khu đất này, cậu biết đấy, giờ thì nó đắt bằng cả một gia tài, nhưng ‘Patty’ cương quyết không bán với bất cứ giá nào. Và nó không có sân sau mà thay vào đó là một khu vườn táo ở đằng sau nhà, lát nữa đi qua cậu sẽ thấy, một vườn táo thực thụ ngay trên đại lộ Spofford!”
“Tối nay tớ sẽ nằm mơ thấy ‘Nhà Patty’,” Anne nói. “Ôi, tớ cảm thấy như tớ thuộc về nơi này ấy. Tớ tự hỏi, không biết chúng ta có may mắn được ngó qua một lượt bên trong không.”
“Khó đấy,” Priscilla đáp.
Anne mỉm cười bí ẩn.
“Ừ, khó lắm. Nhưng tớ tin là sẽ có dịp thôi. Tớ có một cảm giác kỳ lạ ớn xương sống, cậu có thể gọi đó là linh cảm, nếu thích, rằng ‘Nhà Patty’ và tớ sẽ trở thành bạn bè với nhau.”
Tập 3 - Anne Tóc Đỏ Ở Đảo Hoàng Tử Edward Tập 3 - Anne Tóc Đỏ Ở Đảo Hoàng Tử Edward - Lucy Maud Montgomery Tập 3 - Anne Tóc Đỏ Ở Đảo Hoàng Tử Edward