A blessed companion is a book, - a book that, fitly chosen, is a lifelong friend,... a book that, at a touch, pours its heart into our own.

Douglas Jerrold

 
 
 
 
 
Thể loại: Tuổi Học Trò
Dịch giả: Hồ Thanh Ái
Biên tập: Lê Huy Vũ
Upload bìa: Lê Huy Vũ
Số chương: 41
Phí download: 5 gạo
Nhóm đọc/download: 0 / 1
Số lần đọc/download: 6271 / 92
Cập nhật: 2017-04-18 13:32:36 +0700
Link download: epubePub   KindleMobi/PRC   PDF A4A4   PDF A5A5   PDF A6A6   - xem thông tin ebook
 
 
 
 
Chương 1 - Bóng Dáng Của Sự Đổi Thay
ụ mùa kết thúc, hạ đã trôi đi,” Anne Shirley lẩm nhẩm đọc một câu[1], mơ màng nhìn ra cánh đồng trơ gốc rạ. Cô và Diana Barry vừa hái táo trong vườn Chái Nhà Xanh, nhưng giờ thì họ đang nghỉ ngơi lấy lại sức ở một góc vườn đượm nắng, nơi từng cụm bông kế lững lờ trôi trên cánh gió còn đượm hương mùa hạ ngọt ngào, thấm đẫm mùi dương xỉ trong rừng Ma Ám.
[1]. Cựu ước, sách Jeremiah 8:20.
Nhưng cảnh vật xung quanh họ đâu đâu cũng đậm không khí mùa thu. Biển gầm gừ ầm ì xa xa, những cánh đồng trơ trọi héo úa, phủ gốc rạ vàng rực, hoa cúc tây tím mơ màng nở rộ nơi vùng trũng có dòng suối chạy qua phía dưới Chái Nhà Xanh và hồ Lấp Lánh thì xanh, xanh, xanh biếc, không phải màu xanh biến ảo của mùa xuân, không phải màu xanh ngăn ngắt của mùa hạ, mà là màu xanh trong trẻo, thanh thản và trầm lặng, cứ như mặt nước đã qua tuổi bồng bột, nay lắng xuống với một sự tĩnh lặng chẳng bị giấc mơ bốc đồng nào phá vỡ.
“Mùa hè vừa qua thật đẹp,” Diana mỉm cười xoay xoay chiếc nhẫn mới tinh nơi tay trái. “Và đám cưới của cô Lavendar chính là đỉnh sự kiện tuyệt vời nhất. Tớ nghĩ ông bà Irving giờ đang ở bờ Thái Bình Dương rồi.”
“Tớ thấy họ đi lâu cứ như đi vòng quanh cả thế giới ấy,” Anne thở dài. “Tớ không tin được là họ chỉ mới cưới có một tuần thôi. Mọi thứ đều thay đổi hết cả. Cô Lavendar, ông bà Allan đều đã rời đi, ôi, ngôi nhà mục sư trông cô đơn biết bao khi cửa chớp đóng kín cả! Tối qua tớ đi ngang qua và cảm thấy cứ như mọi người trong đó đã chết hết rồi ấy.”
“Chúng ta sẽ chẳng bao giờ có được vị mục sư nào tốt như ông Allan nữa,” Diana bi quan khẳng định như đinh đóng cột. “Tớ chắc mùa đông này sẽ có đủ kiểu mục sư thử việc ghé qua, và phân nửa số ngày Chủ nhật sẽ chẳng có buổi lễ nào cho coi. Mà cậu với Gilbert lại đi xa nữa chứ, sẽ buồn chán đến chết mất thôi.”
“Fred sẽ luôn có mặt mà,” Anne bóng gió một cách láu lỉnh.
“Khi nào thì bà Lynde dọn vào?” Diana hỏi cứ như chẳng hề nghe thấy lời bóng gió của Anne.
“Ngày mai. Tớ mừng là bà ấy sẽ tới, nhưng sẽ lại thêm một sự thay đổi nữa. Hôm qua bác Marilla và tớ đã dọn hết mọi thứ ra khỏi phòng dành cho khách. Cậu biết tớ ghét việc đó đến nhường nào không? Đương nhiên như thế thật ngốc nghếch, nhưng cứ như là bác cháu tớ phải làm chuyện gì đó tội lỗi lắm vậy. Cái phòng dành cho khách cũ kỹ ấy lúc nào cũng giống như một nơi thiêng liêng đối với tớ. Khi còn nhỏ, tớ nghĩ đó là căn phòng tuyệt vời nhất trên thế giới. Cậu nhớ tớ đã khao khát muốn ngủ trên một chiếc giường dành cho khách đến phát rồ lên không, nhưng đương nhiên không phải là trong căn phòng ở Chái Nhà Xanh. Ồ, không, trong đó thì không bao giờ! Sẽ rất khủng khiếp, tớ sẽ không tài nào chợp mắt nổi vì kính sợ. Tớ chẳng bao giờ bước qua căn phòng ấy mỗi khi bác Marilla sai tớ vào có việc, không, tớ lúc nào cũng rón rén và nín thở đi từng bước, cứ như là đang ở trong nhà thờ ấy, và tớ cảm thấy nhẹ cả người khi ra khỏi căn phòng đó. Có ảnh chân dung George Whitefield và công tước Wellington treo trên tường ở hai bên tấm gương, họ nghiêm khắc cau mày nhìn tớ từ lúc bước vào đến lúc bước ra, nhất là nếu tớ dám nhìn lén vào gương, đó là cái gương duy nhất trong nhà không làm mặt tớ bị vẹo đi một tẹo. Tớ lúc nào cũng tò mò không biết bác Marilla lấy đâu ra can đảm để mà dọn dẹp căn phòng ấy nữa. Giờ thì căn phòng không những được lau chùi mà còn bị dọn sạch sẽ rồi. George Whitefield và ngài công tước đã bị đày lên treo ở hành lang trên lầu. ‘Vậy đó, mọi vinh quang trên thế giới này đều đến hồi kết thúc’,” Anne kết luận rồi phá lên cười tuy giọng cười có chút tiếc nuối. Chẳng bao giờ vui được khi chốn thiêng liêng xưa cũ của ta bị mạo phạm, dẫu ta đã qua thuở thơ ngây đó rồi.
“Cậu đi rồi tớ sẽ cô đơn đến chết mất thôi,” Diana rên rỉ đến lần thứ một trăm. “Cứ nghĩ mà xem, tuần sau là cậu đi rồi!”
“Nhưng lúc này chúng ta vẫn đang ở bên nhau mà,” Anne vui vẻ nói. “Chúng ta không nên để tuần kế tiếp lấy đi niềm vui của tuần này. Tớ cũng chẳng thích nghĩ tới chuyện rời đi tí nào, quê nhà là người bạn rất thân thiết của tớ. Cô đơn ư? Chính tớ mới là người phải rên rỉ đây. Cậu sẽ ở lại với đủ bạn đủ bè, và cả Fred nữa! Trong khi tớ một mình đối mặt với cả biển người lạ, chẳng biết ai cả!”
“Ngoại trừ Gilbert, và Charlie Sloane,” Diana bắt chước kiểu nhấn giọng láu lỉnh của Anne.
“Charlie Sloane sẽ an ủi tớ được nhiều đấy, hẳn là thế,” Anne mỉa mai đồng ý, khiến cho hai cô nàng vô trách nhiệm cùng phá lên cười. Diana biết rõ Anne nghĩ gì về Charlie Sloane, nhưng qua bao câu chuyện tâm sự tầm phào, cô không biết chắc Anne cảm thấy thế nào về Gilbert Blythe. Rõ ràng là Anne cũng chẳng biết điều này.
“Bọn con trai có thuê nhà ở đầu bên kia Kingsport thì với tớ cũng chẳng khác gì,” Anne tiếp. “Tớ mừng là mình sắp vào trường Redmond học và tớ chắc là mình sẽ thích nó sau một thời gian. Nhưng trong mấy tuần đầu, tớ biết là tớ sẽ không thích đâu. Tớ còn chẳng được an ủi bằng niềm trông đợi đến cuối tuần để về nhà như hồi đi học ở Queen nữa. Giáng sinh thì còn cả ngàn năm nữa mới tới.”
“Mọi thứ đều đang thay đổi, hay là sắp sửa thay đổi,” Diana buồn bã nói. “Tớ cảm thấy mọi việc sẽ chẳng bao giờ như xưa nữa, Anne à.”
“Chúng ta đã đi đến ngã ba đường rồi, tớ nghĩ thế,” Anne trầm tư. “Chúng ta phải đến lúc đó thôi. Cậu nghĩ làm người lớn có thích như tưởng tượng của chúng ta thuở nhỏ không hở Diana?”
“Tớ chẳng biết nữa, cũng có vài điều hay đấy chứ,” Diana đáp, một lần nữa lại mân mê chiếc nhẫn với nụ cười tủm tỉm lúc nào cũng khiến cho Anne đột nhiên cảm thấy mình thật trẻ con và bị bỏ rơi. “Nhưng cũng có nhiều chuyện đáng băn khoăn. Thỉnh thoảng tớ cảm thấy làm người lớn khiến tớ run sợ, và sẵn sàng đánh đổi bất cứ thứ gì để trở lại thành một cô bé.”
“Tớ cho rằng từ từ thì chúng ta cũng sẽ quen với việc là người lớn thôi,” Anne vui vẻ nói. “Sẽ không có nhiều chuyện bất ngờ xảy ra nữa, dẫu tớ vẫn ngờ rằng chính những điều bất ngờ mới là thứ đem lại gia vị cho cuộc đời. Chúng ta mười tám tuổi rồi, Diana ạ. Hai năm nữa chúng ta sẽ hai mươi. Hồi mười tuổi, tớ nghĩ hai mươi là già lắm rồi. Chẳng bao lâu nữa, cậu sẽ là một bà nội trợ đứng tuổi trầm tính, còn tớ sẽ là dì Anne, cô gái già hiền hậu hay đến thăm cậu vào các dịp lễ. Cậu sẽ luôn chừa một góc nhà cho tớ, phải không Di yêu dấu? Đương nhiên không phải là phòng dành cho khách rồi, các cô gái già làm gì đủ tiêu chuẩn bước vào đó, tớ sẽ ‘khúm núm’ y hệt Uriah Heep[2] và hài lòng với căn gác xép ọp ẹp hay căn phòng chứa đồ đằng sau phòng khách.”
[2]. Nhân vật trong cuốn tiểu thuyết David Copperfield của Charles Dickens, có tính khúm núm, xun xoe, khiêm nhường giả tạo.
“Cậu nói chuyện nhảm nhí quá đi, Anne ạ,” Diana phá lên cười. “Cậu sẽ cưới một chàng trai vừa tuyệt vời, vừa đẹp trai, vừa giàu có, và chẳng có căn phòng dành cho khách nào ở Avonlea đủ hào nhoáng cho cậu đâu, và cậu sẽ hất mũi cười nhạo vào đám bạn cũ của cậu.”
“Thật đáng tiếc, cái mũi của tớ đẹp thế này, nhưng cứ hất mũi lên hoài thì sẽ mất đẹp đi,” Anne vỗ vỗ vào cái mũi đẹp dáng của mình. “Tớ không có bao nhiêu ưu điểm để mà hoang phí, cho nên dẫu có cưới ông hoàng của đảo Ăn thịt người thì tớ hứa tớ cũng không hất mũi lên cười nhạo cậu đâu, Diana ạ.”
Phá lên cười rộn rã thêm lần nữa, hai cô gái chia tay nhau. Diana về lại Dốc Vườn Quả, Anne đi bộ đến bưu điện. Cô thấy có một lá thư đang chờ mình ở đó, và khi Gilbert Blythe bắt gặp cô trên cây cầu bắc qua hồ Lấp Lánh, cô đang hớn hở trước tin bất ngờ mà nó đem lại.
“Priscilla Grant cũng đến Redmond đấy,” cô kêu lên. “Có tuyệt vời không? Tớ cứ mong là cậu ấy sẽ đi, nhưng cậu ấy sợ ba không đồng ý. Nhưng giờ thì ba cậu ấy đồng ý rồi, và bọn tớ sẽ thuê nhà cùng ở với nhau. Tớ cảm thấy tớ có thể đối diện với cả một đạo quân đầy gươm giáo - hay một binh đoàn khủng khiếp gồm tất cả các giáo sư của Redmond nếu có người bạn thân như Priscilla bên cạnh.”
“Tớ nghĩ chúng ta sẽ thích Kingsport,” Gilbert nói. “Ai cũng nói đó là một thị trấn cổ dễ thương, và có khu bảo tồn thiên nhiên đẹp nhất thế giới. Nghe nói phong cảnh ở đó hết sức ấn tượng.”
“Tớ tự hỏi liệu nó có - nó có thể - đẹp hơn thế này không,” Anne lẩm bẩm, nhìn quanh với đôi mắt yêu thương thán phục của những người luôn cho rằng “quê nhà” là nơi chốn tuyệt vời nhất trên đời, dẫu có bao nhiêu vùng đất diệu kỳ khác nơi những tinh cầu xa xôi.
Bọn họ tựa vào cây cầu cũ vắt ngang hồ nước, thu vào tầm mắt vẻ đẹp mê hồn của buổi chiều tà, ở đúng nơi Anne trèo ra khỏi con thuyền đáy bằng đang chìm vào ngày Elaine trôi xuống Camelot. Màu đỏ tía dịu dàng của nắng chiều vẫn rọi sáng bầu trời phía Tây, nhưng trăng đang mọc và mặt nước lặng yên như một giấc mơ bạc mênh mông dưới ánh trăng. Hoài niệm tựa như bùa mê ngọt ngào và huyền ảo quấn lấy hai người trẻ tuổi.
“Cậu yên lặng quá, Anne à,” cuối cùng Gilbert cũng lên tiếng.
“Tớ sợ không dám lên tiếng hay cử động, để tránh cho vẻ đẹp tuyệt vời này khỏi biến mất khi bầu yên lặng bị phá tan,” Anne thở hắt ra.
Gilbert đột nhiên đặt tay lên bàn tay trắng muốt thon thả đang tựa hờ lên thành cầu. Đôi mắt nâu nhạt của anh thẫm lại, đôi môi vẫn còn non nớt mở ra định nói đến giấc mơ và niềm hy vọng đang rạo rực trong tâm hồn. Nhưng Anne rút mạnh tay ra và quay vội đi. Phép màu của chiều tà không còn tác dụng với cô nữa.
“Tớ phải về nhà thôi,” cô kêu lên với vẻ vô tâm khá là giả tạo. “Bác Marilla bị nhức đầu từ chiều, và tớ tin chắc là hai đứa sinh đôi đã kịp bày trò khủng khiếp gì nữa đây. Lẽ ra tớ không nên rong chơi lâu quá thế này.”
Cô nói huyên thuyên không ngừng cho đến khi họ đi tới lối vào Chái Nhà Xanh. Gilbert đáng thương chẳng có cơ hội mở miệng nói xen vào tiếng nào. Anne cảm thấy nhẹ người hẳn khi họ chia tay. Tim cô bỗng cảm nhận một sự e dè mới mẻ kỳ lạ đối với Gilbert kể từ thoáng thấu hiểu trong khu vườn Nhà Vọng. Có thứ gì đó xa lạ đã xâm nhập vào tình bạn lâu năm hoàn hảo thời đi học - thứ gì đó đang đe dọa phá vỡ nó đi.
“Trước đây mình chưa bao giờ cảm thấy vui khi tiễn Gilbert,” cô nghĩ bụng, nửa hối hận, nửa âu sầu trong lúc bước dọc theo lối đi. “Tình bạn của bọn mình sẽ mất đi nếu cậu ấy cứ làm những điều vớ vẩn như thế. Nó sẽ không mất đi được, mình sẽ không để cho điều đó xảy ra đâu. Ôi, tại sao bọn con trai không thể lý trí một chút chứ!”
Anne rối bời nhận ra cảm giác ấm áp lúc này vẫn đang rõ mồn một trên tay cô y như trong thoáng ngắn ngủi Gilbert đặt tay lên chẳng thể nào gọi là lý trí được, và một thực tế còn ít lý trí hơn nữa là cảm giác đó chẳng hề khó chịu chút nào, hoàn toàn khác hẳn khi Charlie Sloane làm điều tương tự lúc hai người ngồi chầu rìa trong buổi vũ hội ở White Sands ba ngày trước đây. Anne rùng mình nhớ lại cảm giác khó chịu khi ấy. Nhưng mọi rắc rối liên quan đến những chàng trai say men tình ái bay mất sạch khi cô bước vào bầu không khí ấm cúng chất phác của căn bếp Chái Nhà Xanh, nơi một cậu bé tám tuổi đang khóc nức nở trên ghế dựa.
“Chuyện gì vậy Davy?” Anne ôm lấy cậu bé. “Bác Marilla và Dora đâu rồi?”
“Bà Marilla cho Dora đi ngủ,” Davy nức nở, “cháu khóc là bởi vì Dora trượt chân ngã lộn vòng ở bậc thang ngoài trời dẫn xuống tầng hầm, mũi bị xước hết cả da và...”
“Ôi, thôi đừng khóc nữa cưng à. Đương nhiên là cháu thương em, nhưng khóc lóc cũng chẳng giúp gì cho em được. Mai là em sẽ ổn thôi. Khóc chẳng có tác dụng gì cả, nhóc Davy à, và...”
“Cháu có khóc vì Dora bị té đâu,” Davy cắt ngang lời thuyết giảng thiện ý của Anne với giọng mỗi lúc một chua chát. “Cháu khóc vì không được tận mắt nhìn nó té. Cháu lúc nào cũng bỏ lỡ những dịp vui vẻ, hình như thế.”
“Ôi, Davy!” Anne cố nhịn để không phá ra cười sằng sặc rất không đứng đắn. “Nhìn Dora tội nghiệp bé bỏng trượt té và bị thương thì vui vẻ lắm sao?”
“Nó có bị nặng đâu,” Davy bào chữa. “Đương nhiên, nếu nó chết thì cháu sẽ buồn lắm, cô Anne à. Nhưng người họ Keith chẳng dễ chết đâu. Giống như mấy người nhà Blewett vậy, cháu nghĩ thế. Thứ tư tuần trước Herb Blewett ngã từ vựa cỏ khô xuống, lăn thẳng qua chỗ trút củ cải vào máng ăn, nơi họ nuôi một con ngựa vừa hung hãn vừa khó thuần, rồi lăn ngay xuống dưới chân con ngựa ấy nữa. Ấy thế mà anh ta vẫn sống nhăn chỉ bị gãy có ba cái xương. Bà Lynde nói có nhiều người dùng dao phay chém cũng chẳng chết. Mai bà Lynde sẽ tới đây phải không cô Anne?”
“Đúng rồi, Davy ạ, và cô mong là cháu sẽ luôn ngoan ngoãn và đối xử tốt với bà ấy.”
“Cháu sẽ ngoan và cư xử đàng hoàng. Nhưng liệu mỗi tối bà ấy có cho cháu đi ngủ không cô Anne?”
“Có thể. Thì sao?”
“Bởi vì,” Davy quả quyết, “nếu bà ấy cho cháu đi ngủ, cháu sẽ không cầu nguyện trước mặt bà ấy như vẫn làm với cô Anne đâu.”
“Vì sao?”
“Vì cháu nghĩ không nên nói chuyện với Chúa trước mặt người lạ như thế, cô Anne ạ. Dora muốn làm sao thì làm, nhưng cháu thì đừng hòng. Cháu sẽ đợi bà ấy đi rồi mới cầu nguyện. Vậy có được không hở cô Anne?”
“Được, nếu cháu chắc là cháu sẽ không quên cầu nguyện, Davy ạ.”
“Ồ, cháu không quên đâu, thề luôn. Cháu thấy cầu nguyện rất vui. Nhưng cầu nguyện một mình thì chẳng vui như khi cầu trước mặt cô. Cháu ước gì cô ở nhà hoài, cô Anne ơi. Cháu chẳng biết cô ra đi bỏ rơi mọi người như thế để làm cái gì nữa.”
“Không hẳn là cô muốn đi, Davy ạ. Nhưng cô nghĩ là cô nên đi.”
“Nếu không muốn thì cô chẳng cần làm làm gì. Cô là người lớn mà. Cháu mà lớn rồi ấy, cháu sẽ chẳng bao giờ làm chuyện cháu không muốn đâu, cô Anne ơi.”
“Davy ạ, rồi có lúc trong đời cháu sẽ thấy cháu phải làm nhiều việc mà cháu không muốn.”
“Không đâu,” Davy nói thẳng. “Cứ thử ép cháu xem! Giờ thì cháu phải làm những việc cháu không muốn, bởi vì cô và bà Marilla bắt cháu đi ngủ nếu cháu không chịu đi. Nhưng khi cháu lớn rồi thì cô không làm vậy được nữa, và chẳng ai chỉ trỏ gì cháu nữa. Lúc đó thì sướng biết bao! Cô Anne ơi, Milty Boulter kể mẹ nó nói cô đi học đại học để kiếm chồng. Phải vậy không cô Anne? Cháu muốn biết.”
Trong một thoáng, Anne bừng bừng tức giận. Rồi cô phá lên cười, tự dặn lòng rằng những suy nghĩ và lời nói dung tục của bà Boulter chẳng thể làm cô tổn thương được.
“Không, không phải vậy, Davy ạ. Cô sẽ đi học, trưởng thành và hiểu biết nhiều điều.”
“Điều gì cơ?”
“‘Giày, thuyền và xi gắn. Cùng bắp cải và các vị vua.’”[3]
Anne ngâm nga.
[3]. Bài thơ Hải mã và thợ giày của Lewis Carroll.
“Nhưng nếu cô muốn kiếm chồng thì cô làm thế nào? Cháu muốn biết,” Davy lằng nhằng, rõ ràng chủ đề này khá hấp dẫn cậu.
“Cháu đi mà hỏi bà Boulter ấy,” Anne buột miệng. “Có vẻ bà ấy biết nhiều hơn cô.”
“Lần sau gặp cháu sẽ hỏi,” Davy nghiêm túc đáp.
“Davy! Liệu hồn!” Anne kêu lên, nhận ra mình đã sai lầm.
“Nhưng cô vừa bảo cháu làm thế mà,” Davy bực tức phản đối.
“Đến giờ đi ngủ rồi đó,” Anne tuyên bố để thoát khỏi trò nhì nhằng của cu cậu.
Sau khi Davy đi ngủ, Anne vẩn vơ đi xuống đảo Victoria và ngồi đó một mình, ánh trăng mịn màng bao phủ lấy cô, làn nước cười khúc khích quanh cô trong bản đồng ca suối và gió. Anne lúc nào cũng yêu dòng suối đó. Trong những tháng ngày qua, cô đã dệt bao nhiêu giấc mơ trên làn nước lấp lánh. Cô quên đi những cậu trai si tình sầu muộn, quên lời xỉa xói của những người láng giềng ác ý cũng như mọi rắc rối trong cuộc đời con gái của mình. Trong tưởng tượng, cô giương buồm đi giữa vùng biển cổ tích, nơi sóng dạt vào bờ biển óng ánh của “vùng đất thần tiên trơ trọi”, nơi lục địa Atlantis và Elysium tồn tại ngoài thế giới, có sao Hôm làm hoa tiêu, đi tới miền đất Trái Tim Khao Khát. Và trong những giấc mơ đó, cô giàu có hơn hẳn thực tế, vì những gì ta thấy đều trôi đi, còn những gì mắt không thấy được luôn tồn tại mãi mãi.
Tập 3 - Anne Tóc Đỏ Ở Đảo Hoàng Tử Edward Tập 3 - Anne Tóc Đỏ Ở Đảo Hoàng Tử Edward - Lucy Maud Montgomery Tập 3 - Anne Tóc Đỏ Ở Đảo Hoàng Tử Edward