Sometimes the dreams that come true are the dreams you never even knew you had.

Alice Sebold

 
 
 
 
 
Tác giả: Step Penney
Thể loại: Kinh Dị
Biên tập: Quoc Tuan Tran
Upload bìa: Quoc Tuan Tran
Số chương: 42
Phí download: 6 gạo
Nhóm đọc/download: 0 / 1
Số lần đọc/download: 743 / 9
Cập nhật: 2016-06-26 12:21:01 +0700
Link download: epubePub   PDF A4A4   PDF A5A5   PDF A6A6   - xem thông tin ebook
 
 
 
 
Chương 6
au cơn sốc lúc đầu, tôi nhận ra rằng mình không gặp nguy hiểm tức thời. Người đàn ông đứng ở khung cửa ít nhất cũng đến sáu mươi tuổi, dáng vẻ như người thích sách vở, và điều quan trọng nhất là không mang vũ khí. Ông trông đạo mạo, với mái tóc bạc mềm mại được chải ngược vầng trán cao, khuôn mặt thanh mảnh, sống mũi nhọn. Thái độ của ông dưới mắt tôi có vẻ như tử tế. Thật ra, đối với một người ở tuổi này thì ông trông đẹp lão (tôi lấy làm lạ về từ ngữ này, nhưng đúng thế).
Tôi đã có thói quen đáng chê trách, ở đây là khi không còn có thể xét người qua ngữ âm được nữa, đấy là rà soát một số đặc tính của một người lạ. Mỗi khi gặp người mới quen, tôi liếc nhìn qua đôi khuy măng sét, giày, móng tay, và đại loại như thế, nhằm xác định vị thế trong cuộc đời và mức ổn định về tài chính. Người đàn ông này mặc chiếc một áo choàng lòe loẹt, được may cắt chỉnh tề nhưng đã cũ, và tuy ông trông đứng đắn, râu tóc cạo tề chỉnh, đôi giày lại mòn trông đáng hổ thẹn.
Trong khoảnh khắc cho tôi đi đến những kết luận này, tôi nhận thấy ông cũng đang đánh giá tôi theo cùng cách thức, vì thế có lẽ ông đã kết luận tôi là vợ của một nông dân khá giả. Tôi không thể nói liệu ông đi xa hơn hay không mà nghĩ rằng sắc đẹp của tôi đã tàn tạ.
“Xin lỗi...” Giọng ông nghe dễ chịu, có ngữ âm của người Mỹ. Tim tôi đập chậm lại.
“Ông làm cho tôi sợ chết khiếp.” Tôi nói một cách nghiêm chỉnh, nhận biết có bột trên áo tôi và có lẽ cũng ở trên tóc tôi. “Ông tìm Jammet phải không?”
“Không. Tôi nghe...” Ông chỉ về phía chiếc giường và các tấm chăn vấy máu: “Một chuyện kinh khủng... một cảnh thê lương khiếp đảm. Xin lỗi bà, tôi không được biết tên bà.”
Ông mỉm cười một cách trang trọng, và tôi thấy mình có cảm tình với ông. Tôi không đánh giá cao cử chỉ đẹp, đặc biệt khi có người hạch hỏi sự hiện diện của tôi ở hiện trường vụ án.
“Tôi là Bà Ross. Láng giềng của anh ấy. Tôi đến để sắp xếp đồ đạc.” Tôi mỉm cười trong nỗi nuối tiếc, cho thấy công việc là không dễ chịu chút nào. Đấy là tôi tưởng tượng, hoặc ông nhanh nhẩu khi nghe nói đến đồ đạc của Jammet?
“À, Bà Ross, tôi xin lỗi đã làm phiền bà. Tên tôi là Thomas Sturrock, ở Toronto. Tôi làm luật sư.”
Ông chìa bàn tay ra, và tôi bắt lấy. Ông cúi đầu.
“Ông đến đây để xem xét gia sản của anh ấy phải không?” Theo kinh nghiệm của tôi, luật sư không ngẫu nhiên xuất hiện, tìm kiếm quanh quất trong đêm tối, tay chân lấm bẩn. Họ cũng không có khuy măng sét sờn và giày thủng lỗ.
“Không. Tôi không có công việc gì ở đây.”
Chân thật. Không phải đặc tính biểu trưng của luật sư.
“Đây là một việc cá nhân. Tôi không rõ mình phải tiếp xúc với ai trong hoàn cảnh này, nhưng, bà biết không, Monsieur[19] Jammet sở hữu một vật có tầm quan trọng đối với một nghiên cứu của tôi. Anh ấy đã định gửi nó cho tôi.”
[19] Monsieur: tiếng Pháp trong nguyên bản, có nghĩa là “Ông” gọi theo cách trịnh trọng.
Ông ngưng lại, thăm dò phản ứng của tôi, trong khi tôi cảm thấy thích thú. Sau khi đã lục lọi căn nhà khắp nơi, tôi không thể nghĩ ra có cái gì khiến cho bất kỳ ai chú tâm đến, đặc biệt đối với một người đàn ông như thế này. Nếu Jammet có vật nào như thế thì anh ấy hẳn đã bán nó rồi.
Ông thêm: “Nó không có giá trị, mà chỉ là mối quan tâm hàn lâm.”
Tôi tiếp tục im lặng.
Với một nụ cười khiêm tốn, ông nói: “Tôi nghĩ cần thành thật với bà. Bà không có cách nào biết được tôi nói thật hay không, nên tôi sẽ kể hết cho bà. Monsieur Jammet có một mẫu xương hoặc ngà, lớn ngần này...” Ông chỉ vào lòng bàn tay: “Với dấu khắc trên đó. Vật này có thể quan trọng về mặt khảo cổ học.”
“Ông nói ông là luật sư...?”
“Luật sư là theo nghề nghiệp. Còn khảo cổ học là mối quan tâm.”
Ông dang rộng hai bàn tay. Tôi hoang mang, nhưng ông trông chân thành: “Tôi phải thú nhận là mình không quen thân với anh ấy, tuy rằng tôi lấy làm tiếc cho cái chết của anh. Tôi được nghe rằng vụ việc xảy ra... bất ngờ.”
Tôi nghĩ “bất ngờ” là một cách diễn tả.
“Có vẻ như tôi quá tham lam khi đi tìm vật ấy ngay sau khi anh qua đời, nhưng tôi thực sự tin nó có tầm quan trọng. Nhìn nó thì không thấy gì, nên nếu người ta vì không thấy mà vứt bỏ nó thì thật là tiếc. Vậy thì bà đã biết - tại sao tôi đến đây.”
Ông có cách nhìn tôi làm cho tôi an tâm - cởi mở và thiếu tự tin về mình. Ngay cả nếu ông nói dối, tôi vẫn không thể nghĩ ra ông làm hại tôi ra sao.
Tôi bắt đầu: “À, Ông Sturrock, tôi không...”
Tôi chợt im bặt, vì vừa nghe một cái gì đấy - tiếng sỏi kêu lạo xạo trên con đường mòn phía sau ngôi nhà. Lập tức tôi nắm lấy cây đèn bão trên lò sưởi.
“Ông Sturrock, tôi sẽ giúp ông, nếu ông giúp tôi và làm theo lời tôi nói. Đi ra ngoài ẩn mình trong bụi rậm gần bờ sông. Đừng nói gì. Nếu ông làm thế và không bị phát hiện, tôi sẽ nói cho ông những gì tôi biết.”
Ông há hốc miệng vì ngạc nhiên, nhưng rồi quày quả đi với tốc độ đầy ấn tượng đối với tuổi tác của ông: một giây đồng hồ sau khi tôi nói, ông đã đến ngạch cửa. Tôi thổi tắt ngọn đèn bão và khép cánh cửa, vặn sợi dây kẽm để giữ chặt nó rồi lẻn ra khu vườn rậm rạp của Jammet. Tôi thầm cảm ơn Jammet vì anh không lấy làm hãnh diện về thuật trồng hoa cảnh; khu vườn của anh có thể che giấu cả chục người như tôi.
Tôi cố hòa mình vào trong lùm bụi, nhận ra rằng một bàn chân tôi đang chìm xuống cái gì đấy mềm và ướt. Tiếng bước chân đến gần thêm, rồi ánh sáng một ngọn đèn bão trong tay của một bóng người.
Tôi kinh hãi tột cùng: đấy là chồng tôi.
Anh giơ ngọn đèn bão lên, mở cánh cửa và đi vào trong. Tôi chờ một hồi lâu, cảm thấy lạnh hơn, giày thấm sũng nước, tự hỏi khi nào Sturrock sẽ chán nản mà bước ra để nói chuyện với anh thay vì với một phụ nữ điên rồ. Rồi Angus lại đi ra, khép cánh cửa lại sau lưng. Anh không nhìn quanh quất mà biến mất trên con đường mòn, rồi chẳng bao lâu ánh sáng ngọn đèn của anh cũng mất hút khỏi tầm mắt.
Bây giờ trời đã khá tối. Tôi đứng dậy một cách cứng nhắc, các khớp xương kêu lạch cạch, và kéo chân khỏi vũng bùn. Đôi bít tất sũng nước. Tôi tìm hộp diêm và với ít khó khăn đốt lại ngọn đèn bão.
Tôi cất tiếng kêu: “Ông Sturrock.” Một ít lâu sau, ông bước ra vùng ánh sáng của ngọn đèn, gạt những chiếc lá khỏi áo choàng luộm thuộm.
Ông mỉm cười với tôi: “À, quả là một cuộc phiêu lưu. Ông ấy là ai mà chúng ta phải lẩn trốn?”
“Tôi không biết. Trời tối quá nên không thấy rõ. Ông Sturrock, tôi xin lỗi vì hành vi của tôi, ông hẳn nghĩ tôi là con người kỳ quặc. Tôi sẽ chân thực với ông, vì ông đã chân thực với tôi, và hẳn là chúng ta có thể giúp đỡ lẫn nhau.”
Tôi mở cánh cửa trong khi trả lời, và mùi hương ấy lại đập vào tôi. Nếu Sturrock không nhận ra, chồng tôi đã giấu mùi hương ấy rất giỏi.
Khi người vợ ra đi vào lúc chập tối và trở về lúc đêm khuya với một người đàn ông thì ít có ông chồng nào tỏ ra hòa nhã như Angus. Đấy là một trong những lý do mà tôi chịu cưới anh. Thoạt đầu, đấy là do anh tin tưởng nơi tôi; bây giờ thì tôi không biết, có lẽ anh không còn tin tôi có mãnh lực khơi dậy tình cảm thiếu trong sáng, hoặc đơn giản là anh không màng đến. Hiếm có người hoàn toàn xa lạ ở Sông Dove; thường thường họ là lý do để ăn mừng, nhưng Angus chỉ nhìn lên và trầm tĩnh gật đầu. Nhưng rồi, có lẽ anh đã trông thấy ông ấy ở ngôi nhà gỗ.
Sturrock nói ít về cá nhân mình, nhưng trong khi dùng bữa tôi tạo dựng một hình ảnh. Hình ảnh của một người mang giày thủng lỗ và thích hút loại thuốc lá thơm. Một người ăn món thịt heo và khoai tây như thể cả tuần chưa được bữa ăn ngon. Một người có dáng vẻ tinh tế và thông minh, và có lẽ cũng thất vọng. Và một vẻ gì khác - tham vọng. Vì ông rất khao khát tìm được mảnh xương ấy, cho dù nó là cái gì chăng nữa.
Chúng tôi kể cho ông nghe về Francis. Người ta đều biết những trường hợp con trẻ đi lạc trong rừng. Chẳng đặng đừng mà chúng tôi nói đến trường hợp các cô gái nhà Seton. Cũng như mọi người sống dọc theo Biên giới, ông biết các cô này. Sturrock chỉ ra những khác biệt giữa các cô gái nhà Seton và Francis. Tôi công nhận Francis không giống như một đứa con gái yếu đuối, nhưng phải nói rằng như thế vẫn chưa làm tôi yên tâm lắm.
Đôi lúc, bạn nhìn đến rừng cây theo cách khác nhau. Có lúc đấy đơn thuần là những cây cho gỗ xây nhà và củi đốt, che lấp mặt đất trơ trụi, và bạn lấy làm vui về điều này. Nhưng cũng có lúc, như tối nay, đấy là một khoảng tối mênh mông mà bạn không thể nhìn đến chốn tận cùng; nó không chỉ có chiều dài và chiều rộng khiến cho bạn đi lạc trong đó, mà còn có chiều sâu vô tận, hoặc một cái gì đấy hoàn toàn khác.
Và có lúc, bạn thấy mình nhìn qua anh chồng và băn khoăn: đấy có phải là người đàn ông cởi mở mà bạn nghĩ mình thấu hiểu - người trụ cột, người bạn trên đường đời, người kể chuyện vô vị nhưng vẫn làm bạn cười - hoặc liệu anh có những chiều sâu mà bạn chưa từng thấy? Liệu anh ấy không làm được việc gì?
***
Trong đêm, nhiệt độ hạ thấp. Tuyết rơi nhẹ đón chào Donald khi anh chà lớp băng đóng phía sau kính cửa sổ và nhìn ra ngoài. Anh thắc mắc Jacob đã ngủ trong nhà kho hay không. Jacob quen chịu lạnh. Mùa đông rồi - mùa đông đầu tiên của Donald trên đất nước - trời không lạnh lắm, nhưng anh vẫn bị sốc. Cái lạnh buổi sáng thấu xương chỉ là màn khởi đầu.
Knox đã thu xếp cho một người địa phương đi theo Mackinley để truy tìm thương nhân người Pháp. Một người tầm thường để Mackinley không phải chia sẻ vinh quang với anh này... Rồi Donald thấy ý nghĩ như thế là nghiệt ngã. Trong thời gian này, càng ngày anh càng có ý nghĩ nghiệt ngã. Trước khi rời Scotland, anh không nghĩ sẽ như thế - mảnh đất rộng cô đơn có vẻ như hứa hẹn sự thuần khiết, nơi khí hậu khắc nghiệt và cuộc sống giản đơn tạo lòng can đảm cho con người và gột rửa những lầm lỗi vụn vặt. Nhưng không hẳn thế - hoặc có lẽ chính anh có lỗi, không tự gột rửa được. Có lẽ trước tiên là do anh không có đủ tố chất đạo đức.
Sau khi Mackinley đã ra đi, lầm lì và cáu giận, Donald kéo dài thời gian với cốc cà phê để mong gặp Susannah. Dĩ nhiên đó cũng là niềm vui khi ngồi bên chiếc bàn phủ vải trắng và chiêm ngưỡng những bức họa trên tường, được một phụ nữ da trắng phục vụ - dù đó là phụ nữ Ireland - và đăm chiêu nhìn ngọn lửa mà không phải chịu đựng trò đùa cợt nhắm đến mình. Cuối cùng, lòng kiên nhẫn của anh được tưởng thưởng: hai cô gái bước vào và ngồi xuống.
Maria nói: “À, anh Moody, thế là anh đang bảo vệ cho chúng tôi an toàn trong khi những người khác truy tìm các nghi can.”
Quả là khác thường khi trong một câu nói Maria có thể khiến anh có cảm tưởng mình là kẻ hèn nhát. Anh cố không ra vẻ tự bào chữa ra mình: “Chúng tôi đang chờ Francis Ross. Nếu anh ấy không trở về hôm nay thì chúng tôi sẽ đi tìm.”
Susannah nhíu mày nhìn anh một cách duyên dáng: “Anh không nghĩ anh ấy làm chuyện đó chứ?”
“Tôi không biết gì về anh ấy. Cô nghĩ sao?”
“Tôi nghĩ anh ấy là đứa con trai mười bảy tuổi. Khá đẹp trai.” Với câu nói này, Maria tinh nghịch nhìn anh.
Hướng mắt xuống mặt bàn, Susannah nói: “Anh ấy dễ mến. Nhút nhát. Không có nhiều bạn.”
Maria khịt mũi, ra điệu bộ mỉa mai. Donald nghĩ bất kỳ anh trai trẻ nào cũng phải nhút nhát và ngượng ngập trước tính chua cay của Maria và vẻ đẹp của Susannah.
Maria thêm: “Chúng tôi không quen biết anh ấy lắm. Tôi không rõ ai là bạn thân với anh ấy. Chỉ có điều là anh ấy luôn có vẻ như con gái. Anh không đi săn hoặc làm những việc mà đa số những anh con trai làm.”
“Những anh con trai khác làm gì?” Donald cố gắng tách rời giữa hiện tại và tuổi mười bảy của mình, lúc ấy anh không đi săn và chắc chắn sẽ bị các cô này gọi là giống như con gái.
“À, anh biết không, họ đi chung với nhau, quậy phá, say xỉn... Mấy chuyện điên rồ như vậy.”
“Cô nghĩ người không làm mấy chuyện đó thì không phạm tội giết người hay sao?”
“Không...” Maria ra vẻ đăm chiêu một khoảnh khắc. “Có vẻ như lúc nào anh ấy cũng ủ rũ và... à, như là có cái gì đó đang diễn ra dưới bề mặt.”
Nét mặt sáng lên, Susannah nói: “Tôi nhớ rồi, có một lần. Tôi nghĩ lúc anh ấy mười bốn tuổi, và một đứa con trai khác, có phải đó là George Pretty...? Không, không, đó là Matthew Fox. Hoặc là...” Cô bỏ lửng câu nói, nhíu mày. Chị cô nhìn qua em gái.
“À, Matthew, hay ai đó, cố quay cóp bài làm của anh ấy rồi khoe khoang về việc này, anh biết không, cố tình cho mấy đứa bạn thấy... rồi thình lình Francis nhận ra và nổi lên một cơn giận dữ kinh hãi. Tôi chưa từng thấy ai nổi giận như vậy, nhưng anh ấy là như thế đó - mặt anh trắng bệch, trong khi bình thường da anh có màu đồng, anh biết không...? Hừm, dù sao đi nữa, anh ấy xông đến đánh Matthew như thể muốn giết chết anh này. Anh ấy cơ hồ như nổi điên; ông Clarke và một anh khác phải kéo anh ra. Trông thật là đáng sợ.”
Cô nhìn qua Donald, đôi mắt nâu mở to: “Đã từ lâu tôi không nghĩ đến chuyện này. Anh có giả định...?”
“Đây không phải là tấn công trong cơn điên cuồng, có phải vậy không hả anh Moody?” Maria vẫn giữ vẻ điềm tĩnh trong khi Susannah trở nên kích xúc.
“Chúng tôi không thể loại ra bất kỳ việc gì.”
“Ông Mackinley nghĩ hung thủ là một nhà buôn người Pháp, phải không? Chính vì vậy mà ông ấy truy lùng ông kia. Hoặc có lẽ ông ấy chỉ muốn kết tội nhà buôn người Pháp, ở Công ty, họ không thích các nhà buôn hành nghề tự do, phải không hả anh Moody?”
“Dĩ nhiên là Công ty muốn bảo vệ lợi ích của mình, nhưng cũng có lợi nếu người đặt bẫy nhận được giá cố định khi mang da đến bán; Công ty phải chăm lo đời sống cho nhiều người, trong khi người đặt bẫy biết cần đi đâu và cuộc sống của họ thì... ổn định. Khi có cạnh tranh thì giá cả lên xuống, và các nhà buôn hành nghề tự do không chăm lo cho gia đình họ. Đó là điều khác biệt giữa... trật tự và rối loạn.” Donald nghe giọng điệu kẻ cả trong câu nói của mình và thầm ngượng ngùng.
“Nhưng các nhà buôn hành nghề tự do trả giá cao hơn so với Công ty, thế nên người đặt bẫy có quyền nhận giá này, phải không? Rồi sau đó anh ấy có thể chăm lo cho gia đình mình.”
“Dĩ nhiên là anh ấy được quyền làm thế. Nhưng rồi anh ấy phải chịu rủi ro là nhà buôn hành nghề tự do đó có thể không có mặt năm sau - anh ấy không thể dựa vào người kia theo cách anh dựa vào Công ty.”
Maria vẫn khăng khăng: “Nhưng Công ty khuyến khích người Da Đỏ làm ăn với họ chịu lệ thuộc vào rượu và giữ độc quyền bán rượu để họ luôn quay lại, đúng vậy không?”
Donald cảm thấy máu dồn lên cổ nóng bừng. Giọng anh nghe có vẻ khá tức giận: “Công ty không khuyến khích chuyện gì như vậy. Người đặt bẫy muốn làm gì tùy thích, họ không bị ép buộc làm gì cả.”
Susannah quay qua cô chị: “Đó là lời kết án kinh khủng. Hơn nữa, không phải là lỗi của anh Moody nếu có chuyện này.”
Maria nhún vai, tỏ vẻ không được thuyết phục.
Donald bước ra ngoài, để không khí làm nguội mặt mình. Anh sẽ cố tìm gặp một mình Susannah sau - không thể nào trò chuyện với sự hiện diện của cái cô Maria khó chịu. Anh châm lửa dọc tẩu để trấn tĩnh, và thấy Jacob trong nhà kho, đang nói chuyện với con ngựa của anh ta trong thứ ngôn ngữ vô nghĩa.
“Chào anh Moody.”
“Chào. Anh ngủ ngon không?”
Jacob lộ vẻ khó hiểu, như anh vẫn thường lộ vẻ như vậy đối với câu hỏi này. Anh đã ngủ - còn chuyện gì khác để nói nữa? Anh cũng nằm thao thức, nghĩ về người bị hại và cái chết của người chiến binh mà anh đã thấy ở quê nhà, trên chiếc giường của ông này. Tuy thế, anh gật đầu để làm cho Donald vui.
“Jacob, anh có thích làm việc cho Công ty không?”
Lại thêm một câu hỏi kỳ khôi.
“Có.”
“Anh không thích làm việc cho người khác - như là nhà buôn hành nghề tự do - phải không?”
Jacob nhún vai: “Bây giờ thì không - với gia đình tôi. Khi đi vắng, tôi biết họ an lành và không bị bỏ đói. Còn hàng hóa của Công ty thì rẻ - rẻ hơn nhiều so với bên ngoài.”
“Thế thì làm việc cho Công ty là tốt, phải không?”
“Tôi nghĩ vậy. Mà này, anh muốn đi hả?”
Donald cười lớn, lắc đầu, rồi tự hỏi tại sao chính mình chưa từng mang ý nghĩ này. Bởi vì anh không có chỗ nào khác?
Có lẽ cũng không có chỗ nào khác cho Jacob - cha anh là một nhân viên Công ty, người tải hàng, và Jacob bắt đầu làm việc lúc mười bốn tuổi. Cha anh qua đời sớm. Bây giờ anh thắc mắc có phải ông ấy bị tai nạn hay không, nhưng giống như nhiều khía cạnh khác trong đời Jacob, anh không thể tìm ra cơ hội thuận tiện để hỏi.
Lý do Donald trở nên bất an là vì Maria đúng lý khi nói Công ty luôn muốn giữ thế độc quyền - nhưng họ có lý do khi sợ bị cạnh tranh. Do chán ngán hàng thế kỷ chịu sự độc quyền trong những vùng hoang dã, một số nhà buôn lông thú độc lập - chủ yếu là người Pháp và người Mỹ - đang cố phá thế độc quyền của Công ty. Đã có những nhóm đối thủ nhỏ, nhưng Công ty đều trấn áp hoặc dập tắt tất cả bọn họ. Nhưng liên minh mới này, có tên Công ty Bắc Mỹ, khiến cho các nhà quản trị lo lắng. Nhờ có nhiều túi tiền rủng rỉnh tài trợ, họ phớt lờ các quy định (ý nói là các quy định của Công ty). Các nhà buôn trả giá cao cho người đặt bẫy và bắt những người này cam kết sẽ không bán sản phẩm cho Công ty nữa. Có lẽ họ vừa hối lộ vừa đe dọa - hơn là có lẽ, bởi vì chính Công ty cũng làm theo cả hai cách. Vì thế mà cả nền mậu dịch và lợi nhuận đều sụt giảm.
Nhiều lần Mackinley đã thảo luận căng thẳng với Donald về bản chất xảo quyệt của các nhà buôn hành nghề tự do, và sự cần thiết phải trói buộc dân bản địa vào Công ty bằng rượu, súng đạn và thực phẩm. Đấy là chuyện khiến cho máu dồn lên mặt của Donald - lời kết án của Maria là khá chính xác. Nhưng nó không tệ hại hơn so với những gì người Mỹ đang làm. Đáng lẽ anh phải kể cho Maria nghe về ngôi làng người Da Đỏ nhờ có Pháo đài mà có thực phẩm và sự bảo vệ. Đáng lẽ anh phải kể cho cô nghe về vợ và hai con của Jacob với đôi mắt toát lên niềm tin tưởng, nhưng, như mọi khi, anh không nghĩ ra những chuyện này vào thời điểm thích hợp.
Chính trong một cuộc trao đổi với Mackinley mà Donald nghĩ ra: có lẽ vấn nạn giảm lợi nhuận bắt nguồn từ một nguyên nhân cơ bản hơn là từ lòng tham của người Mỹ. Việc đặt bẫy bắt thú rừng đã diễn ra hơn hai trăm năm, và đã gây tổn hại. Khi Công ty thiết lập những thương điếm đầu tiên, thú rừng sinh sống sung túc trong các vùng chung quanh, nhưng lòng tham về lợi nhuận càng ngày càng đẩy thú rừng vào chốn hoang dã hơn. Từ khi tham quan nhà kho lông thú cùng với Bell, Donald chưa từng thấy con chồn bạc thứ hai, và cũng chưa từng thấy chồn đen. Không ai mang đến đây bán.
Donald thúc ngựa chạy cho kịp với Jacob. Họ đang phi qua một vùng rừng cây nơi mà những chiếc lá cuối cùng đã đổi màu sáng sủa hơn, với lớp băng giá đóng ngoài mặt. Nếu Susannah không màng đến phương cách của Công ty, tại sao anh lại băn khoăn? Dù gì chăng nữa, trong vấn đề này thì trật tự vẫn tốt hơn là rối loạn. Đây là điều mà anh cần nhớ.
Họ để cho hai con ngựa gặm cỏ bên bờ sông rồi bước đến ngôi nhà gỗ. Donald có cảm giác nhẹ nhõm khi thấy ngôi nhà bây giờ đã trống. Anh đã cố không tỏ vẻ ngượng ngập khi đối diện với thi hài, nhưng đấy là kinh nghiệm mà anh không vội lặp lại. Trong khoảnh cỏ chung quanh ngôi nhà, Jacob cúi xuống để quan sát. Ngay cả Donald cũng nhận ra những dấu chân lộn xộn.
Jacob chỉ tay xuống nền đất dưới bụi rậm: “Đây là từ đêm qua. Xem này, có ai đó ẩn nấp ở đây.”
“Có thể là mấy đứa con trai trong làng không?”
Jacob chỉ ra rằng dường như có các loại dấu chân khác nhau.
“Nhìn xem, đây là... giày ủng của đàn ông; dưới kia là dấu chân có hình thù khác - vậy thì có hai người. Người có chân to hơn đi đến đây trước. Nhưng người sau cùng rời khỏi nơi đây thì có dấu chân này - nhỏ hơn, có lẽ là một đứa trẻ... hoặc một phụ nữ.”
“Một phụ nữ hả? Anh có chắc đó không phải là dấu chân từ hôm qua chứ? Đó có thể là người phụ nữ lo thu gom thi hài không?”
Jacob lắc đầu.
Donald cảm nhận niềm vui chiến thắng khi khám phá ngăn kệ đựng bột bị lệch ra từ khoảng trống phía dưới, nhưng chính Jacob là người tìm thấy chỗ cất giấu dưới vài hòn đá. Bí ẩn về gia sản của Jammet được giải đáp - trong một cái thùng lót lớp chì có ba khẩu súng trường Mỹ, một ít đồng tiền vàng và một xấp đô la Mỹ được gói trong vải dầu. Jacob thốt lên một tiếng kinh ngạc. Donald suy tính phải làm gì với các thứ này, và quyết định giấu về chỗ cũ cho đến khi họ có thể quay lại với một chiếc xe cút kít. Họ xếp đặt lại các hòn đá rồi Jacob lấy lá cây rải lên để chỗ cất giấu trông như tự nhiên. Một ý nghĩ nghi kỵ thoáng qua trong đầu và anh tự trách mình vì nghi Jacob có thể dấy lên lòng tham đối với gia sản này, vốn cao hơn khoản tiền anh này kiếm được trong mười năm. Donald nhận ra rằng mình không thể suy đoán từ vẻ mặt của Jacob như anh tin mình suy đoán được từ người da trắng. Anh mong Jacob không nhận biết anh thiếu tin tưởng qua nét mặt của mình.
Sự Hiền Hòa Của Sói Sự Hiền Hòa Của Sói - Step Penney Sự Hiền Hòa Của Sói