Số lần đọc/download: 0 / 2
Cập nhật: 2026-07-03 23:55:16 +0700
Chương 26
Tối hôm ấy tôi bước lên bục giảng với tâm trạng lạ lùng.
Nhà thờ đông đúc một cách bất thường. Tôi không nghĩ vì mong đợi Hawes giảng mà nhiều người lại kéo đến như vậy. Những bài giảng của Hawes thường buồn tẻ và giáo điều. Còn nếu có tin tôi giảng thay thì cũng chẳng thu hút được họ, bởi lẽ bài giảng của tôi nặng tính học thuật và chán ngắt. Tôi e rằng cả mình cũng không thể khiến giáo dân sốt sắng đến thế.
Tôi kết luận rằng mọi người đến đây để xem có mặt những ai, và có thể để sau đó buôn chuyện đôi chút ngoài cổng nhà thờ.
Haydock đi lễ, việc này không bình thường, và cả Lawrence Redding nữa. Bên cạnh Lawrence Redding, tôi ngạc nhiên nhìn thấy khuôn mặt trắng bệch căng thẳng của Hawes. Anne Protheroe ngồi kia, mặc dù vào các ngày chủ nhật bà ta thường dự lễ chiều nhimg tôi không nghĩ hôm nay bà lại đến. Tôi còn ngạc nhiên hơn khi thấy Lettice. Đi nhà thờ vào sáng chủ nhật là bắt buộc — về điều này thì đại tá Protheroe rất cứng rắn, nhưng trước đây tôi chưa bao giờ trông thấy Lettice đi lễ chiều.
Và kia là Gladys Cram, hoàn toàn trẻ trung mạnh khỏe, nổi bật lên giữa cái nền khô xác héo hơn của những bà cô không chồng. Rồi tôi thoáng thấy một người đến muộn, vừa lẻn vào cuối nhà thờ, đó là bà Lestrange.
Chẳng phải nói cũng biết bà Price Ridley, bà Hartnell, bà Wetherby và bà Marple đều có mặt. Cả làng hiện diện đông đủ, đó là chuyện hầu như chưa bao giờ xảy ra. Tôi không biết từ trước tới nay đã bao giờ tín hữu tập trung đông như thế này không.
Tối nay, đám đông đã tạo ra một bầu không khí lôi cuốn lạ thường, mà người đầu tiên bị tác động chính là tôi.
Như thường lệ, tôi đã chuẩn bị trước bài Phúc âm một cách cẩn thận và chu đáo, nhưng cũng chính tôi chứ không ai khác lại nhận ra sự thiếu sót của chúng.
Tối nay, tôi cần phải ứng khẩu mà giảng, và khi nhìn xuống biển người mỗi lúc một đông, đầu óc tôi bỗng dưng quay cuồng. Tôi không còn là Sứ giả của Chúa Trời. Tôi đã trở thành một diễn viên. Trước mặt tôi là khán giả và tôi muốn lay động tâm can họ — hơn thế, tôi cảm thấy mình có đầy quyền năng để khiến họ xúc động.
Tôi chẳng tự hào gì chuyện mình làm tối hôm ấy. Tôi vốn là người hoài nghi việc thức tỉnh đức tin tôn giáo bằng cách làm người ta xúc động, thế nhưng tối hôm ấy tôi đã diễn tròn vai một nhà truyền bá Phúc âm say sưa cuồng nhiệt.
Tôi chầm chậm nhả từng lời.
“Ta đến đây không phải để đánh thức thiện nhân, mà kêu gọi những kẻ phạm tội nên ăn năn hối cải.”
Tôi lặp lại câu này lần nữa, và tôi nghe tiếng mình ngân nga vang dội chẳng giống chút nào giọng nói thường ngày của Leonard Clement.
Tôi trông thấy Griselda từ hàng ghế đầu ngước nhìn lên vẻ ngạc nhiên, và Dennis cũng bắt chước theo nàng.
Tôi nín thở một lúc rồi thả lỏng.
Giáo dân trong nhà thờ đang trong trạng thái dồn nén cám xúc, đây là thời cơ chín muồi để kích động họ. Tôi kêu gọi những kẻ lầm lỗi phải sửa mình. Tôi tự buông mình vào cơn mê cuồng cảm xúc. Chốc chốc tôi lại chĩa tay như tố cáo và lặp đi lặp lại câu nói:
“Ta đang nói với các anh chị em đây…”
Và mỗi lần như thế, tôi lại thoáng nghe tiếng thở dài sườn sượt từ góc này góc nọ của nhà thờ.
Cảm xúc của đám đông thật lạ lùng và khủng khiếp.
Tôi kết thúc bài giảng bằng những lời đẹp đẽ và sâu sắc — có lẽ là sâu sắc nhất trong toàn bộ Kinh Thánh:
“Tối nay linh hồn các người sẽ được phán xét…”
Trạng thái lạ lùng ấy chỉ xảy ra nhất thời. Khi về nhà mục vụ, tôi trở lại với con người mờ nhạt và hay do dự thường ngày của mình. Tôi trông thấy Griselda. Mặt xanh xao, nàng khoác lấy tay tôi.
“Len ạ, tối nay trông mình kinh khủng lắm. Em — em không thích thế đâu. Trước giờ em chưa từng nghe mình giảng như thế.”
“Tôi cũng không nghĩ sẽ mình sẽ được nghe lần nữa,” tôi vừa nói vừa kiệt sức buông mình xuống ghế sofa. Tôi mệt lả.
“Điều gì khiến mình làm thế?”
“Bỗng dưng tôi như lên cơn mình ạ.”
“Ôi! Mà — không có chuyện gì bất thường chứ mình?”
“Chuyện bất thường — ý mình là sao cơ?”
“Em nghi ngờ vậy thôi. Trông mình lạ lắm Len à. Chưa bao giờ em thấy là em thực sự hiểu mình cả.”
Chúng tôi ngồi xuống dùng bữa ăn nguội vì hôm nay là ngày nghỉ của Mary.
“Có thư ngoài sảnh gửi cho mình đấy,” Griselda nói. “Dennis, cháu đi lấy được không?”
Dennis nãy giờ im như thóc, liền vâng theo.
Tôi đón lấy bức thư rồi lầm bầm. Ở góc trái phía trên là dòng chữ: Thư tay — Khấn.
“Chắc chắn là của bà Marple,” tôi nói. “Còn ai vào đây nữa!”
Tôi đã đoán đúng hoàn toàn.
MỤC SƯ CLEMENT KÍNH MẾN,
Tôi rất muốn trao đổi với mục sư về một số việc vừa xảy ra với tôi. Tôi nghĩ chúng ta phải cố gắng làm sáng tỏ điều bí ẩn đáng buồn này. Nếu mục sư cho phép thì khoảng chín giờ rưỡi tối nay tôi sẽ đến và gõ cửa phòng làm việc của mục sư. Có lẽ Griselda quý mến sẽ sẵn lòng qua bên nhà tôi trò chuyện cho cháu trai của tôi khuây khoả, và dĩ nhiên cả cậu Dennis nữa, nếu cậu ấy cũng muốn sang. Nếu tôi không nghe trả lời gì thì tôi sẽ đón hai người ấy và sẽ đến văn phòng của mục sư vào giờ nói trên.
Thân kính,
JANE MARPLE.
Tôi đưa thư cho Griselda.
“Ô, bọn em sẽ đi mà,” nàng vui vẻ nói. “Vào tối chủ nhật mà được thưởng thức vài ly rượu mùi nhà làm thì tuyệt. Em ngán món bánh của Mary đến tận cổ. Cứ như lấy từ trong nhà xác ra vậy.”
Dennis thì chẳng tỏ vẻ gì vui thú về việc này. Nó càu nhàu:
“Có mà tuyệt cho mình bác thôi. Bác tha hồ bàn chuyện văn chương nghệ thuật cao siêu, còn cháu ngồi nghe thì chỉ thấy mình chẳng khác nào thằng đần.”
“Việc này tốt cho cháu đấy,” Griselda thản nhiên đáp, “vì nó làm cháu hiểu đúng về mình. Dù sao, ta cũng không nghĩ ông Raymond West thông minh xuất chúng như ông ấy cố làm ra vẻ.”
“Người thông minh xuất chúng thực sự thì hiếm lắm,” tôi nói.
Tôi vô cùng băn khoăn không biết đích xác điều bà Marple muốn nói là gì. Trong số quý bà thuộc giáo khu của tôi, bà ta là người khôn ngoan sắc sảo nhất, không chỉ vì việc gì xảy ra thì bà cũng biết, mà còn vì bà luôn suy luận rõ ràng và thích đáng trong nhận định. Ngày nào đó nếu tôi toan làm điều gian dối thì chính bà Marple là người tôi sẽ phải khiếp sợ.
Cái gọi là tiệc vui với người cháu trai bắt đầu sau chín giờ một chút, và trong khi chờ bà Marple đến, tôi giết thời gian bằng cách liệt kê các sự việc liên quan đến án mạng, và cố sắp xếp chúng theo đúng trình tự thời gian. Tôi không phải là người đúng giờ nhưng lại ngăn nắp, và tôi muốn ghi chú mọi việc một cách bài bản.
Đúng chín giờ rưỡi, có tiếng gõ nhẹ vào cửa sổ. Tôi đứng dậy đón bà Marple.
Bà choàng tấm khăn Shetland tinh xảo trùm kín đầu và vai khiến bà trông yếu ớt và già sọm. Bà bước vào, run run vì phấn kích.
“Mục sư thật tử tế khi cho phép tôi đến đây — và Griselda cũng thật tốt — Raymond ngưỡng mộ cô ấy lắm — nó luôn gọi cô ấy là Greuze hoàn hảo… Tôi ngồi đây à? Tôi không ngồi vào ghế của mục sư? Ồ, cám ơn mục sư… Không, tôi không cần ghế để chân đâu ạ.”
Tôi đặt chiếc khăn trùm Shetland lên một chiếc ghế và quay lại kéo chiếc ghế khác ngồi đối diện với bà khách. Chúng tôi nhìn nhau, rồi một nụ cười đượm chút khẩn nài nở trên gương mật bà.
“Tôi cảm thấy mục sư đang tự hỏi vì sao — vì sao tôi quá quan tâm đến toàn bộ việc này. Có thể mục sư nghĩ nó không hợp với phụ nữ. Không — tôi xin mục sư — nếu được thì xin cho tôi giải thích.”
Bà ngập ngừng một lúc, má ửng hồng.
“Mục sư thấy đó,” cuối cùng bà lên tiếng, “sống một thân một mình như tôi ở nơi khỉ ho cò gáy này thì cần có thú tiêu khiển. Tất nhiên có nhiều việc như đan len, vẽ tranh, tham gia hướng đạo hay làm thiện nguyện, nhưng sở thích của tôi bao giờ cũng là tìm hiểu về nhân tình thế thái. Rất đa dạng và lý thú. Và lẽ dĩ nhiên trong một ngôi làng nhỏ không có gì để giải trí thì người ta có biết bao cơ hội để nghiên cứu thành thạo đề tài của mình. Ta phân loại dân làng một cách thật rạch ròi thành nhóm này nhóm kia, chủng này loại nọ, người này là hoa người kia là chim… Dĩ nhiên thỉnh thoảng ta cũng nhầm lẫn, nhưng với thời gian thì ta ngày càng ít sai sót. Và rồi ta cũng tự kiểm tra bản thân mình. Ta có thể gặp những rắc rối nho nhỏ — chẳng hạn chuyện mất xâu tôm lột, khiến Griselda phải buồn cười — có những điều bí mật hoàn toàn chẳng có gì quan trọng nhưng lại cực kỳ khó hiểu nếu không được giải quyết thích đáng. Rồi chuyện những viên thuốc ho bị đánh tráo, chuyện chiếc ô của vợ anh hàng thịt — một chuyện hết sức vô lý, chẳng qua là do người bán rau đã không cư xử đàng hoàng với vợ ông dược sĩ bán thuốc mà thành ra cơ sự. Mục sư biết đó, khi phán đoán một việc gì và thấy mình đúng thì tuyệt vời thế nào.”
“Bà vẫn thường xuyên phán đoán đúng, tôi nghĩ thế,” tôi mỉm cười.
“Điều đó khiến tôi có đôi chút tự phụ, tôi e là thế,” bà Marple thú nhận. “Nhưng tôi luôn băn khoăn tự hỏi, nếu ngày nào đó gặp điều bí mật nghiêm trọng thì liệu tôi có làm được như vậy không — ý tôi là giải quyết rốt ráo không? Về logic thì phải đúng là sự việc ấy. Nói cho cùng, dù là mô hình ngư lôi thì cũng giống như ngư lôi thật.”
“Ý bà đó hoàn toàn là tính tương đối phải không,” tôi chậm rãi nói. “Có thể là thế, về mặt logic thì tôi thừa nhận, nhưng tôi không biết thực tế có như vậy không.”
“Chắc chắn là vậy,” bà Marple đáp. “Cái mà trường lớp gọi là nhân tố ấy — là giống như thế. Nào là chuyện tiền tài, chuyện quan hệ giữa hai người — à — hai người khác phái, chuyện kỳ quặc — nhiều người tính tình kỳ quặc phải không mục sư? Đúng là khi hiểu rõ về nhiều người thì ta thấy họ khá kỳ quặc. Người bình thường đôi khi lại hành động kỳ quặc, còn người không bình thường thì đầu óc lại rất lành mạnh và cư xử bình thường. Thực tế chỉ có cách duy nhất là so sánh họ với những người mà chúng ta quen hoặc tình cờ gặp, mục sư sẽ ngạc nhiên khi biết tổng cộng có rất ít loại người khác nhau.”
“Bà làm tôi hãi quá,” tôi nói. “Có cảm giác như mình đang bị soi dưới kính hiển vi vậy.”
“Dĩ nhiên là có mơ tôi cũng không nói bất cứ điều gì như thế này cho đại tá Melchett đâu — ông ta là người chuyên quyền độc đoán đúng không mục sư? — và cả Thanh tra Slack đáng thương nữa — chà, ông ta giống hệt cô hàng giày, chỉ muốn bán cho mục sư đôi giày bằng da sơn bóng vì cô ta thấy nó vừa nơi chân mục sư mà không thèm đếm xỉa đến việc mục sư đang cần một đôi bằng da bò màu nâu!” Mô tả chân dung Slack như thế quả là tuyệt vời! “Nhưng về vụ án thì tôi tin chắc ông cũng biết nhiều không kém Thanh tra Slack, thưa mục sư Clement. Tôi nghĩ nếu chúng ta hợp tác cùng nhau…”
“Tôi tự hỏi — tôi nghĩ trong thâm tâm mỗi chúng ta, ai cũng tự cho mình là Sherlock Holmes cả.”
Rồi tôi kể bà nghe về ba lệnh triệu tập vừa nhận chiều nay, về việc Anne phát hiện bức tranh bị rạch nát khuôn mặt. Tôi cũng thuật lại thái độ cô Cram ở đồn cảnh sát cùng chuyện Haydock nhận dạng mảnh tinh thể tôi đã nhặt được.
“Tự tôi đã tìm thấy nó,” tôi kết thúc. “Tôi muốn vật này có tầm quan trọng nào đó, nhưng có thể nó chẳng liên quan gì đến vụ án cả.”
“Mới đây tôi vừa vào thư viện đọc nhiều truyện trinh thám Mỹ để xem có giúp ích gì không,” bà Marple nói.
“Có truyện nào nói đến acid picric không?”
“E rằng không. Tuy nhiên tôi nhớ có lần đã xem một truyện trong đó có người bị đầu độc bằng acid picric và bôi mỡ cừu lên mình.”
“Nhưng trong vụ này không có ai bị đầu độc cả, vì thế có vẻ không thích hợp với vấn đề của chúng ta,” tôi nói.
Rồi tôi cầm bản liệt kê trao cho bà:
“Tôi đã cố gắng tóm tắt các sự kiện của vụ án một cách rõ ràng nhất.”
BẢN LIỆT KÊ CỦA TÔI
Thứ năm ngày 21 tháng này
12.30 trưa — Đại tá Protheroe dời cuộc hẹn với tôi từ sáu giờ chiều đến sáu giờ mười lăm. Rất có thể một nửa dân làng đã nghe thấy điều này.
12.45 — Lần cuối người ta nhìn thấy khẩu súng nằm ở chỗ thường ngày của nó (nhưng chuyện này không chắc chắn vì trước đó bà Archer nói rằng bà ta không nhớ rõ.)
5.30 chiều (khoảng đó) — Đại tá Protheroe và phu nhân rời Old Hall vào làng bằng xe hơi.
5.30 — Cú điện thoại giả mạo gọi cho tôi từ khu nhà phía Cửa Bắc gần Old Hall.
6.15 (hoặc một hai phút trước đó) — Đại tá Protheroe đến nhà mục vụ và được Mary đưa vào phòng làm việc.
6.20 — Bà Protheroe theo đường làng phía sau, băng qua vườn đến cửa hông phòng làm việc. Bà không nhìn thấy đại tá Protheroe.
6.29 — Điện thoại gọi cho bà Price Ridley từ nhà Lawrence Redding (theo tổng đài điện thoại.)
6.30-6.35 — Nghe thấy tiếng nổ. (Cho là thời điểm cú điện thoại là chính xác). Theo lời chứng của Lawrence Redding, Anne Protheroe và tiến sĩ Stone thì dường như sớm hơn, nhưng có thể bà P.R nhớ đúng.
6.45 — Lawrence Redding đến nhà mục vụ và tìm thấy tử thi.
6.48 — Tôi gặp Lawrence Redding.
6.49 — Tôi phát hiện tử thi.
6.55 — Haydock khám tử thi.
GHI CHÚ — Chỉ có hai người không có chứng cứ ngoại phạm từ 6.30-6.35 là cô Cram và bà Lestrange. Cô Cram nói mình đang ở chỗ khai quật nhưng không có gì xác nhận. Tuy nhiên, loại cô ta ra khỏi vụ án có vẻ hợp lý vì dường như cô chẳng liên quan gì cả. Sau sáu giờ một chút, bà Lestrange rời nhà bác sĩ Haydock vì có cuộc hẹn. Bà ta hẹn với ai, và ớ đâu? Không thể hẹn với đại tá Protheroe, vì ông ta đã hẹn với tôi rồi. Đúng là vào thời điểm xảy ra án mạng thì bà Lestrange đang ở gần hiện trường, nhưng về động cơ khiến bà giết Protheroe thì có vẻ không chắc chắn. Bà ta chẳng hưởng lợi gì từ cái chết của đại tá, và tôi không chấp nhận giả thiết tống tiền như thanh tra đưa ra. Bà Lestrange không phải loại người như vậy. Hơn nữa việc bà ta lấy được khẩu súng của Lawrence Redding khống thể xảy ra.
“Hết sức rõ ràng,” bà Marple vừa gục gặc đầu tỏ ý tán thành vừa nói. “Quả là rất rõ. Quý ông bao giờ cũng làm bản ghi nhớ thật tuyệt.”
“Bà có đồng ý với những gì tôi viết không?” Tôi hỏi.
“Ồ vâng — mục sư đã liệt kê cực chuẩn.”
Lúc ấy tôi mới hỏi bà điều tôi đã định hỏi từ bữa giờ: “Vậy bà nghi ngờ ai, bà Marple? Có lần bà nói với tôi là có đến bảy nghi can.”
“Đúng là tôi nghĩ thế,” bà Marple lơ đãng đáp. “Tôi nghĩ mỗi chúng ta đều có thể nghi ngờ người này người kia khi trông thấy việc họ làm.”
Tuy vậy bà không hỏi xem tôi nghi ngờ ai.
“Vấn đề là ta phải lý giải sự việc một cách thỏa đáng. Nếu ta đưa ra một giả thiết phù hợp với mọi sự kiện — à, thì giả thiết đó phải đúng. Nhưng điều đó cực kỳ khó khăn. Nếu không phải vì lá thư…”
“Lá thư à?” tôi ngạc nhiên hỏi.
“Vâng, mục sư nhớ không, tôi đã nói với ông đó. Lá thư ấy khiến tôi suy nghĩ mãi từ ấy đến giờ. Nói kiểu nào thì đó là thư giả mạo.”
“Chắc chắn vậy rồi,” tôi đáp, “bây giờ chuyện ấy đã được lý giải. Thư được viết vào lúc sáu giờ ba mươi lăm, và một bàn tay khác — tên sát nhân — đã ghi sai là 6.20 vào đầu trang. Tôi nghĩ chuyện ấy đã được xác minh.”
“Nhưng ngay cả như thế thì nó vẫn sai hoàn toàn,” bà Marple nói.
“Nhưng tại sao?”
“Mục sư nghe này.” Bà Marple chồm tới trước sôi nổi. “Bà Protheroe đi ngang qua vườn nhà tôi, như tôi đã nói đó, rồi bà ấy đến cửa sổ phòng làm việc và nhìn vào trong nhưng không thấy đại tá Protheroe.”
“Là vì ông ấy đang ngồi viết ở bàn,” tôi nói.
“Và đó là điều hoàn toàn sai. Lúc ấy là sáu giờ hai mươi. Chúng ta đã nhất trí là ông ta không thể ngồi đó vào lúc sáu giờ rưỡi để viết rằng mình không thể chờ lâu hơn — vậy thì tại sao ông ta lại ngồi vào bàn viết vào giờ đó?”
“Tôi chưa từng nghĩ đến điều này,” tôi chậm rãi đáp.
“Mục sư Clement kính mến, chúng ta hãy xem xét lần nữa từng chi tiết. Bà Protheroe đến bên cửa hông và nghĩ rằng trong phòng không có ai — chắc hẳn bà ấy phải nghĩ vậy, nếu không bà đã chẳng dám xuống xưởng vẽ gặp ông Redding vì như thế không an toàn. Căn phòng phải tuyệt đối vắng lặng nếu bà ấy nghĩ trong đó không có người. Như thế có ba khả năng, đúng không mục sư?”
“Bà định nói là…”
“À, khả năng thứ nhất là có thể đại tá Protheroe đã chết rồi — nhưng tôi không tin điều đó là sự thật. Trước tiên là vì ông ta chỉ mới ở đó khoảng năm phút và bà ấy hoặc tôi có thể đã nghe tiếng súng nổ; hơn nữa lại khó giải thích việc ông ta ngồi ở bàn viết. Khả năng thứ hai, dĩ nhiên ông ta đang ngồi viết thư trước bàn, nhưng trong trường hợp ấy thì bức thư phải hoàn toàn khác. Thư không thể viết là ông ấy không thể chờ mục sư được. Còn khả năng thứ ba…”
“Sao cơ?”
“À, khả năng thứ ba là bà Protheroe nói đúng, dĩ nhiên thế, và trong phòng lúc ấy không có ai cả.”
“Ý bà là sau khi được người hầu đưa vào phòng, ông ấy lại trở ra rồi sau đó mới quay lại ư?”
“Vâng.”
“Nhưng vì sao ông ấy phải làm vậy?”
Bà Marple xòe hai tay tỏ vẻ khá bối rối.
“Thế có nghĩa bà đang xem xét vụ án ở góc độ hoàn toàn khác,” tôi nói.
“Nhiều lúc người ta phải làm vậy — về mọi việc. Mục sư không nghĩ vậy sao?”
Tôi không trả lời vì đang cẩn thận nhẩm lại ba khả năng bà Marple gợi ra. Bà già khẽ thở dài rồi đứng lên:
“Tôi phải về thôi. Tôi rất vui được nói chuyện với mục sư một chút — mặc dù chưa giải quyết được gì nhiều, phải không mục sư?”
“Thật tình mà nói thì toàn bộ vụ này quá rối rắm,” tôi vừa nói vừa đưa chiếc khăn trùm cho bà.
“Ồ! Tôi thì không nghĩ thế. Nói chung theo tôi có một giả thiết khá phù hợp. Đó là, nếu mục sư thừa nhận một sự trùng hợp ngẫu nhiên — mà tôi nghĩ có thể chấp nhận một sự ngẫu nhiên như thế. Tất nhiên, trùng hợp nhiều hơn là không thể.”
“Bà thực sự nghĩ vậy sao? Ý tôi là về các giả thiết ấy?” tôi nhìn bà hỏi.
“Tôi thừa nhận trong giả thiết tôi đưa ra có thiếu sót — một sự việc mà tôi chưa làm rõ được. Ôi! Giá như bức thư ấy hoàn toàn khác…”
Bà thở dài lắc đầu. Rồi bà bước về phía cửa hông, bàn tay vô tình chạm vào bụi cây hoa héo trong chậu kiểng.
“Cây này phải tưới thường xuyên hơn mục sư Clement ạ. Thiếu nước trầm trọng, khổ chưa! Cô hầu nhà ông phải tưới mỗi ngày mới được. Cô ấy có chú ý việc này không ạ?”
“Cô ấy chẳng để mắt vào bất cứ việc gì,” tôi đáp.
“Chắc cô ta còn non tay nghề,” bà Marple gợi ý.
“Phải,” tôi đáp. “Mà Griselda thì khăng khăng từ chối uốn nắn cô ta, vì bà nhà tôi nghĩ chỉ người hầu mà không ai thèm nhận thì mới ở lâu với chúng tôi. Vậy mà hôm nọ Mary đã dọa nghỉ rồi đấy.”
“Thế à? Tôi cứ tưởng cô ta quý mến ông bà mục sư lắm.”
“Tôi thì không nghĩ vậy. Nhưng thật ra là do Lettice làm cô ta phật ý. Sau khi bị thẩm vấn, Mary trở về trong tâm trạng không bình thường và gặp Lettice ở đây — thế là hai cô lời qua tiếng lại với nhau.”
“Ồ!” bà Marple vừa dợm bước qua cửa sổ bỗng dừng phắt lại kêu lên, mặt bà đổi sắc.
“Ối trời oi! Sao mình lại ngu thế này chứ!” bà lẩm bẩm. “Ra là thế. Chắc chắn rồi.”
“Xin lỗi, gì thế bà?”
Bà quay lại nhìn tôi lo lắng,
“Không có gì, chỉ là tôi vừa nghĩ ra một ý. Tôi phải về và suy xét điều này cho thấu đáo cái đã. Mục sư biết không, tôi nghĩ mình đã quá đần độn — ngu hết chỗ nói luôn.”
“Tôi thấy khó mà tin điều đó,” tôi lịch sự nói.
Đưa bà ra ngả cửa sổ rồi băng qua bãi cỏ, tôi hỏi:
“Bà có thể cho tôi biết mình chợt nghĩ ra điều gì không?”
“Ngay lúc này thì tôi e là không. Mục sư thấy đó, vẫn có khả năng là tôi nhầm lẫn. Nhưng tôi không nghĩ vậy. Đến cổng nhà tôi rồi, mục sư không cần đi xa hơn đâu, tôi cám ơn mục sư nhiều. “
“Bà còn vướng mắc ở chỗ lá thư, đúng không?” tôi hỏi khi bà bước qua cổng và cài then.
Bà lơ đãng nhìn tôi.
“Thư à? Ồ dĩ nhiên là thư giả rồi. Tôi chưa bao giờ nghĩ nó là thật cả. Chúc ông ngủ ngon, mục sư Clement.”
Rồi bà thoăn thoắt bước trên lối vào nhà, mặc tôi đứng đó nhìn sững.
Tôi chẳng hiểu ra làm sao.