Số lần đọc/download: 0 / 2
Cập nhật: 2026-07-03 23:55:16 +0700
Chương 25
Thật khó mà giũ bỏ vết hằn do lá thư nặc danh kia để lại. Quả là trò bôi bẩn!
Tuy vậy, tôi vẫn gom ba lá thư còn lại, xem đồng hồ rồi lên đường, tự nhủ không rõ cái điều cả ba quý bà cùng lúc ‘biết được’ kia là điều gì. Tôi nghĩ là cùng một sự việc. Ở đây, tôi phải thừa nhận là về tâm lý mình đã có sự nhầm lẫn.
Không chủ định, nhưng bước chân tôi cứ bị lôi về hướng đồn cảnh sát. Tôi nóng lòng muốn biết Thanh tra Slack đã từ Old Hall về chưa. Đến nơi, tôi thấy ông ta đã về, và cả cô Cram cũng trở về với ông ta. Cô Gladys xinh đẹp ngồi ở đồn cảnh sát đang tỏ vẻ kiêu căng ngạo mạn và tuyệt đối bác bỏ việc mình mang vali vào rừng.
“Chỉ vì một bà già ngồi lê đôi mách chẳng biết làm gì ngoài việc suốt đêm nhóng cổ nhìn ra cửa sổ mà ông đổ riệt vụ này cho tôi sao? Nhớ lại coi, bà ta đã một lần nói tầm bậy là nhìn thấy tôi đứng ở cuối đường làng vào buổi chiều xảy ra án mạng; ban ngày ban mặt mà còn trông gà hóa cuốc thì dưới ánh trăng làm sao nhận ra tôi chứ! Cái lối cư xử của quý bà ở làng này thiệt hết sức tồi tệ, hễ muốn nói gì là nói à. Còn tôi thì hôm đó tôi đang ngủ ngon lành trên giường. Các ông phải biết xấu hổ chứ, cả đám mấy ông đó!”
“Giả sử bà chủ nhà trọ Blue Boar xác nhận chiếc vali ấy là của cô thì sao, cô Cram?”
“Nếu bà ta mà nói vậy thì bà ta sai bét. Trên vali đâu có ghi tên! Mà hầu như ai cũng có loại vali đó. Còn với tiến sĩ Stone, biết bao công trình mang tên ông ấy, vậy mà mấy ông dám kết tội người ta như thằng ăn cắp vặt!”
“Vậy cô từ chối giải thích chuyện này với chúng tôi sao cô Cram?”
“Hổng có từ với chối gì hết. Ông sai rồi, có vậy thôi. Ông và cái bà Marple chuyên chõ mỏ vào chuyện thiên hạ đó. Tôi sẽ không nói thêm một lời nào — nếu không có mặt luật sư của tôi. Nếu ông không định bắt tôi thì bây giờ tôi về đây.”
Thay cho câu trả lời, viên thanh tra đứng dậy mở cửa, và cô Cram ngẩng cao đầu bước ra.
“Cô ta cứ khăng khăng như thế,” Slack vừa trở lại chỗ ngồi vừa nói. “Phủ nhận hoàn toàn. Mà dĩ nhiên bà già ấy cũng có thể nhìn lầm. Không quan tòa nào tin anh nhận diện được một người từ khoảng cách xa dưới ánh trăng. Và dĩ nhiên như tôi đã nói, có thể bà ấy đã nhầm lẫn.”
“Có thể thôi, nhưng tôi không nghĩ bà ấy nhầm,” tôi nói. “Thường thì bà Marple luôn đúng, chính vì vậy mà nhiều người không ưa bà ấy.”
Viên thanh tra toét miệng cười.
“Hurst cũng nói vậy đó. Chúa ơi, cái làng này!”
“Về đồ bạc thì sao rồi, thanh tra?”
“Mọi việc có vẻ hoàn toàn đâu vào đấy. Dĩ nhiên một trong hai bộ phải là hàng nhái. Ở Much Benham có một chuyên gia cao cấp về đồ bạc cổ, tôi đã gọi cho ông ta và cho xe đi đón ông ta rồi. Chúng ta sẽ sớm biết tên trộm đã đánh tráo các món ấy chưa hay chỉ mới dự định, mà dù đằng nào thì cũng không làm khác đi cái việc — ý tôi là việc chúng ta đang quan tâm. So với án mạng thì vụ trộm chỉ là chuyện nhỏ, và hai người ấy không liên quan gì đến việc giết người. Thông qua cô gái, ta có thể nắm thông tin về hắn ta — tôi để yên cho cô ta đi là vì vậy đó.”
“Tôi ngờ lắm,” tôi nói.
“Khổ thân ông Redding. Ít thấy người nào lại vô cớ nhận tội như ông ta.”
“Tôi lại không nghĩ vậy,” tôi cười nhẹ.
“Phụ nữ gây ra lắm phiền phức,” ông thanh tra lên mặt dạy đời.
Ông ta thở dài và nói tiếp trước sự ngạc nhiên của tôi: “Dĩ nhiên, là Archer.”
“Ồ, ông cho là anh ta ư?”
“Sao chứ, đương nhiên rồi, ngay từ đầu tôi đã nghĩ thế. Chẳng cần thư nặc danh thì anh ta mới lọt vào tầm ngắm của tôi đâu.”
“Thư nặc danh à,” tôi hỏi ngay. “Vậy ông có nhận được thư nặc danh nào không?”
“Chuyện đó thì có gì lạ đâu mục sư. Mỗi ngày chúng tôi nhận ít ra cũng cả chục lá ấy chứ. Ồ vâng, người ta đã tố giác Archer với chúng tôi. Cứ như cảnh sát không tự tìm ra vậy! Archer là nghi can đầu tiên, nhưng rắc rối là ở chỗ hắn ta có chứng cứ ngoại phạm. Không phải là do không có liên quan mà phiền nỗi chứng cứ ấy có thể giúp hắn thoát tội.”
“Ý ông rốt cuộc hắn ta không liên quan, nghĩa là sao?” tôi hỏi.
“Chà, hình như cả chiều hôm ấy hắn ngồi với hai thằng bạn. Như tôi vừa nói, chuyện đó không nghĩa lý gì mấy, vì hạng người như Archer và lũ bạn hắn có thể thề thốt bất cứ chuyện gì. Bọn ấy thì đến một lời cũng không tin được, chúng tôi biết rõ mà. Nhưng công chúng thì không hiểu điều đó, và đáng tiếc là tòa lại tin vào công chúng. Họ chẳng biết gì cả, cứ hễ có người đứng ở ghế nhân chứng nói gì là họ tin ngay lập tức, cho dù đó là ai. Và lẽ dĩ nhiên thằng Archer sẽ thề sống thề chết là hắn ta không phạm tội.”
“Anh ta không được sốt sắng như ông Redding nhỉ?” tôi mỉm cười.
“Không phải ông ấy đâu,” viên thanh tra nói chắc như đinh đóng cột.
“Ai cũng muốn sống, tôi hiểu chứ,” tôi trầm ngâm.
“Nếu mục sư biết có những tên sát nhân thoát tội nhờ biết cách làm bồi thẩm đoàn mủi lòng thì ông sẽ ngạc nhiên đó,” thanh tra rầu rĩ nói.
“Nhưng ông thực sự tin rằng Archer là thủ phạm sao?” tôi hỏi.
Ngay từ đầu tới giờ tôi lấy làm lạ là dường như Slack chưa hề có ý kiến riêng về vụ mưu sát này. Ông ta chỉ quan tâm đến việc tìm cách kết tội dễ hay khó mà thôi.
“Tôi muốn chắc chắn hơn một chút nữa,” Slack thú nhận. “Một dấu vân tay hoặc dấu chân của hắn, hoặc giả có ai nhìn thấy hắn ở gần hiện trường vào thời điểm xảy ra án mạng. Vì không thể đánh liều tống giam hắn mà không có bằng chứng. Hắn bị bắt gặp một đôi lần lảng vảng quanh nhà ông Redding, nhưng hắn khai là đến gặp mẹ mình. Bà ta là người tử tế. Không, nói chung tôi ngờ bà phu nhân kia. Giá như tôi có chứng cứ xác thực về vụ tống tiền — nhưng trong vụ này ta không tìm ra bất cứ bằng chứng xác thực nào! Toàn là lý thuyết với giả định thôi. Thật đáng buồn là chẳng có bà cô già nào sống dọc theo con đường trước nhà mục vụ, chứ nếu có thì tôi dám cá hễ xảy ra chuyện gì thì bà ta đã nhìn thấy ngay, mục sư Clement ạ.”
Lời của Thanh tra Slack khiến tôi nhớ đến các lời mời, và tôi cáo từ ông ta. Đây là dịp hiếm hoi tôi gặp thanh tra lúc ông ta đang vui vẻ.
Người đầu tiên tôi đến thăm là bà Hartnell. Chắc bà ta đã đứng chờ tôi bên cửa sổ, vì tôi chưa kịp nhấn chuông thì bà đã mở cửa chính và siết chặt tay tôi rồi đưa tôi bước qua thềm nhà.
“Quý hóa quá! Mời mục sư vào đây cho kín đáo hơn.”
Chúng tôi bước vào một căn phòng nhỏ xíu như cái lồng gà. Bà Hartnell đóng cửa và ra vẻ tuyệt mật, bà vẫy tay ra hiệu mời tôi ngồi xuống một chiếc ghế (trong phòng chỉ có ba chiếc). Tôi nhận thấy bà đang hứng thú.
“Tôi chẳng bao giờ thích nói vòng vo,” giọng bà vui vẻ, sau đó giảm bớt cho phù hợp tình huống. “Trong cái làng này, mọi chuyện lan truyền như thế nào thì chắc mục sư đã biết.”
“Thật đáng tiếc là tôi có biết.”
“Tôi đồng ý với mục sư. Không ai ghét chuyện ngồi lê đôi mách bằng tôi đâu. Nhưng mà có chuyện, nên tôi nghĩ phải có nhiệm vụ báo cho thanh tra cảnh sát biết. Buổi chiều xảy ra án mạng, tôi ghé qua nhà bà Lestrange nhưng bà ta đi vắng. Tôi chẳng mong người ta cảm ơn mình về việc ấy, đơn giản là tôi làm nhiệm vụ. Nói chung đời này sao lắm kẻ vô ơn. Tại sao hôm qua cái bà Baker vô liêm sỉ ấy…”
“Vâng, vâng,” tôi nói mong ngăn chặn tràng đả kích quen thuộc ấy. “Vâng, thật tệ, tệ quá đi. Nhưng bà đang nói…”
“Bọn tầng lớp dưới chẳng biết ai là bạn tốt,” bà Hartnell nói. “Bao giờ đến thăm ai tôi cũng ăn nói đúng mực. Không phải vì tôi cần người ta cám ơn.”
“Bà đã báo ông thanh tra về việc đến nhà bà Lestrange,” tôi nhắc.
“Đúng thế — mà ông ta có cám ơn tôi đâu ạ. Bảo là khi nào cần thì sẽ hỏi thêm — không nguyên văn câu chữ, nhưng tinh thần là thế. Bây giờ cảnh sát cũng có loại này loại nọ nhỉ.”
“Chắc chắn là thế,” tôi nói. “Nhưng bà định nói điều gì?”
“Lần này tôi quyết định không bén mảng đến gần bất cứ loại thanh tra tồi tệ nào nữa. Nói cho cùng thì chỉ có thầy tu mới đáng mặt quý ông — ít ra có một vài người như thế,” bà nói thêm.
Tôi hiểu sự đánh giá có ý bao hàm cả tôi trong đó, vì thế tôi mở lời:
“Giá mà tôi có thể giúp được gì cho bà.”
“Đây là vấn đề bổn phận,” bà Hartnell nói rồi chép miệng rõ to. “Tôi không muốn nói những chuyện như thế này, mà cũng chẳng ai muốn. Nhưng bổn phận vẫn là bổn phận.”
Tôi chờ đợi.
“Người ta bảo tôi rằng bà Lestrange tuyên bố hôm ấy bà ta ở nhà suốt ngày,” bà Hartnell hơi đỏ mặt nói tiếp, “rằng sở dĩ bà ta không trả lời là vì — à, là vì bà ta không muốn mà thôi. Làm ra vẻ ta đây quý phái lắm ấy! Tôi chỉ vì bổn phận mà đến, vậy mà bà ta lại đối xử với tôi như thế đó!”
“Bà ấy đang bị bệnh,” tôi ôn tồn nói.
“Bệnh à? Láo toét. Mục sư quá thanh cao rồi, thưa mục sư Clement. Bà ta chẳng ốm đau gì sất. Bệnh quá nên mới không đến dự buổi cho lời khai chứ gì! Lại còn có cả giấy chứng nhận của bác sĩ nữa! Ai chẳng biết bà ta xỏ mũi ông Haydock cơ chứ. À, tôi nói đến đâu rồi nhỉ?”
Tôi hoàn toàn chẳng biết. Với bà Hartnell, khó mà biết đâu là lời tường thuật và đâu là lời phỉ báng lăng mạ.
“Ô, đến đoạn tôi ghé nhà bà ta chiều hôm ấy. Nói bà ta có mặt ở nhà là dối trá. Bà ta đi vắng, tôi biết chắc.”
“Làm thế nào bà biết được?”
Mặt bà Hartnell càng ửng đỏ hơn. Với cái kiểu ít nhiều hung hăng như bà thì thái độ đó có thể gọi là đang bối rối.
“Tôi gõ cửa rồi nhấn chuông hai ba lần,” bà giải thích. “Rồi tôi chợt nghĩ biết đâu chuông bị hỏng.”
Tôi buồn cười vì thấy bà Hartnell không dám nhìn thẳng vào tôi khi nói điều này. Nhà chúng tôi được xây dựng một kiểu hệt như nhau, và khách đứng nhấn chuông ở cửa chính bao giờ cũng nghe rõ tiếng chuông kêu. Cả bà Hartnell và tôi đều biết rõ điều đó, nhưng vì lịch sự nên tôi vờ không biết, chỉ lẩm bẩm:
“Thế ư?”
“Tôi không muốn bỏ danh thiếp vào hộp thư vì như thế có vẻ khiếm nhã, mà dù gì đi nữa thì tôi cũng chưa bất lịch sự bao giờ.”
Bà ta tuyên bố điều đáng ngạc nhiên ấy mà không hề chớp mắt.
“Vậy nên tôi nghĩ mình nên đi một vòng quanh nhà — và gõ vào cửa kính,” bà trơ trẽn nói tiếp. “Tôi đánh một vòng và nhìn vào tất cả các cửa sổ, nhưng chẳng có ai trong nhà cả.”
Giờ tôi đã hoàn toàn hiểu ý bà Hartnell. Lợi dụng lúc cả nhà đi vắng, bà không cưỡng được thói tò mò nên đã đi vòng quanh, quan sát khu vườn, săm soi tất cả các cửa sổ và tìm cách nhìn vào trong. Bà ta chọn tôi để kể lại chuyện này vì tin rằng tôi dễ đồng cảm và khoan dung hơn là cảnh sát. Là mục sư, hễ còn nghi ngờ thì không buộc tội giáo dân.
Tôi không bình luận gì về tình huống này mà chỉ hỏi:
“Lúc ấy là mấy giờ, bà Hartnell?”
“Theo tôi nhớ thì khoảng gần sáu giờ. Ngay sau đó tôi quay về thẳng và đến nhà khoảng sáu giờ mười phút, rồi bà Protheroe ghé qua khoảng sáu giờ rưỡi, chúng tôi nói về việc trồng hành, còn tiến sĩ Stone và ông Redding thì đang ở bên ngoài. Và trong khoảng thời gian ấy ông đại tá đáng thương gục chết. Cuộc đời mới buồn làm sao!”
“Đôi khi cuộc đời còn xấu xa nữa,” tôi nói.
Rồi tôi đứng dậy.
“Đó là tất cả những gì bà muốn nói với tôi phải không?”
“Tôi chỉ nghĩ điều đó có thể rất quan trọng.”
“Có lẽ thế,” tôi tán thành.
Và không muốn bị lôi kéo thêm, tôi cáo từ trước sự thất vọng của bà Hartnell.
Người kế tiếp tôi đến thăm là bà Wetherby thì đón tôi với vẻ run rẩy như đang bị kích động.
“Kính mục sư, ông tử tế quá. Mục sư đã dùng trà chưa ạ? Thế à, mục sư không uống trà sao? Tấm đệm lưng đây ạ. Mục sư đến ngay thật là quý hóa. Bao giờ mục sư cũng sẵn lòng vì mọi người.”
Cứ dông dài hồi lâu như thế, ngay cả khi chúng tôi vào chuyện thì bà vẫn nói vòng vo tam quốc:
“Mục sư phải hiểu là tôi nghe được chuyện này từ nguồn tin đáng tin cậy nhất đấy.”
Ở St. Mary Mead này, nguồn tin đáng tin cậy nhất còn từ ai khác ngoài các cô hầu!
“Bà không thể cho tôi biết là ai nói điều này với bà sao?”
“Kính mục sư, tôi đã hứa với họ rồi, và bao giờ tôi cũng xem lời hứa là thiêng liêng.”
Trông bà rất nghiêm nghị:
“Cứ xem như có người mách với tôi, thế có được không thưa mục sư?”
‘Thật ngu xuẩn quá mức!’ Tôi những muốn thốt lên như thế. Ước gì tôi đã buột miệng nói, tôi chỉ muốn quan sát lời nói ấy tác động thế nào đến bà Wetherby.
“À, người ấy bảo rằng cô ta trông thấy một bà nọ, mà tôi cũng không nói tiện nói tên.”
“Lại một chị chèo bẻo khác nữa ư?” tôi hỏi.
Bà Wetherby bỗng phá lên cười ngặt nghẽo rồi vui vẻ vỗ vai tôi khiến tôi hết sức ngạc nhiên:
“Ôi, mục sư oi, ông đừng có bông đùa như thế.”
Rồi bà nói tiếp sau khi đã ngưng cười:
“Một bà quý tộc, và mục sư có biết cái bà ấy đi đâu không? Bà ta đi về phía nhà mục vụ, nhưng trước đó bà ta len lén trông trước ngó sau suốt con đường — kỳ quặc lắm — để xem có ai quen biết nhận ra bà ta không, tôi nghĩ thế.”
“Còn cô chèo bẻo kia thì đi đâu?” tôi hỏi.
“Đến thăm chàng bán cá — ở căn phòng phía trên cửa hàng cá.”
Giờ thì tôi đã biết các cô hầu đi đâu vào những ngày nghỉ việc. Có một chỗ các cô không bao giờ đến nếu có thể tránh được — là bất cứ chốn thanh thiên bạch nhật nào.
“Và lúc đó là gần sáu giờ đúng,” bà Wetherby nghiêng mình ra chiều bí mật.
“Vào ngày nào?”
“Tất nhiên là ngày xảy ra vụ giết người, tôi đã chẳng nói thế sao?” bà Wetherby khẽ kêu lên.
“Tôi đoán ra rồi,” tôi trả lời. “Quý bà ấy danh tính là chỉ?”
“Bắt đầu bằng chữ L,” bà Wetherby mấy bận gục gặc đầu. Cảm thấy đã nắm hết các thông tin bà Wetherby cung cấp, tôi bèn đứng dậy.
“Mục sư đừng để cảnh sát gọi tôi đến đối chất mục sư nhé,” bà Wetherby vừa đưa cả hai tay siết chặt tay tôi vừa cất giọng lâm li thống thiết. “Tôi rất ngại để thiên hạ biết chuyện này. Và cả chuyện phải đứng trước tòa nữa!”
“Trong những trường hợp đặc biệt, người ta cho phép nhân chứng được ngồi mà,” tôi nói rồi chuồn thẳng.
Còn phải đến thăm bà Price Ridley nữa. Quý bà này ngay lập tức giao nhiệm vụ cho tôi:
“Tôi không muốn dính líu đến công việc của cảnh sát hay tòa án, mục sư hiểu chứ?” bà nói giọng kiên quyết sau khi hờ hững bắt tay tôi. “Mặt khác, vì tôi tình cờ biết được một sự việc chưa được giải thích, nên tôi nghĩ cần phải báo cho nhà chức trách biết.”
“Chuyện có liên quan đến bà Lestrange phải không?” tôi hỏi.
“Sao lại liên quan đến bà ấy?” bà Price Ridley lạnh nhạt vặn lại.
Đến đây thì bà đặt tôi vào tình thế bất lợi.
“Là một việc hết sức đơn giản,” bà nói tiếp. “Clara, con hầu nhà tôi, lúc ấy đang đứng ở cổng nhà — nó bảo ra cổng vài phút cho thoáng đãng. Tôi phải nói là không đúng thế đâu. Nhiều khả năng là nó đang chờ thằng bán cá — cái thằng ranh con càn rỡ mặt dày mày dạn cứ ngỡ mình mười bảy tuổi là bạ đứa con gái nào cũng trêu chòng được. Dù sao thì như tôi đã nói, nó đang đứng ở cổng thì chợt nghe một tiếng hắt hơi.”
“Vâng,” tôi nói, và chờ nghe thêm.
“Có vậy thôi. Tôi thưa với mục sư rằng con bé ấy nghe một tiếng hắt hơi. Mà mục sư đừng cho rằng tôi già cả nên lú lẫn nhé, vì đây là Clara nghe thấy, mà nó chỉ mới mười chín tuổi thôi.”
“Nhưng vì sao cô ấy phải nghe tiếng hắt hơi?” tôi hỏi.
Bà Price Ridley nhìn tôi, lộ rõ vẻ thương hại cho đầu óc ngu muội của tôi.
“Vào ngày xảy ra án mạng, nó nghe thấy tiếng hắt hơi vào thời điểm trong nhà mục vụ không có ai cả. Chắc chắn kẻ giết người đang nấp trong bụi rậm chờ cơ hội ra tay. Điều mục sư cần làm là tìm ra một người đang bị cảm lạnh.”
“Hoặc là một người bị bệnh sốt mùa hè,” tôi gợi ý. “Nhưng thật ra tôi nghĩ có thể giải mã bí mật này rất dễ dàng. Cô hầu Mary nhà chúng tôi đang bị nhức đầu sổ mũi. Gần đây quả là cô ấy cứ sụt sịt mãi khiến chúng tôi phát mệt. Chắc hẳn cô hầu nhà bà đã nghe thấy tiếng hắt hơi của cô ấy.”
“Là tiếng hắt hơi của đàn ông cơ,” bà Price Ridley quả quyết. “Và từ cổng nhà chúng tôi thì không thể nghe tiếng cô hầu bên nhà mục vụ hắt hơi từ trong bếp được.”
“Từ bên cổng nhà bà, cũng không thể nghe được tiếng hắt hơi trong phòng làm việc được,” tôi nói. “Chí ít thì với tôi điều này cũng rất đáng ngờ.”
“Tên kia có thể đang nấp trong bụi rậm. Chắc chắn khi Clara trở vào thì hắn mới thừa cơ lẻn vào nhà mục vụ bằng cửa trước.”
“À, tất nhiên điều đó có thể xảy ra,” tôi nói.
Tôi cố không tỏ ra nhỏ nhẹ, nhưng tôi đã thất bại, vì bà Price Ridley trừng trừng nhìn tôi:
“Tôi đã quen với việc nói mà chẳng ai thèm nghe, nhưng tôi cũng có thể nhắc tới chuyện một cây vợt tennis bị vứt lăn lóc trên bãi cỏ mà bọn nhà báo không làm nó hư hại. Mà thời buổi này thì vợt tennis đắt tiền lắm.”
Cái lối đá xéo này thật chẳng ra làm sao, khiến tôi cực kỳ lúng túng.
“Nhưng có thể mục sư không tin,” bà Price Ridley nói.
“Ồ, tôi tin chứ — chắc chắn là tin mà!”
“Vậy thì tôi rất mừng. Tất cả chỉ có thế. Tôi chẳng chịu trách nhiệm gì về vụ này nữa.”
Bà ngả người ra phía sau, nhắm nghiền mắt như không còn quan tâm hứng thú gì với cuộc đời này. Tôi cám ơn bà và từ biệt.
Ra đến cửa, tôi đánh bạo hỏi Clara về việc bà chủ cô ta nói.
“Hoàn toàn đúng như vậy, thưa mục sư, con nghe tiếng át-xì. Mà không phải át-xì bình thường đâu — không giống chút nào.”
Có điều gì liên quan đến tội ác mà lại bình thường đâu cơ chứ. Tiếng súng cũng không bình thường. Tiếng hắt hơi cũng không bình thường. Tôi đoán chừng là tiếng hắt hơi đặc biệt của kẻ sát nhân. Tôi bèn hỏi cô gái việc ấy xảy ra lúc nào, nhưng cô ta rất mơ hồ — đâu khoảng sáu giờ mười lăm hay sáu rưỡi gì đó, cô ta áng chừng. Dù sao thì cũng ‘trước khi bà chủ nhận điện thoại và phát bệnh’.
Tôi hỏi cô đã từng nghe tiếng nổ bao giờ chưa thì cô đáp tiếng nổ kinh khủng lắm. Sau câu trả lời ấy, tôi thấy khó mà tin vào lời phát biểu của cô.
Khi về tới cổng nhà mình, tôi quyết định đến thăm một người bạn. Liếc nhìn đồng hồ, tôi thấy mình chỉ còn đủ thời gian cho việc này trước khi làm lễ chiều. Tôi đi về phía nhà Haydock. Bác sĩ ra tận cửa đón tôi.
Một lần nữa, tôi lại thấy Haydock lo lắng và phờ phạc. Vụ án này khiến ông già sọm đi thấy rõ.
“Rất vui được gặp mục sư,” ông nói. “Có tin gì mới không?”
Tôi kể cho Haydock nghe phát hiện mới về Stone. “Một tên trộm cao cấp,” ông bình luận. “Chà, điều này sẽ làm sáng tỏ nhiều việc đây. Hắn ta đã nghiên cứu kỹ bài bản, nhưng theo tôi thì đôi lúc hắn ta cũng sơ hở. Đã có lần Protheroe suýt bắt quả tang hắn rồi ấy chứ. Hẳn mục sư nhớ việc họ đã cãi nhau. Còn về cô gái thì mục sư nghĩ sao? Cô ta có dính vào vụ này không?”
“Tôi chưa thể kết luận. Riêng về phần mình, tôi nghĩ cô ấy không liên can.”
Rồi tôi nói thêm: “Cô ta dốt đặc ấy mà.”
“Ồ, tôi không nghĩ vậy đâu. Cái cô nàng Gladys Cram ấy, cô ta sắc sảo khôn ngoan lắm. Loại người cực kỳ mạnh khỏe, chẳng bao giờ làm phiền đến ngành y chúng tôi.”
Tôi bảo Haydock rằng mình đang lo lắng về Hawes, và tôi thiết tha mong cậu ấy đi đổi gió và nghỉ ngơi thực sự.
Bác sĩ có vẻ lảng tránh khi tôi nói chuyện này, và câu trả lời của ông không mấy thật lòng. Ông chậm rãi đáp: “Vâng, tôi nghĩ thế là tốt hơn cả. Khốn khổ cho Hawes! Thật đáng thương.”
“Tôi thấy ông không ưa cậu ta.”
“Đúng là không ưa — một chút xíu thôi. Nhưng với những người mình không thích thì tôi lại thấy thương hại cho họ.” Bác sĩ dừng một lúc rồi nói tiếp: “Thậm chí với Protheroe tôi cũng thấy thương hại. Khổ thân ông ta — có mấy người quý mến ông ấy đâu. Quá thẳng tính mà cũng tự tin quá mức, hai thứ ấy hợp lại thì quả là khó ưa. Ông ta bao giờ cũng thế — ngay từ hồi còn trẻ.”
“Vậy ra ông quen ông ta từ hồi ấy kia à?”
“Ồ vâng! Khi ông ta sống ở Westmorland thì tôi có phòng khám ở cách đó không xa. Từ ấy đến nay đã lâu lắm, gần hai mươi năm rồi.”
Tôi thở dài. Hai mươi năm trước thì Griselda chỉ mới năm tuổi. Ôi, thời gian quả là kỳ quặc…
“Đó là tất cả những gì ông đến để nói với tôi sao, mục sư Clement?”
Tôi giật mình ngước lên. Haydock đang nhìn như xoáy vào tôi:
“Còn có điều gì khác nữa, đúng không?”
Tôi gật đầu.
Khi đến đây, tôi còn lưỡng lự chưa biết có nên nói hay không, nhưng giờ thì tôi quyết định nói ra. Tôi mến Haydock như bất cứ người nào tôi quen biết. Ông là người tuyệt vời về mọi mặt, và tôi thấy điều mình phải nói ra có thể sẽ có ích cho ông. Nghĩ vậy, tôi bèn kể lại cuộc nói chuyện với bà Hartnell và bà Wetherby.
Nghe xong, Haydock im lặng hồi lâu.
“Hoàn toàn đúng thế, Clement ạ,” cuối cùng ông cất tiếng. “Tôi muốn bằng mọi cách bảo vệ bà Lestrange tránh khỏi những chuyện phiền nhiễu. Thật ra, bà ấy đúng là bạn cũ của tôi, nhưng đó không phải là lý do duy nhất khiến tôi làm thế. Giấy chứng nhận sức khỏe của tôi không phải là trò sắp đặt gian dối như mục sư nghĩ đâu.”
Ông dừng một lúc rồi nghiêm nghị nói:
‘‘Chuyện này chỉ tôi với mục sư biết thôi nhé, Clement. Bà Lestrange chẳng còn sống bao lâu nữa.”
‘‘Sao cơ?”
“Nhiều lắm là một tháng nữa thôi. Mục sư có còn ngạc nhiên vì sao tôi muốn bà ấy tránh khỏi bị quấy rầy và thẩm vấn nữa không?”
Bác sĩ nói tiếp:
“Chiều hôm ấy, khi bà Lestrange rẽ vào con đường này, là bà ấy đến đây — đến nhà tôi.”
“Sao trước đây ông không nói ra?”
“Là vì tôi không muốn sinh chuyện. Mọi người đều biết từ sáu đến bảy giờ không phải là giờ tôi tiếp bệnh nhân. Nhưng mục sư có thể tin lời tôi là bà ấy đã đến đây.”
“Thế nhưng khi tôi cho người đến nhà mời ông thì bà ấy không có ở đó, ý tôi là khi chúng tôi phát hiện ra tử thi.”
“Đúng là không có,” Haydock tỏ ra lúng túng. “Lúc ấy bà Lestrange đã ra về vì bà có cuộc hẹn.”
“Cuộc hẹn ở đâu? Ở tại nhà bà ấy ư?”
“Tôi không rõ Clement ạ. Xin thề là tôi không biết gì cả.”
Tôi tin Haydock, nhưng…
“Thử nghĩ, nếu có một người vô tội bị treo cổ thì sao?” tôi hỏi vặn.
Bác sĩ lắc đầu.
“Không, sẽ không có ai bị treo cổ vì mưu sát đại tá Protheroe đâu, mục sư tin tôi đi.”
Nhưng đây chính là điều tôi không thể nào tin được. Tuy vậy vẻ quả quyết trong giọng nói của ông rất tuyệt.
“Sẽ không có ai bị treo cổ cả,” ông lặp lại.
“Còn cái thằng Archer…”
Ông phác một cử chỉ sốt ruột.
“Nó chẳng đủ hiểu biết để xóa dấu tay của mình trên khẩu súng đâu.”
“Có thể là như thế,” tôi hồ nghi nói.
Rồi sực nhớ ra, tôi thò tay vào túi lấy mảnh tinh thể màu nâu nhạt vừa tìm thấy trong rừng nhờ Haydock xem đó là gì.
“Hừm,” ông ngần ngừ. “Trông giống acid picric. Mục sư tìm thấy nó ở đâu vậy?”
“Đó là bí mật của Sherlock Holmes,” tồi đáp.
Bác sĩ mỉm cười.
“Acid picric là gì kia?” tôi hỏi.
“À, đó là một loại chất nổ.”
“Tôi hiểu, nhưng nó còn có công dụng khác nữa, đúng không?”
Ông gật đầu.
“Nó được dùng trong y học — để chữa bỏng. Cực kỳ hiệu nghiệm.”
Tôi chìa tay ra, và ông miễn cưỡng trao mảnh tinh thể lại cho tôi.
“Có lẽ vật này không có gì quan trọng,” tôi nói. “Nhưng tôi đã tìm thấy nó ở một chỗ không bình thường.”
“Mục sư không cho tôi biết là ở đâu ư?”
Có thể là hơi trẻ con, nhưng tôi sẽ không nói. Ông ấy có những bí mật của mình, à, vậy thì tôi cũng phải có bí mật của tôi chứ.
Tôi cảm thấy hơi tổn thương vì Haydock chưa hoàn toàn tin tôi để có thể giãi bày tâm sự.