Số lần đọc/download: 0 / 2
Cập nhật: 2026-07-03 23:55:16 +0700
Chương 22
Khi tôi liên lạc với Thanh tra Slack qua điện thoại, ông ta ra lệnh cho tôi một cách ngắn gọn và dứt khoát. Không được loan tin đồn, đặc biệt không để lộ cho cô Cram biết. Đồng thời sẽ tiến hành điều tra về chiếc vali ở gần chỗ khai quật.
Griselda và tôi trở về nhà, lòng đầy phấn khích trước diễn biến mới này. Có mặt Dennis nên chúng tôi không thể trao đổi với nhau nhiều hơn, vì chúng tôi đã hứa chắc như đinh đóng cột với ông thanh tra là không hé môi cho bất cứ ai biết chuyện này.
Dennis đang có điều gì đó rất bối rối. Thằng bé bước vào phòng làm việc của tôi, nhấc lên đặt xuống hết vật này đến vật khác, bồn chồn bước tới bước lui đầy lo âu.
“Có chuyện gì thế Dennis?” tôi hỏi.
“Cháu không muốn theo ngành hàng hải nữa.”
Tôi thấy bất ngờ. Từ trước tới nay thằng bé vẫn luôn kiên quyết về việc chọn ngành nghề.
“Nhưng cháu thích ngành đó cơ mà.”
“Vâng, nhưng giờ thì cháu đã đổi ý.”
“Vậy cháu muốn làm gì?”
“Cháu muốn vào ngành tài chính ạ.”
Tôi càng ngạc nhiên hơn.
“Ý cháu là sao — tài chính à?”
“Đúng thế. Cháu muốn lên thành phố.”
“Nhưng Dennis ơi, ta bảo đảm cháu sẽ không thích cuộc sống ở đó đâu. Ngay cả khi ta tìm được cho cháu một nhiệm sở ở ngân hàng…”
Dennis bảo rằng ý nó không phải vậy. Nó không muốn vào làm ở ngân hàng. Tôi bèn hỏi đích xác là nó muốn gì, và tất nhiên đúng như tôi nghĩ, thằng bé thực sự không biết.
‘Vào ngành tài chính’, theo cu cậu đơn giản có nghĩa là làm giàu nhanh chóng. Với tính lạc quan của tuổi trẻ, nó nghĩ rằng cứ ‘lên thành phố’ thì chắc chắn sẽ giàu to. Tôi cố hết sức nhẹ nhàng làm cho thằng bé tỉnh ngộ trước ý nghĩ ngô nghê ấy.
“Điều gì đã khiến cháu nghĩ như vậy?” tôi hỏi. “Cháu đã hài lòng với việc chọn ngành hàng hải đến thế cơ mà!”
“Cháu hiểu thưa bác, nhưng giờ cháu nghĩ rằng ngày nào đó cháu sẽ lập gia đình — ý cháu là muốn cưới vợ thì phải giàu bác Len ạ.”
“Thực tế sẽ chứng minh lý thuyết của cháu là sai.”
“Cháu biết — nhưng cô gái là có thật. Ý cháu là một cô gái đã quen sống sung túc.”
Lời lẽ thật mơ hồ, nhưng tôi nghĩ mình hiểu thằng cháu định nói gì. Tôi từ tốn bảo:
“Cháu ạ, các cô gái khác không như Lettice Protheroe đâu.”
Thằng bé lập tức sửng cồ:
“Bác thật không công bằng với Lettice. Bác ghét cô ấy, cả Griselda cũng vậy. Bác ấy bảo mình chán Lettice.”
Đứng về cái nhìn của phụ nữ thì Griselda hoàn toàn có lý. Lettice quả là đáng chán. Tuy nhiên tôi hiểu rõ một chàng trai có thể bực bội về cách đánh giá này.
“Giá mà thiên hạ biết thông cảm một chút xíu. Tại sao ngay cả bọn nhà Hartley Napier cũng đi rêu rao khắp nơi về cô ấy vào lúc này cơ chứ! Mà chỉ vì cô ấy rời cuộc chơi tennis hơi sớm một chút thôi. Làm sao cô ấy có thể ở lại khi cô ấy đang buồn chán? Cô ấy bỏ về là hoàn toàn chính đáng, cháu nghĩ thế.”
“Hoàn toàn đúng,” tôi nói, nhưng Dennis chẳng hề nghi ngờ tôi có ác ý. Nó còn mải bất bình sôi sùng sục giùm Lettice.
“Cô ấy thực sự không chỉ nghĩ đến bản thân đâu bác ạ. Hôm nọ chính cô ấy bảo cháu ở lại chơi tiếp. Đương nhiên cháu cũng muốn đi, nhưng cô ấy không đồng ý và nói rằng như thế là không phải với nhà Napier, vì thế để cô ấy vui lòng cháu đã ở lại thêm mười lăm phút nữa.”
Quan điểm của bọn trẻ về tính không ích kỷ quả là rất kỳ quặc..
“Bây giờ cháu nghe nói Susan Hartley Napier đi đến đâu cũng rêu rao là Lettice xử sự quá tồi tệ.”
“Nếu ta mà là cháu thì ta chẳng lo lắng làm gì,” tôi nói.
“Mọi việc đều tốt thôi, nhưng mà…”
Thằng bé đột nhiên ngừng lại.
“Vì Lettice cháu — cháu có thể làm tất cả.”
“Rất ít người trong chúng ta có thể làm mọi điều cho người khác,” tôi nói. “Chúng ta càng mong muốn làm bao nhiêu thì càng bất lực bấy nhiêu.”
“Cháu chỉ muốn chết đi cho rồi,” Dennis nói.
Thương cho thằng bé. Chuyện yêu đương trẻ con quả là căn bệnh nguy hiểm chết người. Tôi chẳng dám nói thêm bất cứ điều gì khiến Dennis thêm cáu kỉnh nổi xung mà chỉ chúc nó ngủ ngon rồi về phòng mình.
Sáng hôm sau, khi xong lễ tám giờ, tôi quay về thì thấy Griselda đang ngồi ở bàn ăn với lá thư đã mở trên tay. Thư của Anne Protheroe.
GRISELDA THÂN MẾN,
Tôi sẽ rất biết ơn bà và mục sư nếu trưa nay ông bà đến dùng bữa tại nhà tôi. Đã có việc hết sức lạ lùng xảy ra, và tôi cần mục sư Clement giúp ý kiến. Xin đừng đề cập chuyện này khi đến nhà nhé, vì tôi không hề nói cho ai biết cả.
Tình thân,
ANNE PROTHEROE.
“Tất nhiên là chúng ta phải đi,” Griselda bảo.
Tôi đồng ý.
“Không biết có chuyện gì mình nhỉ?”
Tôi cũng đang tự hỏi thế.
“Mình biết không Griselda,” tôi nói, “Anh cảm thấy vụ án này chưa thực sự kết thúc đâu.”
“Ý mình là cho đến khi nào hung thủ chưa sa lưới ư?”
“Không phải. Anh không nói vậy. Theo anh còn rất nhiều uẩn khúc và dây mơ rễ má, biết bao là điều cần làm sáng tỏ thì mới tìm ra sự thật.”
“Là những việc thật ra không quan trọng nhưng lại gây cản trở, đúng không mình?”
“Phải, thế là mình đã hoàn toàn hiểu đúng ý anh.”
“Cháu nghĩ mọi người đang làm ầm ĩ mọi chuyện,” Dennis vừa nhớn một ít mứt cam vừa góp chuyện. “Ông già Protheroe ấy chết là đáng đời. Chẳng ai ưa ông ta cả. Ô, cháu biết giờ thì cảnh sát bắt đầu lo lắng — nhưng mặc kệ họ, bản thân cháu mong là họ sẽ chẳng bao giờ tìm ra thủ phạm. Cháu ghét nhìn thấy Slack được thăng chức, đi đâu cũng vênh vang khoe mẽ rằng ta đây tài giỏi lắm.” Tôi cũng đủ trần tục để tán thành ý kiến về việc thăng chức của Slack. Một con người đi đến đâu cũng làm người khác bực mình thì không hy vọng gì được mọi người yêu mến!
“Bác sĩ Haydock cũng nghĩ gần giống như cháu,” Dennis tiếp. “Ông ấy sẽ không bao giờ tố cáo kẻ sát nhân, ông ấy nói như vậy đó.”
Ý kiến của Haydock thật nguy hiểm, tôi nghĩ. Bản thân những ý kiến ấy xem ra hợp lý, nhưng lại tác động không hay đối với bọn trẻ khiến chúng suy nghĩ lệch lạc, mặc dù bản thân Haydock không hề muốn vậy.
Griselda nhìn qua cửa sổ và nhận ra đám phóng viên đang ở trong vườn nhà.
‘‘Em nghĩ họ lại chụp ảnh cửa sổ phòng làm việc đấy,” vợ tôi vừa nói vừa thở dài.
Chúng tôi đã quá khổ sở vì việc này. Thoạt tiên là thói hiếu kỳ của dân làng — một đám ăn không ngồi rồi cứ săm soi dòm ngó. Kế tiếp là cánh nhà báo trang bị máy ảnh, và dân làng lại chăm chăm theo dõi họ. Cuối cùng chúng tôi phải mời một cảnh sát từ Much Benham về canh gác vòng ngoài nhà mục vụ.
“Chà,” tôi nói, “sáng mai đưa tang rồi. Chắc chắn sau đó dân tình sẽ bớt sôi sục.”
Khi đến Old Hall, tôi nhận ra ở đó cũng có một số phóng viên đang lảng vảng quanh nhà. Họ xáp lại bắt chuyện với đủ mọi thắc mắc mà tôi chỉ đáp lại duy nhất một câu, rằng “Tôi chẳng có gì để nói.” (Chúng tôi thấy tốt nhất nên làm thế.)
Chúng tôi được người hầu đưa vào phòng khách. Hóa ra trong phòng đã có cô Cram — hình như cô đang rất phấn khởi.
“Ông bà ngạc nhiên lắm hà?” Cô vừa bắt tay chúng tôi vừa nói. “Em không hề nghĩ ra điều này, nhưng bà Protheroe tử tế lắm. Tất nhiên một đứa con gái như em mà sống một mình ở nơi như Blue Boar với đám nhà báo và đủ mọi chuyện như vầy thì đâu có hay ho gì. Nhưng em cũng đâu phải là loại không làm được việc — vào lúc này bà ấy rất cần người làm thư ký mà cô Protheroe thì có giúp gì đâu, đúng không?”
Tôi buồn cười nhận ra mối hiềm khích cũ giữa cô Cram với Lettice vẫn còn dai dẳng, nhưng hình như cô ta đã trở thành người nhiệt tình ủng hộ Anne. Đồng thời tôi cũng muốn biết câu chuyện cô Cram đến Old Hall, theo cô là do Anne đề xuất, thực sự có đúng như vậy không! Có thể ban đầu là do cô ta không thích sống một mình ở Blue Boar. Mặc dầu suy nghĩ thoáng về việc này nhưng tôi vẫn không tin cô Cram nói thật.
Ngay lúc ấy Anne Protheroe bước vào phòng trong bộ trang phục màu đen rất nền nã. Bà cầm tờ báo chủ nhật trao cho tôi với cái nhìn rầu rĩ:
“Tôi chưa từng có kinh nghiệm về những việc như thế này. Thật kinh khủng. Ở buổi thẩm tra, tôi gặp một nhà báo. Tôi chỉ bảo mình hết sức đau buồn và không biết nói gì, rồi anh ta hỏi tôi có lo lắng muốn tìm kẻ giết chồng mình không, tôi đáp ‘Có’. Kế tiếp, anh ta hỏi tôi có nghi ngờ ai không, tôi trả lời ‘Không’. Lại hỏi tôi có nghĩ là thủ phạm là người địa phương không, tôi nói chắc là như vậy. Chỉ có vậy thôi. Vậy mà mục sư xem này!” Ngay giữa trang có đăng một tấm ảnh, chụp ít nhất mười năm trước — có trời mà biết họ moi tấm ảnh ấy ở đâu ra, với dòng tít lớn:
BÀ QUẢ PHỤ TUYÊN BỐ SẼ KHÔNG YÊN LÒNG MỘT KHI CHƯA TÌM RA KẺ GIẾT CHỒNG MÌNH
Bà Protheroe, vợ góa của nạn nhăn bị mưu sát, cho biết nhất định sẽ tìm ra thủ phạm ở ngay làng này. Bà có nghi ngờ một số người nhưng không đoan chắc. Bà cho biết mình đã kiệt sức vì sầu khổ, nhưng vẫn khẳng định quyết tâm phải truy lùng bằng được kẻ sát nhân.
“Lời lẽ này đâu giống của tôi phải không, mục sư?” Anne nói.
“Tôi dám chắc là nó tệ hơn,” tôi vừa nói vừa đưa trả tờ báo.
“Quân mặt dày!” cô Cram góp lời. “Em thì mong đám phóng viên ấy bám lấy em mà moi tin.”
Thấy Griselda nháy mắt nhìn mình, tôi hiểu nàng tin cô Cram sẽ làm thế thật.
Bữa ăn trưa đã chuẩn bị xong, và chúng tôi ngồi vào bàn. Phải đến giữa bữa thì Lettice mới về, cô sà vào chiếc ghế trống, mỉm cười với Griselda và gật đầu chào tôi. Tôi chăm chú nhìn cô bé vì lý do riêng, trông cô còn lãng đãng hơn mọi khi. Cực kỳ xinh đẹp — phải công bằng thừa nhận. Cô vẫn chưa khoác áo tang mà vận trang phục màu nõn chuối làm tôn nước da trắng nuột.
Sau khi chúng tôi dùng cà phê xong, Anne khẽ khàng nói:
“Tôi muốn nói chuyện riêng với mục sư. Xin mời mục sư vào phòng khách của tôi.”
Cuối cùng thì tôi cũng sắp biết được lý do của lời mời hôm nay. Tôi đứng dậy và theo Anne lên lầu. Đến cửa phòng bà dừng lại. Tôi vừa mở miệng thì bà đưa tay ngăn tôi nói. Bà nhìn xuống sảnh dưới nhà nghe ngóng.
“Tốt rồi, họ đã đi ra vườn. Không — xin đừng vào phòng. Chúng ta đi thẳng tới đằng kia.”
Mặc cho tôi ngạc nhiên, bà ta đưa tôi đi dọc hành lang đến mé bên kia ngôi nhà, ở đó có một cầu thang hẹp dẫn lên tầng trên. Bà bước lên, và tôi đi theo. Chúng tôi đến một hành lang lát ván đầy bụi bặm. Anne mở cửa đưa tôi vào tầng áp mái rộng và tối lờ mờ được dùng làm nhà kho, ở đó chất nhiều rương hòm, bàn ghế cũ hư, vài bức tranh đàn bà ngực nở và vô số đồ lặt vật thường chất trong kho.
Thấy tôi ngạc nhiên, bà uể oải mỉm cười:
“Trước hết tôi phải giải thích, mấy hôm nay tôi thường xuyên mất ngủ. Đêm qua — đúng hơn là khoảng ba giờ sáng hôm nay, tôi chắc chắn mình đã nghe thấy có tiếng người đi lại trong nhà. Tôi nghe ngóng một lúc rồi trở dậy ra ngoài xem có gì không. Ra tới đầu cầu thang, tôi nhận thấy tiếng động không phát ra từ nhà dưới mà từ trên vọng xuống. Tôi đi dọc đến cuối hành lang và lần nữa tôi nghĩ mình đã nghe tiếng động. Tôi liền gọi với lên, ‘Ai trên đó vậy?’, nhưng không có tiếng trả lời, rồi sau đó tôi không nghe thấy gì nữa. Vì thế tôi nghĩ chắc thần kinh mình bị chập mạch, thế là tôi trở về phòng.
“Tuy nhiên sáng sớm hôm nay, tôi lên trên này — đơn giản là vì tò mò. Và tôi đã tìm thấy cái này!”
Bà cúi xuống cầm một bức tranh dựa úp vào tường và xoay nó về phía tôi.
Tôi há hốc mồm kinh ngạc. Đó là một bức chân dung bằng sơn dầu, nhưng khuôn mặt đã bị rạch nát không thể nhận diện được. Ngoài ra, rõ ràng là vết dao còn mới nguyên.
“Kỳ lạ thật,” tôi nói.
“Kỳ lạ quá phải không? Mục sư có nghĩ ra lời giải thích nào không?”
Tôi lắc đầu.
“Quả là một hành vi độc ác mà tôi không thích chút nào. Có vẻ như được thực hiện trong cơn giận dữ cuồng điên.”
“Vâng, tôi cũng nghĩ đúng như thế.”
“Chân dung của ai vậy?”
“Tôi không biết, vì trước đây tôi chưa từng trông thấy nó. Khi tôi kết hôn với Lucius và về đây sống thì tất cả những thứ này đã nằm trên gác mái rồi. Tôi chẳng bao giờ để ý đến chúng.”
“Lạ thật,” tôi nhận xét.
Tôi khom người xuống xem xét những bức tranh khác. Có thể tìm thấy rất nhiều thứ — tranh phong cảnh loại xoàng, tranh in dầu và một vài bức tranh chép lồng trong loại khung rẻ tiền, ngoài ra không có gì khác đáng giá. Một chiếc rương lớn kiểu cổ, loại trước đây thường gọi là ‘hòm’ có khắc bên ngoài hai mẫu tự E.P. Tôi giở nắp rương, bên trong trống rỗng.
“Quả là chuyện hết sức kỳ quặc,” tôi nói. “Mà cũng thật — vô nghĩa.”
“Vâng,” Anne đáp. “Làm tôi khá sợ hãi.”
Chẳng còn gì để xem, tôi theo Anne trở xuống phòng tiếp khách của bà, rồi bà đóng cửa lại.
“Mục sư nghĩ tôi nên làm gì bây giờ? Báo cảnh sát ư?”
Tôi ngần ngừ.
“Cứ xét theo bề ngoài thì khó mà nói…”
“Rằng việc này có liên quan đến vụ giết người hay không,” Anne tiếp lời. “Tôi hiểu, vì thế mà thật khó. Cứ nhìn ngoài mà xét thì có vẻ như hai việc ấy chẳng liên quan gì với nhau.”
“Không,” tôi nói, “nhưng đây lại là thêm một Điều Kỳ Lạ nữa.”
Hai chúng tôi ngồi lặng thinh cau mày. Ngay sau đó tôi hỏi:
“Giờ bà định thế nào?”
Anne ngẩng đầu lên.
“Tôi sẽ sống ở đây ít nhất sáu tháng nữa!” Bà ta nói vẻ bướng bỉnh. “Tôi ghét sống ở đây, thực sự tôi chẳng muốn chút nào, nhưng tôi nghĩ cần phải làm thế, bằng không thiên hạ sẽ bảo tôi chạy trốn — vì mặc cảm tội lỗi.”
“Chắc chắn sẽ không ai nói gì đâu.”
“Ố không, thể nào họ cũng kháo nhau như vậy, nhất là khi…” bà ngập ngừng rồi nói tiếp, “khi sáu tháng sau tôi sẽ — kết hôn với Lawrence.” Bà nhìn vào mắt tôi. “Hai chúng tôi không thể chờ đợi lâu hơn nữa.”
“Tôi nghĩ chuyện đó thế nào cũng xảy ra.”
Đột nhiên Anne như kiệt sức; bà đưa hai tay ôm lấy mặt: “Mục sư không hiểu là tôi biết ơn ông thế nào đâu — Mục sư không thể hiểu. Chúng tôi đã chia tay nhau — và chàng đã ra đi. Tôi cảm thấy — cảm thấy cái chết của Lucius đối với tôi không quá kinh khủng. Nếu chúng tôi tính cùng nhau trốn đi rồi sau đó ông ấy mới bị giết thì giờ mọi việc còn khủng khiếp hơn. Nhưng mục sư đã chỉ cho chúng tôi thấy thế là sai trái, bởi vậy tôi rất biết ơn mục sư.”
“Tôi cũng rất cám ơn,” tôi nghiêm nghị đáp.
“Dù sao đi nữa, nếu không tìm ra kẻ sát nhân thì thiên hạ sẽ luôn nghĩ rằng đó là Lawrence — ồ vâng, nhất định họ sẽ nghĩ như thế.” Bà đứng lên. “Nhất là khi chàng kết hôn với tôi.”
“Bà thân mến, chứng cứ do bác sĩ Haydock cung cấp đã hết sức rõ ràng…”
“Thiên hạ đâu có quan tâm đến chứng cứ ạ! Thậm chí họ còn không biết đến nó nữa. Một lời chứng pháp y dù sao cũng chẳng giá trị gì với người ngoài. Thêm một lý do khiến tôi phải ở lại đây. Tôi sẽ tìm ra sự thật, thưa mục sư Clement.” Vừa nói, mắt bà sáng lên. Bà tiếp thêm:
“Đó là lý do tôi mời cô gái kia đến đây.”
“Cô Cram à?”
“Vâng ạ.”
“Vậy là bà mời cô ấy. Tôi muốn nói, đó là ý của bà sao?”
“Đúng thế. Ô, mà thật ra cô ấy cũng có than vãn đôi chút ít khi gặp tôi ở buổi triệu tập của tòa. Không ạ, chính tôi đã mời cô ấy đến đây.”
“Nhưng bà không nghĩ rằng cô gái ngốc nghếch ấy chẳng có liên quan gì đến tội ác này cả sao?” tôi kêu lên.
“Làm ra vẻ ngốc nghếch thì cực kỳ dễ thưa mục sư Clement. Một trong những việc dễ nhất trên đời.”
“Vậy bà thực sự nghĩ rằng…?”
“Không, tôi không nghĩ thế. Thật thà mà nói là không. Điểu tôi đang nghĩ, là cô gái này có biết chuyện gì đó — hoặc là có thể biết. Tôi muốn tìm hiểu cô ta ở cự ly gần.”
“Và ngay cái đêm cô ta đến đây thì bức tranh bị băm nát,” tôi trầm ngâm nói.
“Mục sư nghĩ là do cô ta ư? Nhưng tại sao? Có vẻ điều ấy cực kỳ vô lý và không thể xảy ra được.”
“Với tôi, việc ông nhà bị giết ngay trong phòng làm việc của tôi cũng hết sức phi lý và không thể xảy ra. Thế nhưng nó đã xảy ra đó thôi!” tôi chưa chát nói.
“Tôi biết.” Bà đặt tay lên vai tôi. “Thật khủng khiếp cho mục sư. Mặc dù không thường nhắc đến nhưng tôi vẫn nhận ra điều ấy.”
Tôi thò tay vào túi lấy chiếc hoa tai bằng đá lazuli xanh biếc và đưa cho bà.
“Có phải của bà không?”
“Ồ vâng!” Bà cười hài lòng và xòe tay ra. “Mục sư tìm thấy ở đâu vậy?”
Nhưng tôi không đặt món trang sức vào tay bà mà nói:
“Bà vui lòng cho tôi giữ nó thêm ít lâu nhé?”
“Vậy sao, được thôi ạ.” Trông bà vừa lúng túng vừa có vẻ dò hỏi, nhưng tôi không thỏa mãn lòng hiếu kỳ của bà. Thay vào đó, tôi quay sang hỏi sắp tới bà tính chuyện tài chính ra sao.
“Mong bà thứ lỗi cho câu hỏi vô phép này, tôi thực sự không có ý gì đâu.”
“Tôi thấy không có gì là vô phép cả thưa mục sư. Mục sư và Griselda là hai người bạn thân nhất của tôi ở đây. Tôi cũng thích bà già Marple khôi hài. Lucius rất giàu có, mục sư biết đấy. Ông ấy để lại tài sản cho Lettice và tôi đồng đều nhau. Old Hall sẽ là của tôi, nhưng Lettice được phép chọn một số đồ nội thất để trang bị cho một ngôi nhà nhỏ của cô ấy. Để công bằng thì cô ấy được nhận một khoản tiền để mua nhà.”
“Vậy bà có biết kế hoạch cô ấy thế nào không?”
Anne nhăn mặt hài hước.
“Cô ấy không nói với tôi. Theo tôi, cô ấy sẽ rời khỏi nơi này càng sớm càng tốt. Cô ấy không thích tôi — chưa bao giờ, mặc dù tôi luôn cố gắng tử tế với cô ấy, nhưng dù sao đó cũng là lỗi của tôi. Tôi nghĩ chẳng cô gái nào lại yêu quý bà mẹ kế trẻ tuổi cả.”
“Nhưng bà có quý cô ấy không?” tôi hỏi huỵch toẹt. Anne Protheroe không trả lời ngay, điều dó khiến tôi tin rằng bà là một phụ nữ hết sức chân thật.
“Ban đầu thì có,” bà đáp. “Lettice là cô bé rất xinh đẹp. Còn bây giờ thì không. Tôi không hiểu vì sao nữa, có lẽ là do cô ấy không ưa tôi. Tôi muốn được người khác yêu quý mình, mục sư biết đấy.”
“Ai cũng thế cả,” tôi nói, và Anne Protheroe mỉm cười.
Tôi còn một việc nữa phải làm, là tìm cách nói riêng vài câu với Lettice. Cũng dễ thôi, tôi bắt gặp cô bé ngồi một mình trong phòng khách lớn trong khi Griselda và Gladys Cram đang ở ngoài vườn. Tôi bước vào và khép cửa lại. “Lettice ạ, ta có chút việc muốn nói với con.”
Lettice thờ ơ nhìn lên:
“Gì thế mục sư?”
Tôi đưa chiếc hoa tai xanh da trời ra và thản nhiên hỏi: “Sao con lại đánh rơi vật này trong thư phòng của ta?”
Trong khoảnh khắc cô gái ngớ người ra — nhưng cô trấn tĩnh nhanh đến nỗi chính tôi cũng không ngờ. Cô đáp: “Con không hề đánh rơi vật gì trong văn phòng của mục sư cả. Không phải của con mà là của Anne.”
“Ta biết.”
“À, vậy sao mục sư lại hỏi con? Chắc chắn là Anne đánh rơi nó.”
“Từ hôm xảy ra án mạng đến nay bà Protheroe chỉ vào thư phòng của ta có một lần; bà ấy mặc đồ tang và như vậy không thể mang hoa tai màu xanh được.”
“Trong trường hợp ấy, con nghĩ bà ta đã đánh rơi trước đó,” Lettice nói. “Hoàn toàn hợp lý.”
“Rất hợp lý,” tôi tiếp. “Mà tình cờ con có nhớ mẹ kế con mang hoa tai này lần cuối vào lúc nào không?”
“Ôi!” Cô gái lúng túng nhìn tôi chàm chằm không chút nghi ngờ. “Có quan trọng lắm không mục sư?”
“Có thể có,” tôi đáp.
“Con sẽ cố nhớ lại xem.” Cô ngồi đó nhíu mày. Tôi chưa bao giờ nhìn thấy Lettice Protheroe yêu kiều quyến rũ như lúc ấy. “À đúng rồi!” Đột nhiên cô nói. “Giờ thì con đã nhớ ra, bà ấy mang nó hôm — hôm thứ năm.”
“Thứ năm là ngày xảy ra vụ án,” tôi chậm rãi nói. “Hôm ấy bà Protheroe vào văn phòng qua ngả khu vườn, nhưng nếu con còn nhớ thì theo lời chứng bà ấy chỉ đứng ngoài cửa sổ chứ không bước vào phòng.”
“Mục sư tìm thấy nó ở đâu?”
“Nó nằm lăn lóc dưới gầm bàn viết.”
“Có thể bà ta không khai đúng sự thật thì sao?” Lettice bình tĩnh nói.
“Con định nói bà ấy bước vào phòng và đứng cạnh bàn viết ư?”
“À, có thể là như vậy, đúng không mục sư?”
Cô bình thản nhìn vào mắt tôi rồi điềm tĩnh nói tiếp:
“Nếu mục sư muốn biết thì con xin nói con không tin bà ta đã khai thật.”
“Còn ta cũng biết con không nói thật nốt, Lettice ạ.”
“Mục sư nói gì vậy?”
Cô giật mình hoảng hốt.
“Ý ta là lần cuối cùng ta nhìn thấy chiếc hoa tai này là vào ngày thứ sáu, khi ta đến đây cùng đại tá Melchett. Nó nằm cả đôi trên bàn trang điểm của mẹ kế con. Thậm chí ta đã cầm cả đôi lên xem.”
“Ôi…!” Cô gái tỏ vẻ nao núng, rồi đột nhiên vật mình xuống thành ghế và òa khóc nức nở. Mái tóc ngắn xinh đẹp của cô rũ xuống gần chạm sàn. Một dáng dấp lạ lùng — đẹp và thiếu kiềm chế.
Tôi lặng thinh để mặc cô gái nức nở một lúc rồi mới nhẹ nhàng cất tiếng:
“Vì sao con lại làm vậy, Lettice?”
“Sao ạ?”
Cô gái đứng phắt lên, hung hãn hất ngược mái tóc ra sau. Trông cô thật dữ dội — kinh hoàng nữa là khác.
“Ý ông là sao chứ?”
“Điều gì khiến con làm như vậy? Vì ghen tị? Vì ghét bỏ Anne?”
“Ôi — ôi! Đúng vậy.” Cô lại hất ngược tóc lên và có vẻ như hoàn toàn lấy lại bình tĩnh. “Phải, mục sư muốn gọi đó là ghen tuông cũng được. Con luôn ghét Anne, thậm chí ngay từ khi bà ta mới về làm bà hoàng bà chúa trong cái nhà này. Con đã để món đồ chết tiệt ấy dưới gầm bàn với hy vọng sẽ khiến cho bà ta gặp rắc rối. Chuyện ấy lẽ ra sẽ thành công nếu như mục sư không xen vào, không sờ mó các thứ trên bàn trang điểm của bà ấy. Dầu gì thì gì, đi giúp đám cảnh sát chẳng phải là việc của người tu hành đâu.”
Một cơn bộc phát đầy hằn học nhưng trẻ con, tôi không để bụng làm chi. Thực sự lúc này trông cô đúng là một đứa bé con rất đáng thương. Nỗ lực báo thù Anne theo lối trẻ con của cô có vẻ khó mà được thực hiện một cách nghiêm túc. Tôi nói với cô bé như vậy và thêm rằng tôi sẽ trả chiếc hoa tai lại cho Anne mà không nói mình đã tìm thấy nó ở đâu. Lettice có vẻ khá cảm động về điều này, cô bảo: “Mục sư tử tế quá.”
Cô ngập ngừng giây lâu, rồi vẫn ngoảnh mặt đi, cô vừa thận trọng lựa từng câu chữ:
“Thưa mục sư Clement, nếu con mà là mục sư, con nhất định — nhất định phải cho Dennis sớm rời khỏi nơi này. Con nghĩ — con nghĩ như thế sẽ tốt hơn.”
“Dennis à?” tôi nhướn mày, khá bất ngờ lẫn chút thích thú.
“Con nghĩ như thế sẽ tốt hơn.” Cô nói thêm, vẫn với vẻ ngượng nghịu: “Con xin lỗi Dennis. Con không nghĩ rằng cậu ấy — dù sao con cũng rất tiếc.”
Đến đó thì chúng tôi dừng lại.