Số lần đọc/download: 0 / 2
Cập nhật: 2026-07-03 23:55:16 +0700
Chương 18
Chiều hôm ấy thẩm tra chính thức của tòa án được tổ chức tại Blue Boar. Phải nói là cả làng đều xôn xao chấn động. Ít nhất mười lăm năm rồi ở St. Mary Mead không hề có vụ án mạng nào. Và một người như đại tá Protheroe bị ám sát ngay trong văn phòng mục sư thì quả là tin giật gân hiếm có đối với dân làng.
Tôi không chủ ý nghe lỏm nhưng những lời bàn tán lao xao cứ lọt vào tai tôi.
“Mục sư kìa. Trông mặt mũi ông ta tái nhợt đúng không? Không biết ông ta có dính líu gì không nhỉ! Dù sao thì cũng xảy ra trong nhà mục vụ mà.”
“Sao cô lại nói vậy, Mary Adams? Lúc ấy mục sư đang đi thăm Henry Abbott mà.”
“Chà! Nhưng thiên hạ bảo ông ta đã cự cãi với đại tá đấy.
Nhìn Mary Hill kìa, nó vênh váo ra vẻ ta đây được việc lắm ấy. Suỵt, điều tra viên đến rồi kìa.”
Đó là bác sĩ Roberts ở thành phố Much Benham kế bên. Ông ta hắng giọng rồi chỉnh lại đôi mục kỉnh ra chiều long trọng.
Thật mệt mỏi khi phải tóm tẩt toàn bộ các lời chứng. Lawrence Redding khai đã phát hiện tử thi và xác nhận khẩu súng là của mình. Theo sự hiểu biết chắc chắn của anh ta thì hai ngày trước đó, tức thứ ba, anh ta còn trông thấy nó. Khẩu súng để trên kệ tủ trong nhà anh ta, mà cửa ra vào thì thường xuyên không khóa.
Bà Protheroe cho lời khai rằng lần cuối cùng bà trông thấy chồng là sáu giờ kém mười lăm khi hai người chia tay trên đường làng. Bà hẹn sau đó sẽ đến đón ông ở nhà mục vụ. Vào sáu giờ mười lăm, bà đến nhà mục vụ bằng con đường làng và qua cổng sau vào vườn. Vì không nghe tiếng người bên trong phòng làm việc nên bà tưởng trong phòng không có ai, nhưng có thể chồng bà đang ngồi trước bàn viết, và trong trường hợp ấy thì bà không thể trông thấy ông. Theo bà biết, ông hoàn toàn khỏe mạnh và tỉnh táo. Bà không hề biết có kẻ nào có hiềm thù với ông.
Đến phiên mình, tôi trình bày về cuộc hẹn với Protheroe và cú điện thoại gọi tôi đến nhà ông Abbott. Tôi mô tả việc đã phát hiện tử thi và gọi bác sĩ Haydock đến ra sao.
“Mục sư Clement, có bao nhiêu người biết rõ chiều hôm ấy đại tá Protheroe đến nhà ông?”
“Tôi nghĩ là rất nhiều. Bà nhà tôi và cháu trai tôi biết, và sáng hôm ấy khi gặp nhau trong làng thì đại tá Protheroe cũng đã nhắc đến việc này. Ông ấy hơi lãng tai nên nói rõ to, tôi nghĩ một số người có thể tình cờ nghe được.”
“Thế thì bất cứ ai cũng có thể biết việc ấy đúng không?”
Tôi đồng ý.
Tiếp theo là Haydock. Ông là một nhân chứng quan trọng. Ông mô tả kỹ lưỡng và bài bản tình trạng của tử thi và vết thương. Theo ý kiến của ông thì nạn nhân bị bắn trong lúc đang viết thư. Ông ước tính thời điểm chết là vào khoảng sáu giờ hai mươi đến sáu giờ rưỡi — và chắc chắn không thể trễ hơn sáu giờ ba mươi lăm. Đó là giới hạn tối đa, ông nhấn mạnh điều này một cách quả quyết. Không có vấn đề tự sát vì vết thương không phải do tự ý gây ra.
Lời chứng của viên thanh tra rất thận trọng và ngắn gọn. Ông kể lại việc mình được gọi đến và trông thấy xác chết trong tình trạng thế nào. Bức thư viết dở được tìm thấy với thời điểm sáu giờ hai mươi phút ghi đầu thư. Rồi cả chuyện chiếc đồng hồ để bàn, xem như xác nhận thời điểm nạn nhân bị giết là sáu giờ hăm hai phút. Cảnh sát không phát hiện gì thêm. Sau đó Anne Protheroe nói với ông rằng bà nghĩ thời điểm mình đến nhà mục vụ là sớm hơn sáu giờ hai mươi một chút.
Mary, cô hầu của gia đình tôi là nhân chứng tiếp theo. Cô ta tỏ ra hung hăng ngỗ ngược khi nói rằng mình chẳng nghe thấy gì mà cũng không muốn nghe bất cứ điều gì. Đâu phải quý ông nào đến thăm mục sư cũng hở cái là bị bắn kia chứ! Không có chuyện đó. Cô ta còn bao việc phải làm. Đại tá Protheroe đến đúng sáu giờ mười lăm. Không, cô không xem đồng hồ mà nghe chuông nhà thờ điểm khi vừa đưa ông đại tá vào văn phòng. Cô không nghe bất cứ tiếng súng nào. Nếu có tiếng súng thì cô phải nghe thấy chứ. À, tất nhiên cô biết là phải có súng nổ vì quý ông ấy đã bị bắn — nhưng cô không nghe. Có vậy thôi.
Nhân viên điều tra không hỏi gì thêm. Tôi nhận ra ông ta và đại tá Melchett đã thống nhất ý kiến với nhau.
Bà Lestrange được triệu đến làm nhân chứng, nhưng có giấy của bác sĩ Haydock chứng nhận bà ta bệnh nặng không tham dự được.
Chỉ còn một nhân chứng nữa, một bà lão run lập cà lập cập, người mà theo cách nói của Slack là ‘làm việc nhà’ cho Lawrence Redding.
Bà Archer được đưa cho xem khẩu súng và thừa nhận mình đã nhìn thấy nó trong phòng khách nhà ông Redding. “Ông ấy để nó ở trên kệ sách.” Bà ta nhìn thấy nó lần cuối cùng vào ngày xảy ra án mạng. Phải — khi được hỏi lần nữa, bà hoàn toàn chắc chắn là vào giờ ăn trưa ngày thứ năm — một giờ kém mười lăm, khi bà ra về thì khẩu súng vẫn còn ở đó.
Tôi nhớ lại những gì viên thanh tra nói và hơi ngạc nhiên. Dù cho bà lão có mơ hồ đến đâu khi bị ông ta thẩm vấn thì lúc này đây bà ta lại hoàn toàn quả quyết.
Nhân viên điều tra tóm tắt nội dung vụ án với thái độ khá chắc chắn. Lời phán quyết hầu như lập tức được đưa ra: Vụ mưu sát do một hay nhiều người giấu mặt thực hiện.
Khi rời phòng, tôi nhận ra một nhóm thanh niên mặt mày sáng sủa khôn lanh, nhìn bề ngoài giông giống nhau, trong đó một số đã thường xuyên lảng vảng trước nhà mục vụ mấy hôm nay. Tôi tìm đường lánh bằng cách quay vào Blue Boar, may sao gặp ngay tiến sĩ Stone, nhà khảo cổ. Tôi túm lấy ông ta chẳng cần giữ ý tứ.
“Là đám nhà báo!” tôi nói ngắn gọn. “Ông giúp tôi thoát khỏi nanh vuốt bọn họ được không?”
“Sao, nhất định rồi mục sư Clement. Mời ông lên lầu với tôi.”
Ông ta đưa tôi theo lối cầu thang chật hẹp lên phòng khách của mình, cô Cram đang ngồi lóc cóc gõ máy chữ một cách chuyên nghiệp. Cô toét miệng cười chào tôi và chớp thời cơ để nghỉ tay.
“Khủng khiếp quá nhỉ?” cô nói. “Tìm không ra thủ phạm, ý em là vậy. Nhưng không phải vì em thất vọng về kết quả thẩm tra của tòa mà là vì nó nhạt nhẽo quá đi, phải nói như vậy. Từ đầu đến cuối chẳng có tình tiết nào gây hứng thú cả.”
“Lúc nãy cô cũng có mặt à, cô Cram?”
“Phải, em đã có mặt. Quái lạ sao mục sư không nhìn thấy em nhỉ. Mục sư không thấy em thiệt sao? Em hơi bị tổn thương đó nha. Đàn ông thì phải tinh mắt chứ, có là mục sư cũng phải vậy.”
“Ông cũng có mặt à?” Tôi quay sang tiến sĩ Stone nhằm thoát khỏi lối đùa bỡn thiếu nghiêm túc ấy. Các cô gái trẻ như cô Cram luôn làm cho tôi ngượng nghịu lúng túng.
“Không, tôi e là mình rất ít quan tâm đến những việc như thế. Tôi là người chỉ thiết tha với sở thích riêng của mình.”
“Hẳn phải là một sở thích hết sức thú vị,” tôi nói.
“Có thể mục sư cũng biết đôi chút về công việc này chứ?”
Tôi buộc phải thú nhận mình hầu như mù tịt, nhưng tiến sĩ Stone không phải người dễ nản lòng vì lời thú nhận ấy. Kết quả cứ như là tôi đã tuyên bố việc khai quật các ngôi mộ là thú tiêu khiển duy nhất của tôi vậy. Ông ta ào ào tuôn ra hàng tràng nào là loại lăng mộ dài với lăng mộ tròn, nào thời kỳ đồ đá với thời kỳ đồ đồng, rồi thời kỳ đồ đá cũ, thời kỳ đồ đá mới, nào là kistvaens với đá vòng cromeic. Tôi chẳng biết làm gì ngoài việc gật gù ra vẻ hiểu biết khiến tiến sĩ Stone càng được thể oang oang. Ông ta vóc người thấp bé, đầu tròn hói sọi, mặt tròn trĩnh hồng hào, rạng rỡ tươi cười sau cặp kính dày cộp. Tôi chưa từng thấy người nào ít được hưởng ứng mà lại nhiệt tình nhiều đến thế. Ông ta sẵn sàng tranh luận với mọi ý kiến ủng hộ hoặc phản bác mình — mà tiện thể tôi nói luôn là tôi chẳng hiểu gì sất!
Ông ta kể lể dông dài việc mình và đại tá Protheroe khác nhau về quan điểm ra sao.
“Một con người thô lỗ và ngoan cố,” Stone hăm hở. “Vâng, vâng, tôi biết với người quá cố thì không nên lôi cái xấu của họ ra. Nhưng ông ta có chết thì sự thật vẫn là sự thật. Cộc cằn và ngoan cố, đó là mô tả chính xác về ông ta. Mới đọc được vài ba cuốn sách mà ông ta dám cho mình cái quyền — chống lại một người suốt đời nghiên cứu về đề tài này sao! Trọn đời tôi đã cống hiến cho công trình này, mục sư Clement ạ. Trọn đời tôi…”
Vì quá xúc động nên tiến sĩ Stone líu cả lưỡi. Cô Cram kéo ông ta trở về thực tại bằng một câu ngắn gọn:
“Ông coi chừng bị trễ tàu đó!”
“Ôi!” Người đàn ông nhỏ thó dừng lại giữa câu rồi rút đồng hồ trong túi ra xem. “Ôi trời, còn mười lăm phút nữa thôi à? Không thể như thế được.”
“Mỗi lần nói chuyện là ông chẳng bao giờ nhớ đến giờ giấc. Không có em coi sóc thì ông làm sao hả?”
“Hoàn toàn chính xác, cô bé ạ, hoàn toàn chính xác.” Ông ta thân mật vỗ vai cô. “Cô gái này tuyệt lắm, mục sư Clement ạ. Không bao giờ quên việc gì. Tôi thấy mình cực kỳ may mắn khi có cô ấy.”
“Ôi, tiến sĩ Stone, nhanh lên,” cô gái nói. “Ông nói vậy là làm hư em đó nha.”
Tôi không thể không cảm thấy mình cần ủng hộ luồng dư luận thứ hai — về một cuộc hôn nhân hợp pháp giữa tiến sĩ Stone và cô Cram trong tương lai. Tôi nghĩ bản thân cô Cram là một cô gái khá khôn ngoan.
“Ông nên đi thôi,” cô Cram nói.
“Phải, phải, tôi phải đi.”
Ông ta biến qua phòng bên rồi trở lại với vali trên tay.
“Ông đi à?” tôi ngạc nhiên hỏi.
“Tôi chỉ lên thành phố vài hôm,” ông ta giải thích. “Ngày mai thăm mẹ tôi và giải quyết vài việc với luật sư của tôi vào ngày thứ hai. Thứ ba tôi về. Mà này, tôi nghĩ cái chết của đại tá Protheroe không làm thay đổi mọi việc chúng tôi đã sắp xếp, ý tôi là cuộc khai quật ấy. Bà Protheroe sẽ không cản trở chúng tôi tiếp tục công việc chứ?”
“Tôi nghĩ là không.”
Khi ông ta nói vậy, tôi tự hỏi ai sẽ là người thực sự có quyền ở Old Hall đây. Có thể Protheroe chỉ sẽ trao quyền ấy cho Lettice. Giá như biết được nội dung bản di chúc của Protheroe thì hay biết mấy, tôi nghĩ.
“Cái chết của một người thường gây biết bao rắc rối cho người thân của họ,” cô Cram buồn bã nhận xét. “Mục sư không thể tin được chuyện đó nhiều lúc tệ hại ra sao.”
“Chà, giờ tôi phải đi đây.” Tiến sĩStone loay hoay kiểm tra vali với tấm chăn du lịch và chiếc ô cồng kềnh. Tôi bước đến giúp nhưng ông ta phản đối.
“Không dám phiền — không dám phiền, tôi tự xoay xở được mà. Chắc chắn ở tầng dưới phải có người.”
Nhưng ở dưới nhà chẳng có ai cả. Tôi ngờ rằng bọn họ đang mải chạy theo hóng hớt với đám nhà báo. Đã gần đến giờ nên chúng tôi cùng nhau ra ga, tiến sĩ Stone mang vali còn tôi giữ tấm chăn và chiếc ô.
Trong lúc chúng tôi hấp tấp đi, tiến sĩ Stone vừa thở hổn hển vừa nhận xét:
“Mục sư thật tốt bụng — tôi không định — làm phiền mục sư… Mong sao không — trễ tàu. Gladys là cô gái tốt — thực sự tuyệt vời — rất tốt tính — nhưng cảnh nhà không êm ấm, tôi e là thế — tuyệt đối — tâm hồn trẻ thơ — tâm hồn trẻ thơ — mặc dù chúng tôi chênh lệch tuổi tác — nhưng hợp với nhau lắm…”
Tôi nghĩ bà Marple mà có mặt ở đây, có lẽ bà ấy sẽ có vài so sánh đắt giá!
Ngay khi rẽ vào nhà ga, chúng tôi nhìn thấy nhà của Lawrence Redding. Ngôi nhà đứng biệt lập, xung quanh không có nhà ai khác. Tôi quan sát hai thanh niên vẻ bảnh bao đang đứng ở ngưỡng cửa và một đôi khác đang săm soi nhìn qua cửa sổ. Quả là một ngày bận rộn cho báo giới.
“Cậu Redding là chàng trai tử tế,” tôi nhận xét để thử xem bạn đồng hành của mình nói gì.
Lúc ấy tiến sĩ Stone đang thở dốc đến nỗi khó mở miệng nói, thế nhưng ông ta vẫn hổn hển thốt ra một từ mà thoạt đầu tôi không sao nghe rõ.
“Nguy hiểm,” ông ta thở dốc khi tôi bảo ông ta lặp lại nhận xét của minh.
“Nguy hiểm à?”
“Cực kỳ nguy hiểm. Bọn con gái ngây thơ nhẹ dạ — chẳng biết gì — mà rơi vào tay một gã như thế — lúc nào cũng lượn lờ quanh đàn bà… Không tốt.”
Từ đó tôi luận ra rằng cô nàng Gladys không phải không để mắt tới chàng thanh niên duy nhất trong làng này.
“Ơn Chúa, tàu kia rồi!” tiến sĩ Stone kêu lên.
Lúc ấy chúng tôi đã vào đến ga và phải chạy nước rút. Tàu từ London về đang đỗ trong sân ga còn tàu đi London thì vừa mới đến.
Ở cửa phòng vé chúng tôi va phải một thanh niên khá lịch sự, và tôi nhận ra là cháu của bà Marple vừa mới xuống tàu. Tôi nghĩ anh ta là người không thích bị người khác va chạm. Anh ta tỏ ra kiêu hãnh với điệu bộ đĩnh đạc và phớt lờ xung quanh, và rõ ràng cứ va chạm đã làm xấu cái hình ảnh đĩnh đạc ấy. Anh ta loạng choạng lùi bước, còn tôi vội vàng xin lỗi rồi đi tiếp. Tiến sĩ Stone lên tàu; tôi chuyền hành lý lên cho ông ta vừa đúng lúc đoàn tàu rùng mình chuyển bánh.
Tôi vẫy tay chào Stone rồi quay về. Raymond West đã đi rồi, nhưng viên dược sĩ ở làng tôi, người luôn tự hào với cái tên Cherubim, thì chuẩn bị đi vào làng. Tôi bước sóng đôi với anh ta.
“Suýt nữa thì trễ tàu,” anh ta nhận xét. “À, buổi lấy lời khai diễn ra thế nào, mục sư Clement?”
Tôi đưa anh ta xem bản phán quyết.
“Ô, hóa ra là vậy! Bản phán quyết mà như vầy sao? Tiến sĩ Stone đi đâu vậy mục sư?”
Tôi lặp lại điều nhà kháo cổ nói với tôi lúc nãy.
“May là không trễ tàu. Tuyến đường này chẳng biết đâu mà lần. Tôi phải nói với mục sư, đây là nỗi ô nhục. Ô nhục, tôi gọi như vậy. Tôi đáp chuyến tàu về, bị trễ mười phút, lại vào ngày thứ bảy… Rồi thứ tư — không có chuyến, thứ năm thì có — phải, tôi nhớ đó là ngày xảy ra án mạng vì tôi định viết đơn kiện công ty — nhưng vụ án xảy ra khiến tôi quên bẵng — phải, là thứ năm tuần trước. Tôi đi họp ở Hội Dược học. Mục sư có biết chuyến tàu sáu giờ năm mươi phút khởi hành chậm bao nhiêu không? Nửa tiếng đồng hồ! Chính xác là trễ nửa tiếng đồng hồ! Mục sư nghĩ sao về việc này? Mười phút thì tôi không kể. Nhưng nếu tàu không đến kịp lúc bảy giờ hai mươi, à, thì anh không thể về đến nhà trước bảy giờ rưỡi được! Bởi vậy tôi muốn nói vì sao lại gọi chuyến tàu ấy là chuyến sáu giờ năm mươi phút được chứ?”
“Hoàn toàn đúng,” tôi nói, rồi tìm cách thoát khỏi cuộc độc thoại của ông ta, cáo lỗi vì có việc cần gặp Lawrence Redding mà tôi thấy đang tiến đến gần chúng tôi từ phía bên kia đường.