Số lần đọc/download: 0 / 2
Cập nhật: 2026-07-03 23:55:16 +0700
Chương 17
Sáng hôm sau Thanh tra Slack đến tìm tôi. Ông ta không còn tỏ ra dè dặt lạnh lùng, tôi nghĩ. Cuối cùng có thể ông ta đã quên sự cố về chiếc đồng hồ.
“Này mục sư,” ông ta chào tôi. “Tôi đã tìm ra cuộc gọi đến máy của ông.”
“Thật sao?” tôi háo hức hỏi.
“Khá là kỳ quặc. Nó được gọi từ tòa nhà nằm ở Cửa Bắc gần Old Hall. Hiện giờ nhà ấy bỏ trống, nhân viên bảo vệ cũ đã nghỉ hưu còn người mới thì chưa đến. Địa điểm này vắng vẻ và rất thuận lợi — có một cửa sổ mở ra phía sau nhà. Trên máy điện thoại không có dấu vân tay — nó đã được xóa sạch. Là có chủ ý đó.”
“Ý ông là sao?”
“Điều đó cho thấy cuộc gọi nhằm mục đích kéo mục sư ra khỏi nhà, vì thế đây là vụ giết người có tính toán trước. Nếu chỉ là một trò đùa vô hại thì người gọi đã không cẩn thận xóa dấu vân tay như thế.”
“Tôi hiểu.”
“Điều đó cũng chứng tỏ tên giết người rất thông thuộc Old Hall và các ngôi nhà lân cận. Không phải bà Protheroe gọi điện, tôi đã ghi chép cẩn thận mọi hoạt động chiều hôm ấy của bà ta. Có đến nửa tá người hầu thề thốt ràng cho đến năm giờ rưỡi bà ấy vẫn còn ở nhà. Sau đó xe đưa đại tá Protheroe và bà ta vào làng. Ông đại tá đi gặp Quinton, bác sĩ thú y về chuyện chữa bệnh cho con ngựa của mình. Bà Protheroe vào đặt hàng ở cửa hàng tạp phẩm và hàng cá, sau đó bà ấy đi thẳng đến con đường phía sau làng, nơi bà Marple gập bà ta. Các cửa hàng đều xác nhận bà ta không mang túi xách bên mình. Bà Marple già ấy nói đúng.”
“Bà ấy bao giờ cũng đúng,” tôi ôn tồn nói.
“Cô Protheroe thì ở Much Benham đến năm giờ rưỡi.”
“Đúng thế,” tôi nói. “Cháu trai tôi cũng ở đó.”
“Cô ấy ngoại phạm. Các cô hầu cũng vậy — dù họ có đôi chút hoảng loạn và lo âu, nhưng mình mong đợi gì ở họ cơ chứ? Tất nhiên là tôi chú ý đến viên quản gia — với mọi việc đã được ghi nhận. Nhưng tôi nghĩ anh ta chẳng biết gì về chuyện này.”
“Việc điều tra của ông xem ra chưa có kết quả tích cực, ông thanh tra nhỉ.”
“Có chỗ tốt có chỗ không, thưa mục sư. Có một việc rất kỳ quặc vừa xảy ra — có thể nói là hoàn toàn bất ngờ.”
“Thật sao?”
“Mục sư có nhớ bà Price Ridley hàng xóm của ông sáng hôm qua gây náo loạn về việc bà ấy bị khủng bố bằng điện thoại không?”
“Có chứ.
“À, chúng tôi truy tìm cuộc gọi cốt chỉ để trấn an bà ấy — thế mà mục sư có nghĩ ra nó xuất phát từ đâu không hở trời?”
“Từ trạm điện thoại công cộng à?” tôi đánh bạo hỏi lại. “Không phải, mục sư Clement. Từ nhà Lawrence Redding.”
“Cái gì?” tôi kinh ngạc kêu lên.
“Phải. Khá kỳ quặc đúng không? Redding không liên quan gì đến chuyện đó. Vào lúc ấy, sáu giờ rưỡi, anh ta đang trên đường đến quán Blue Boar với tiến sĩ Stone trước mắt bàn dân thiên hạ. Vậy mà có cuộc gọi. Đáng suy nghĩ phải không? Có người bước vào nhà anh ta để gọi điện thoại, vậy đó là ai? Hai cú điện thoại kỳ lạ trong cùng một ngày khiến ta nghĩ chúng có liên quan với nhau. Nếu không phải cùng một người gọi thì tôi đi đầu xuống đất thôi.”
“Nhưng vì mục đích gì mới được?”
“À, đó là điều chúng ta phải tìm cho ra. Có vẻ như không có gì đặc biệt trong cú điện thoại thứ hai, nhưng nhất định phải có ý nghĩa nào đó. Mục sư có hiểu dụng ý của việc này không? Cú điện thoại từ nhà Redding. Khẩu súng cũng của Redding. Như vậy mọi nghi vấn đều dồn vào Redding cả.”
“Nếu cú điện thoại thứ nhất được gọi từ nhà anh ta thì mới nhiều nghi vấn hơn chứ.”
“Ô, nhưng tôi suy nghĩ về việc này rồi. Redding đã làm gì trong hầu hết các buổi chiều? Anh ta đến Old Hall vẽ cô Protheroe. Từ nhà mình anh ta đi xe máy về hướng Cửa Bắc. Giờ thì mục sư đã thấy mục đích của cú điện thoại xuất phát từ hướng ấy chưa? Kẻ sát nhân là người không biết về cuộc cãi cọ, rằng Redding không còn đến Old Hall nữa.”
Tôi suy nghĩ hồi lâu để tiếp thu những nhận xét của viên thanh tra. Chúng có vẻ hợp lý và tất yếu.
“Trên máy điện thoại nhà ông Redding có dấu vân tay không?” tôi hỏi.
“Không có,” Slack chưa chát trả lời. “Mụ già chết tiệt làm việc nhà cho anh ta đã xóa mất hồi sáng hôm qua rồi.” Ông ta nổi cáu hồi lâu. “Con mụ điên ngu xuẩn. Cũng chẳng nhớ mình thấy khẩu súng lần cuối cùng vào lúc nào. Buổi sáng xảy ra án mạng, nó còn nằm ở đó mà cũng có thể không. Mụ ta không thể nói là mình đoan chắc điều gì cả. Bọn đàn bà giống hệt nhau!
“Tôi đến thăm tiến sĩ Stone cho đúng thủ tục mà thôi, và phải nói là ông ta rất hài lòng về việc ấy,” Slack tiếp tục. “Ông ta và cô Cram đến gò đất — chỗ khai quật ấy — vào khoảng hai giờ rưỡi chiều hôm qua và ở lại đó suốt buổi chiều. Tiến sĩ Stone về trước một mình, còn cô kia về sau. Ông ta nói mình không nghe thấy tiếng súng, nhưng cũng thừa nhận là mình đãng trí. Tuy nhiên điều đó cũng xác nhận những gì chúng ta nghĩ.”
“Hiềm một nỗi là ông vẫn chưa tóm được tên sát nhân.”
“Hừm, cú điện thoại gọi cho mục sư là giọng phụ nữ,” thanh tra nói. “Rất có thể điện thoại gọi cho bà Price Ridley cũng là giọng phụ nữ. Giá như phát súng ấy đừng nổ gần thời điểm có cuộc gọi — à, thì tôi biết phải tìm ở đâu rồi.”
“Ở đâu?”
“Ô! Tốt nhất không nên nói ra, thưa mục sư.”
Tôi đánh bạo mời ông ta một cốc rượu vang port*. Tôi có ít rượu vang lâu năm tuyệt ngon. Mười một giờ trưa không phải là giờ uống rượu vang, nhưng tôi nghĩ Thanh tra Slack chẳng nề hà việc ấy. Tất nhiên lạm dụng rượu là chẳng hay ho gì, nhưng cũng không nên quá câu nệ về những việc như thế.
Sau khi Thanh tra Slack làm xong cốc thứ hai, ông ta bắt đầu bớt căng thẳng và trở nên vui vẻ, đó là do tác dụng của loại vang đặc biệt.
“Tôi nghĩ chuyện này không liên quan đến ông, thưa mục sư,” ông ta nói. “Mục sư sẽ giữ kín chứ? Đừng để giáo dân ở đây biết nhé.”
Tôi cam đoan với ông ta lần nữa.
“Do toàn bộ sự việc xảy ra trong nhà của ông, tôi nghĩ mục sư có quyền được biết.”
“Tôi cũng nghĩ vậy,” tôi nói.
“Tốt. Nào thưa mục sư, ông biết gì về bà phu nhân đã đến thăm đại tá Protheroe vào buổi tối trước ngày xảy ra án mạng?”
“Bà Lestrange à,” tôi ngạc nhiên kêu lên.
Ông thanh tra ném cho tôi cái nhìn trách móc.
“Đừng kêu to như thế, ông mục sư. Bà Lestrange là người tôi đang theo dõi. Mục sư có nhớ tôi đã nói gì với ông không — tống tiền.”
“Khó có thể là lý do mưu sát, bởi như thế khác nào giết một con gà đang đẻ trứng vàng? Cứ cho giả thuyết của ông đúng đi nữa thì tôi cũng không chấp nhận.”
Thanh tra Slack nháy mắt nhìn tôi theo cung cách rất thông thường.
“Chà! Bà ta là người mà bậc quý tộc luôn đứng ra che chở. Nhìn xem thưa ngài. Giả sử trước đây bà ta đã từng tống tiền ông đại tá. Nhiều năm sau, bà ta lại đánh hơi ra chỗ ông ta và tìm đến lặp lại chiêu cũ. Thế nhưng, mọi việc giờ đã khác xưa. Luật lệ cũng có quy định mới, người ta dễ dàng khởi kiện việc bị hăm dọa tống tiền mà tên tuổi không bị đưa lên mặt báo. Giả dụ đại tá Protheroe đã phản ứng và nói sẽ nhờ pháp luật can thiệp. Bà ta rơi vào tình thế hiểm nghèo, vì bản án dành cho tội tống tiền rất nặng nề. Tình thế đã đảo ngược, vì vậy việc duy nhất bà ta có thể làm là nhanh chóng ra tay trừ khử ông ấy.”
Tôi lặng thinh. Phải thừa nhận tình huống mà thanh tra đưa ra là hợp lý. Duy chỉ một điều mà thâm tâm tôi không chấp nhận — là nhân cách bà Lestrange.
“Tôi không đồng ý với ông, thanh tra ạ,” tôi nói. “Theo tôi, bà Lestrange không phải là kẻ chuyên hăm dọa tống tiền. Bà ấy — à, từ này đã lỗi thời, nhưng bà ấy quả là một — mệnh phụ.”
Ông ta ném cho tôi cái nhìn thương hại.
“Ái chà chà! Thưa ngài, ngài là nhà truyền giáo. Chuyện xảy ra thì ngài chỉ biết nửa vời. Mệnh phụ phu nhân à! Nhưng ngài sẽ bất ngờ nếu biết những gì tôi nắm được.”
“Tôi không mảy may đề cập đến vị thế xã hội. Dù sao đi nữa tôi cũng cho rằng bà Lestrange thuộc loại quý tộc sa cơ. Điều tôi muốn nói là — phong cách cao quý của bà ấy.”
“Tôi không nhìn bà ta theo cách nhìn của ông, thưa mục sư. Tôi cũng là đàn ông, nhưng tôi còn là cảnh sát. Các bà ấy không thể lừa phỉnh tôi bằng cái vẻ thanh lịch tao nhã đâu. Sao chứ, bà ta là loại người có thể đâm người khác một dao lút cán mà không chút ghê tay.”
Rất kỳ lạ là tôi lại thấy có thể tin bà Lestrange phạm tội giết người dễ dàng hơn tin bà ta có khả năng hăm doạ tống tiền.
“Nhưng lẽ dĩ nhiên bà ta không thể cùng lúc vừa gọi điện cho bà Price Ridley vừa sát hại đại tá Protheroe được,” thanh tra nói tiếp.
Vừa thốt mấy lời ấy ra khỏi cửa miệng thì ông ta bỗng vỗ đùi đánh đét.
“Rõ rồi,” Slack kêu lên. “Đó chính là mục đích của cú điện thoại. Một loại chứng cứ ngoại phạm, vì biết thế nào chúng ta cũng liên kết hai sự việc với nhau. Tôi sẽ nghiên cứu việc này. Có thể bà ta đã mua chuộc một thằng nhóc nào đó gọi điện thoại giùm mình. Nó sẽ không bao giờ nghĩ việc này có liên hệ đến vụ giết người.”
Viên thanh tra hấp tấp ra về.
“Bà Marple muốn gặp mình đấy,” Griselda thò đầu vào gọi. “Bà ấy gửi một bức thư hết sức thiếu mạch lạc — chữ viết ngoằn ngoèo và gạch dưới toàn bộ. Em hầu như không đọc được thư. Rõ ràng bà ta không thể ra khỏi nhà một mình. Mình hãy mau đến nhà bà ấy xem có việc gì. Em sắp đón các bà bạn, chứ không thì em đã đích thân đi rồi. Em ghét các bà già ấy — họ lại than phiền với mình về chuyện đau chân nhức giờ, có khi còn chìa cả chân ra nài nỉ mình xem nữa. May sao cuộc thẩm vấn diễn ra chiều nay! Mình sẽ không phải dự trận đấu cricket của câu lạc bộ nam.”
Tôi vội vã lên đường, lòng rất băn khoăn về lý do của lời mời gọi này.
Tôi trông thấy bà Marple trong tình trạng bối rối. Mặt bà đỏ ủng, nói năng rời rạc không đâu vào đâu.
“Cháu trai của tôi,” bà nói, “Raymond West cháu của tôi là nhà văn. Hôm nay nó về đây thưa mục sư. Tôi rối quá. Một mình tôi phải lo mọi việc. Không thể trông cậy vào người hầu phơi phóng giường chiếu cho ra hồn, lại còn phải chuẩn bị cho bữa ăn tối nay nữa. Người quyền quý bao giờ cũng dùng nhiều thịt đúng không ạ? Còn thức uống nữa — nhất định phải có ít rượu trong nhà — rồi ống hút nữa.”
“Tôi có thể giúp gì…” tôi mở lời.
“Ôi, mục sư tốt bụng quá. Nhưng ý tôi không phải vậy, vì thực sự còn nhiều thời gian mà. Nó tự mang ống vổ và thuốc lá về, tôi mừng quá thưa mục sư, vì khỏi mất công tìm hiểu xem cần phải mua loại thuốc lá nào. Nhưng cũng hơi buồn vì khói thuốc lá sẽ bám vào màn cửa lâu lắm mới hết mùi. Tất nhiên sáng sáng tôi sẽ mở cửa và giũ rèm cẩn thận. Raymond dậy rất muộn — các nhà văn đều thế mà. Sách nó viết rất tuyệt, tôi nghĩ thế, mặc dù nhân vật nó xây dựng đều khó chịu khó ưa. Lớp trẻ tài ba còn quá ít hiểu biết về cuộc đời, mục sư có nghĩ vậy không?”
“Bà có muốn đưa cậu ấy đến dùng bữa tối ở nhà mục vụ không?” tôi hỏi mà vẫn chưa hiểu ra vì sao mình lại được mời đến.
“Ồ không, cám ơn mục sư,” bà Marple đáp. “Thật quý hóa quá!”
“Tôi nghĩ bà có việc gì — à, cần gập tôi chứ,” tôi đánh liều gợi ý.
“Ôi, tất nhiên rồi, nhưng mải chộn rộn với việc này tôi lại quên bẵng đi.” Bà đột nhiên dừng lại và gọi cô hầu. “Emily — Emily. Không phải tấm trải giường này. Lấy tấm có chân bèo với hàng chữ thêu lồng vào nhau ấy, mà nhớ đừng đưa vào gần lò sưởi nhé.”
Bà khép cửa và nhón gót đi về phía tôi.
“Có một việc khá kỳ quặc xảy ra vào tối hôm qua,” bà giải thích. “Tôi nghĩ mục sư nên biết, mặc dù ngay lúc này thì có vẻ như nó chẳng có ý nghĩa gì cả. Đêm qua tôi không tài nào chợp mắt — cứ mải nghĩ về sự việc đau lòng kia. Rồi tôi trở dậy và nhìn ra cửa sổ. Mục sư biết tôi trông thấy gì không?”
Tôi nhìn bà dò hỏi.
“Là Gladys Cram!” bà Marple dằn từng tiếng. “Rõ ràng là cô ta đang xách một chiếc vali đi vào rừng.”
“Vali à?”
“Lạ lùng quá phải không? Nửa đêm mà mang vali vào rừng làm gì?”
Hai chúng tôi nhìn nhau trân trối.
“Mục sư thấy đó,” bà Marple nói, “tôi dám chắc chuyện này không liên quan đến vụ giết người, nhưng dù sao vẫn hết sức kỳ quặc. Mà cho đến lúc này thì chúng ta phải ghi nhận tất cả mọi chuyện kỳ quặc.”
“Quả là kỳ quặc,” tôi nói. “Có khi nào cô ta vào chỗ khai quật để — à — để ngủ lại không?’
“Hoàn toàn không,” bà Marple đáp. “Bới vì chỉ một lúc sau cô ta đã trở ra, lần này thì không xách vali.”
Chúng tôi lại nhìn nhau chàm chằm.