If you truly get in touch with a piece of carrot, you get in touch with the soil, the rain, the sunshine. You get in touch with Mother Earth and eating in such a way, you feel in touch with true life, your roots, and that is meditation. If we chew every morsel of our food in that way we become grateful and when you are grateful, you are happy.

Thích Nhất Hạnh

 
 
 
 
 
Tác giả: Agatha Christie
Thể loại: Trinh Thám
Dịch giả: Trần Hữu Khánh
Số chương: 31
Phí download: 5 gạo
Nhóm đọc/download: 0 / 1
Số lần đọc/download: 0 / 2
Cập nhật: 2026-07-03 23:55:16 +0700
Link download: epubePub   PDF A4A4   PDF A5A5   PDF A6A6   - xem thông tin ebook
 
 
 
 
Chương 16
6
Vừa bước ra thì tôi chạm mặt Haydock ở ngưỡng cửa.
Ông liếc nhìn theo Slack lúc ấy vừa ra khỏi cổng rồi hỏi:
“Thanh tra đã chất vấn bà ấy chưa?”
“Rồi.”
“Hy vọng ông ta tỏ ra lịch sự chứ?”
Trong suy nghĩ của tôi, phép lịch sự là thứ Thanh tra Slack chưa từng được học, nhưng tôi cho rằng trong chừng mực hiểu biết của bản thân, ông ta thế là đã lịch sự rồi, và dù sao đi nữa tôi cũng không muốn làm Haydock thêm lo lắng, vì trông ông ấy có vẻ bối rối lo âu. Thế nên tôi đáp rằng Thanh tra Slack vô cùng lịch sự.
Haydock gật đầu rồi bước vào nhà, còn tôi thì đi xuống phố và chẳng mấy chốc đuổi kịp viên thanh tra. Tôi hiểu ông ta cố tình đi chậm. Tuy ghét tôi nhưng ông ta không phải hạng người để cho sự yêu ghét cản trở việc moi được thông tin hữu ích.
“Mục sư biết gì về bà phu nhân ấy không?” ông ta hỏi thẳng thừng.
Tôi đáp rằng mình chẳng biết gì cả.
“Bà ấy không bao giờ kể vì sao bà ấy về sống ở đây à?”
“Không.”
“Thế nhưng mục sư vẫn đến thăm bà ta sao?”
“Đi thăm giáo dân là phận sự của tôi,” tôi đáp để tránh phải nói rằng mình được bà Lestrange mời đến.
“Hừm, cứ cho là thế.” Slack lặng thinh một lúc, rồi không cưỡng lại được bàn luận về thất bại vừa qua của mình, ông ta nói tiếp: “Tôi thấy sự việc có gì đó mờ ám.”
“Ông nghĩ vậy sao?”
“Nếu mục sư hỏi thì tôi sẽ nói đây là ‘vụ tống tiền’. Buồn cười thật, lâu nay chúng ta cứ nghĩ về đại tá Protheroe như thế, nhưng giờ mới hiểu ra là không phải thế. Mà ông ta đâu phải là người quản lý tài sản của nhà thờ đầu tiên sống cuộc sống hai mặt chứ.”
Tôi lờ mờ nhớ ra có lần bà Marple đã đề cập chuyện này.
“Ông thực sự nghĩ có khả năng ấy sao?”
“À, các sự việc khớp nhau thưa mục sư. Tại sao một quý bà sang trọng và thanh lịch lại về cái xứ khỉ ho cò gáy này? Vì sao bà ta lại đến tìm ông đại tá vào giờ ấy? Vì sao bà ta tránh mặt bà Protheroe và cô Protheroe? Đúng vậy, mọi việc hoàn toàn ăn khớp với nhau. Bà ta không dám thừa nhận, vì tống tiền là tội đáng bị trừng phạt. Nhưng chúng tôi sẽ buộc bà ấy nói ra sự thật, vì chúng tôi đều biết việc này có liên quan đặc biệt đến vụ án. Nếu đại tá Protheroe có bí mật tội lỗi nào đó trong đời — hoặc chuyện ô nhục nào đó — à, thì mục sư sẽ thấy việc ấy sẽ tạo điều kiện thế nào.”
Tôi cũng cho là như thế.
“Tôi đang cố gắng khai thác viên quản gia, anh ta có thể đã nghe lỏm cuộc trao đổi giữa đại tá Protheroe và bà Lestrange, vì bọn người ăn kẻ ở thường làm thế. Tuy nhiên, anh ta thề thốt là không biết tí gì về cuộc nói chuyện ấy. À, mà anh ta bị sa thải rồi. Ông đại tá công kích anh ta, nổi nóng vì anh ta tự ý dẫn bà Lestrange vào nhà. Viên quản gia bèn vặc lại, anh ta bảo mình chẳng thiết tha gì cái chốn này và đã nghĩ đến chuyện lúc nào đó sẽ ra đi.”
“Vậy sao?”
“Như thế lại thêm một người nữa có hiềm khích với ông đại tá.”
“Ông có đặc biệt nghi ngờ người quản gia ấy không — à, mà tên anh ta là gì?”
“Anh ta tên Reeves, và tôi không hề nói là tôi nghi ngờ anh ta. Tôi chỉ muốn nói là chẳng làm sao biết được. Tôi không ưa cái lối xun xoe thớ nợ của anh ta.”
Tôi tự hỏi không biết Reeves sẽ nói sao về cung cách của Thanh tra Slack.
“Bây giờ tôi sẽ thẩm vấn anh tài xế đây.”
“Vậy phiền ông cho tôi đi nhờ xe, tôi muốn trao đổi chút việc với bà Protheroe.”
“Về việc gì?”
“Việc chuẩn bị ma chay.”
“Ôi chà!” Thanh tra Slack hơi ngạc nhiên. “Ngày mai thứ bảy, sẽ có buổi thẩm tra chính thức.”
“Thế à? Vậy tang lễ có thể tổ chức vào thứ ba tới.” Thanh tra Slack có vẻ hơi ngượng ngùng vì sự thô lỗ của mình. Ông ta dàn hòa bằng lời mời tôi cùng dự thẩm vấn Manning, người tài xế.
Manning là một chàng trai tử tế trạc hai lăm hai sáu tuổi. Anh ta có vẻ khiếp sợ viên thanh tra.
“Nào chàng trai, tôi muốn cậu cung cấp một vài thông tin,” Slack nói.
“Vâng thưa ngài,” anh tài xế lắp ba lắp bắp. “Dĩ nhiên, thưa ngài.”
Nếu bản thân anh ta phạm tội giết người thì anh ta cũng không thể hoàng sợ hơn thế.
“Hôm qua cậu chở ông chủ vào làng phải không?”
“Vâng, thưa ngài.”
“Vào lúc mấy giờ?”
“Năm giờ rưỡi ạ.”
“Bà Protheroe cùng đi chứ?”
“Vâng, thưa ngài.”
“Cậu đi thẳng vào làng à?’
“Vâng, thưa ngài.”
“Trên đường đi cậu có dừng lại đâu đó không?”
“Thưa không.”
“Khi đến nơi thì cậu làm gì?”
“Ông đại tá xuống xe và bảo ông ấy không cần dùng xe nữa, ông ấy sẽ đi bộ về nhà. Bà Protheroe thì đi mua sắm. Hàng họ được chất lên xe, sau đó bà ấy bảo là xong việc rồi, thế là tôi đánh xe về nhà.”
“Cậu để bà Protheroe ở lại làng sao?”
“Vâng, thưa ngài.”
“Lúc ấy là mấy giờ?”
“Sáu giờ mười lăm phút, thưa ngài. Chính xác là sáu giờ mười lăm.”
“Cậu thả bà ấy ở đâu?”
“Ở gần nhà thờ, thưa ngài.”
“Ông đại tá có nói là mình đi đâu không?”
“Ông chủ bảo đi gặp bác sĩ thú y, có việc phải lo cho một con trong bầy ngựa của ông.”
“Tôi hiểu. Rồi cậu lái xe về ngay à?’
“Vâng, thưa ngài.”
“Có hai lối vào Old Hall, từ Cửa Nam và từ Cửa Bắc. Theo tôi để đi vào làng thì cậu phải đi qua Cửa Nam phải không?”
“Vâng thưa ngài, bao giờ cũng thế ạ.”
“Và khi trở về cậu cũng đi qua lối đó chứ?’
“Vâng, thưa ngài.”
“Hừm, tôi nghĩ thế là đủ. À, cô Protheroe kia kìa.” Lettice vật vờ trôi lờ lững về phía chúng tôi.
“Manning, tôi muốn dùng chiếc Fiat,” cô nói. “Anh đánh xe ra cho tôi.”
“Vâng, thưa cô.”
Anh ta bước đến chiếc ô tô hai chỗ ngồi và mở nắp capô lên.
“Gưọm đã, cô Protheroe,” Slack nói. “Tôi cần lập hồ sơ về hoạt động của mọi người vào chiều tối hôm qua, chứ không có ý làm phiền cô.”
Lettice nhìn ông ta chăm chăm.
“Tôi chẳng bao giờ để ý đến giờ với giấc.”
“Tôi nghe nói hôm qua cô ra ngoài ngay sau giờ ăn trưa?”
Cô gái gật đầu.
“Vui lòng cho biết cô đi đâu?”
“Tôi đi chơi tennis.”
“Với ai?”
“Với nhà Hartley Napier.”
“Ở Much Benham phải không?”
“Phải.”
“Rồi cô trở về lúc nào?’
“Tôi không biết. Tôi đã nói với ông tôi chả bao giờ để ý việc ấy.”
“Con trở về vào khoảng bảy giờ rưỡi,” tôi chen vào.
“Đúng rồi,” Lettice nói, “giữa lúc ấy đang có chuyện rối ren. Anne ngất xỉu và Griselda đang chăm sóc bà ấy.”
“Cám ơn tiểu thư, tôi chỉ muốn biết có vậy thôi,” Slack nói.
“Thật kỳ quặc,” Lettice nói. “Chẳng có gì hay ho cả.” Cô bước về phía chiếc xe Fiat, còn viên thanh tra thì len lén vỗ trán:
“Còn thiếu gì không nhỉ?”
“Chẳng còn gì đâu,” tôi đáp. “Nhưng cô ấy thích thế.”
“À, giờ đi tôi thẩm vấn các cô hầu đây.”
Người ta có thể không thích Slack nhưng vẫn phải ngưỡng mộ cách làm việc tích cực của ông ta. Chúng tôi chia tay, và tôi hỏi thăm Reeves xem tôi có thể gặp bà Protheroe được không.
“Giờ này bà chủ đang nghỉ, thưa mục sư.”
“Vậy tốt hơn tôi không nên làm phiền bà ấy.”
“Mục sư có thể chờ một lúc được không ạ? Tôi biết bà Protheroe đang nóng lòng được gặp ông. Lúc ăn trưa tôi nghe bà chủ nói vậy.”
Anh ta đưa tôi vào phòng khách và bật đèn vì phòng đang buông rèm.
“Mọi chuyện thật đáng buồn,” tôi nói.
“Vâng, thưa mục sư.” Giọng anh ta vừa lễ phép vừa lạnh nhạt.
Tôi nhìn anh ta. Người tài xế kia đang nghĩ gì đằng sau thái độ bình thản dửng dưng? Có khi anh ta biết chuyện gì đó và có thể kể chúng tôi nghe cũng nên! Một người hầu trung thành mà che giấu sự thật thì không còn gì tệ hại hơn. “Còn gì nữa không, thưa mục sư?”
Phải chăng có chút lo âu nấp sau vẻ mặt bình thản ấy nhỉ? “Không còn gì nữa đâu,” tôi đáp.
Tôi chỉ chờ một lúc là Anne Protheroe ra tới. Chúng tôi bàn bạc và sắp xếp một số việc. Rồi Anne thốt lên:
“Bác sĩ Haydock thật quá tốt bụng!”
“Haydock là người tử tê nhất mà tôi biết.”
“Ông ấy cực kỳ tử tế với tôi. Nhưng trông ông ấy rất buồn, đúng không mục sư?”
Trước đây tôi không hề nghĩ Haydock là người hay buồn. Đầu óc tôi cứ lật đi lật lại chuyện ấy.
“Tôi chưa từng để ý điều đó,” cuối cùng tôi nói.
“Tôi cũng thế, cho đến hôm nay…”
“Đôi khi vì gặp chuyện đau buồn khó khăn mà người ta trở nên tinh nhạy hơn,” tôi nói.
“Mục sư dạy chí phải.”
Anne ngần ngừ rồi nói tiếp:
“Thưa mục sư Clement, có một điều tôi không sao hiểu được, là nếu ông nhà tôi bị bắn ngay sau khi tôi chia tay ông ấy thì tại sao tôi lại không nghe tiếng súng nhỉ?”
“Cảnh sát đã có cơ sở để xác định sau đó súng mới nổ.”
“Nhưng còn con số 6.20 ghi trong thư thì sao ạ?”
“Có thể là do một người khác thêm vào — là kẻ giết người.”
“Kinh khủng quá!” bà ta tái mặt.
“Bà không để ý thấy tiêu đề ngày tháng không phải nét chữ ông nhà sao?”
“Cả bức thư không có chỗ nào giống nét chữ ông ấy cả.” Nhận xét ấy có phần nào đúng. Thư nguệch ngoạc khó đọc chứ không rõ ràng như trước giờ Protheroe thường viết. “Mục sư có chắc là họ không nghi ngờ Lawrence không ạ?”
“Tôi nghĩ cậu ấy rõ ràng đã được minh oan.”
“Nhưng vậy thì là ai, thưa mục sư? Tôi biết Lucius vốn không được nhiều người quý mến, nhưng tôi không nghĩ ông ấy lại có kẻ thù thực sự. Không — không có kẻ thù kiểu ấy.”
Tôi lắc đầu.
“Thật là bí ẩn.”
Tôi ngạc nhiên nghĩ đến bảy nghi can của bà Marple. Có thể là những ai?
Sau khi tạm biệt Anne, tôi lập tức hành động theo kế hoạch đã định. Từ Old Hall trở về, tôi men theo một lối mòn nhỏ. Khi đến chỗ bục trèo, tôi lại thối lui, rồi nhắm hướng các bụi cây tầm thấp có dấu chân người đi qua, tôi cố len lỏi vào tìm đường đi. Khu rừng rậm rạp, dày đặc các bụi cây nhỏ mọc lộn xộn. Tôi đi khá chậm và bất ngờ nhận ra ở cách mình không xa cũng có một người đang len lỏi qua các bụi rậm. Tôi còn đang ngần ngừ phân vân thì Lawrence Redding xuất hiện, hai tay vác một tảng đá to.
Có lẽ thấy tôi ngạc nhiên nên Redding cười phá lên:
“Ồ không, không phải là manh mối đâu, mà là tặng phẩm của hòa bình.”
“Quà tặng hòa bình ư?”
“À, cũng có thể nói là cơ sở để thương thuyết. Tôi muốn tìm một cái cớ để đến thăm bà Marple, hàng xóm của mục sư, và tôi nghe nói bà ấy không thích gì hơn là một tảng đá đẹp để xây dựng khu vườn Nhật Bản.”
“Hoàn toàn chính xác,” tôi nói. “Nhưng anh muốn gì ở lão bà ấy?”
“Là thế này. Nếu hôm qua có việc gì xảy ra thì thể nào bà Marple cũng nhìn thấy. Ý tôi là những việc không nhất thiết liên quan đến vụ án — nhưng có thể bà ấy nghĩ có liên quan. Tôi muốn nói đến những sự việc là lạ hay kỳ quặc, hoặc những chi tiết nhỏ có thể giúp chúng ta thêm cơ sở tìm ra sự thật. Những việc mà bà ấy nghĩ không đáng để báo cảnh sát.”
“Theo ta việc ấy hợp lý đấy.”
“Dù sao cũng nên làm thử xem sao. Tôi sẽ tìm hiểu đến tận cùng sự việc, mục sư Clement ạ. Vì lợi ích của Anne chứ không vì cái gì khác. Mà tôi chẳng mấy tin tưởng Slack — ông ta là người nhiệt tình, nhưng có nhiệt tình mấy đi nữa thì cũng không thông minh hơn được.”
“Ta thấy anh giống nhân vật yêu thích của tiểu thuyết, một nhà thám tử nghiệp dư,” tôi nói. “Ta không biết ngoài đời liệu Slack có thực sự chuyên nghiệp không nữa.”
Anh ta nhìn xoáy vào tôi rồi bất thần cười to. “Này ông mục sư, ông làm gì trong rừng vậy?”
Tôi đỏ bừng mật.
“Chắc cũng giống như việc tôi đang làm thôi, tôi dám thề với mục sư đấy. Chúng ta cùng chung ý tưởng đúng không? Tên sát nhân đến văn phòng bằng cách nào? Lối thứ nhất là đi dọc theo đường làng rồi vào cổng sau nhà mục vụ, lối thứ hai là vào cổng trước, còn lối thứ ba — có lối thứ ba không nhỉ? Tôi có ý xem xét liệu có dấu hiệu nào cho thấy các bụi cây quanh bờ tường của vườn nhà mục vụ bị giẫm đạp không.”
“Đó cũng chính là suy nghĩ của ta,” tôi thừa nhận. “Tuy nhiên tôi chưa thực sự bắt tay vào việc, vì tôi chợt nảy ra ý muốn gặp bà Marple trước để chắc chắn rằng chiều hôm qua không có ai đi trên con đường làng trong khi hai chúng tôi đang ở trong xưởng vẽ,” Lawrence nói tiếp.
Tôi lắc đầu.
“Bà ấy hoàn toàn chắc chắn là không có ai cả.”
“Phải, không có ai là theo cách nói của bà ta — nghe thì có vẻ điên khùng, nhưng mục sư hiểu tôi định nói gì chứ. Bởi có thể có ai đó chẳng hạn người đưa thư, cô hàng sữa, anh hàng thịt — ai đó mà sự có mặt của họ là tự nhiên đến mức ta không nghĩ phải nhắc đến.”
“Anh thường đọc G. K. Chesterton nhỉ,” tôi nói, và Lawrence không phủ nhận.
“Nhưng theo mục sư, ý này có hợp lý không?”
“À, theo ta là có thể,” tôi thừa nhận.
Không chần chừ thêm nữa, chúng tôi lên đường đến nhà bà Marple. Bà đang làm vườn và cất tiếng gọi khi thấy chúng tôi bước qua chỗ bục trèo. Lawrence liền thì thào: “Mục sư thấy không, ai bà ta cũng nhìn thấy cả.”
Bà Marple đón tiếp chúng tôi hết sức hòa nhã, và tỏ ra rất hài lòng với tảng đá to mà Lawrence trang trọng đưa biếu.
“Ông thật chu đáo, ông Redding. Thực sự hết sức chu đáo.”
Được lời như cởi tấc lòng, Lawrence đặt ngay các câu hỏi, và bà Marple chăm chú lắng nghe.
“Vâng, tôi hiểu ý ông và tôi hoàn toàn đồng ý, điều này chẳng ai nhắc đến hoặc ngại nhắc đến. Nhưng tôi cam đoan với ông rằng không hề có chuyện như thế. Hoàn toàn không.”
“Bà có chắc không, thưa bà Marple?”
“Chắc như đinh đóng cột.”
“Chiều hôm ấy bà có trông thấy bất cứ ai đi trên lối mòn này vào rừng không?” Tôi hỏi. “Hoặc là từ trong rừng đi ra?”
“Ồ, có chứ, cả mớ người ấy. Tiến sĩ Stone và cô Cram đi đường này, vì đây là con đường gần nhất dẫn đến chỗ khai quật, lúc ấy khoảng sau hai giờ một chút. Rồi ông Stone trở lại đường này — ông biết rồi đó ông Redding, vì ông ta gặp ông với bà Protheroe mà.”
“Tiện thể, về tiếng nổ — tiếng súng mà bà đã nghe, thì lẽ ra ông Redding và bà Protheroe cũng phải nghe thấy, bà Marple ạ,” tôi nói.
Tôi nhìn Lawrence thăm dò.
“Vâng,” anh ta cau mày. “Tôi nghĩ mình có nghe tiếng súng. Mà có một hay hai tiếng nổ nhỉ?”
“Tôi chỉ nghe có một,” bà Marple đáp.
“Còn tôi thì chỉ nhớ mang máng,” Lawrence nói. “Quỷ quái thật, ước gì tôi có thể nhớ ra. Giá mà tôi biết. Các vị thấy đó, lúc ấy tôi còn đang mải — với — với…”
Anh ta ngập ngừng, lúng túng, còn tôi khẽ húng hắng ho cho phải phép. Bà Marple làm điệu bộ rồi chuyển sang đề tài khác:
“Thanh tra Slack cứ bảo tôi cho ông ta biết tôi nghe tiếng súng sau khi ông Redding và bà Protheroe rời khỏi xưởng vẽ hay là trước đó. Tôi phải thú nhận rằng thực sự mình không thể nói đích xác, nhưng tôi có cảm tưởng là nó xảy ra sau đó — càng nghĩ thì tôi càng thấy điều này là đúng.”
“Như thế dù sao tiến sĩ Stone cũng ngoại phạm,” Lawrence thở dài. “Không phải vì không hề có bất cứ lý do nhỏ nhặt nào để ông ta bị tình nghi là bắn ông lão Protheroe đáng thương.”
“À, nhưng tôi thấy nếu thận trọng thì cứ nên đật nghi vấn với mọi người, dù chỉ một chút xíu thôi. Vì có khi ta chẳng lường được hết chữ ngờ, đúng không nào?”
Bà Marple là thế đó. Tôi hỏi Lawrence xem liệu anh ta có đồng ý với bà về tiếng súng không.
“Thực sự tôi không thể nói được, vì âm thanh ấy hết sức bình thường, mục sư thấy đó. Tôi thiên theo hướng nghĩ rằng phát súng vang lên khi chúng tôi đang ở trong xưởng vẽ. Âm thanh có thể đã bị giảm nhẹ và — và ở đó người ta khó nhận ra hơn.’’
Còn nhiều lý do khác khiến họ không để ý đến âm thanh ấy, tôi thầm nghĩ.
“Tôi phải hỏi Anne,” Lawrence nói. “Có thể bà ấy sẽ nhớ. À, theo tôi có một việc kỳ lạ cần làm rõ. Bà Lestrange, mệnh phụ bí ẩn của làng St. Mary Mead này đã đến thăm lão Protheroe hôm thứ tư sau bửa ăn tối. Vậy mà dường như chẳng có ai để ý họ gặp nhau có việc gì. Lão Protheroe cũng không hề nói gì với vợ mình hoặc Lettice.’’
“Có thể mục sư biết chuyện,” bà Marple nói.
Làm sao người phụ nữ này biết chiều nay tôi đến thăm bà Lestrange? Thật kỳ lạ, chuyện gì bà ta cũng nắm được.
Tôi lắc đầu bảo mình không có manh mối gì.
“Thế Thanh tra Slack nghĩ sao ạ?” bà Marple hỏi.
“Ông ta đã cố sức ép buộc viên quản gia — nhưng rõ ràng anh này không tọc mạch đến mức đi nghe lén. Vì thế mà — chẳng ai biết gì.”
“Tuy vậy tôi vẫn mong có ai đó nghe lỏm được tí chuyện, phải không thưa mục sư?” bà Marple nói. “Ý tôi là người nào thường hay làm điều ấy. Tôi nghĩ ông Redding có thể phát hiện đôi điều từ người đó.”
“Nhưng bà Protheroe cũng không biết gì cả.”
“Tôi không có ý nói bà Protheroe, mà là bọn hầu gái ấy,” bà Marple đáp. “Nhất định bọn chúng rất ghét việc khai báo với cảnh sát, nhưng với một chàng trai bảnh bao thì chúng có thể xiêu lòng — xin ông bỏ lỗi, ông Redding nhé — ồ! Tôi chắc chắn chúng sẽ kể hết với ông ấy cho mà xem.”
“Tối nay tôi sẽ đến và thử xem sao,” Lawrence hăng hái nói. “Xin cám ơn gợi ý của bà, thưa bà Marple. Tôi sẽ đến sau khi — à, sau khi tôi và mục sư đây làm một việc nho nhỏ.”
Tôi chợt nghĩ chúng tôi nên tiến hành công việc thì tốt hơn. Tôi chào tạm biệt bà Marple rồi hai chúng tôi lại trở vào rừng.
Ban đầu chúng tôi men theo lối mòn cho đến một chỗ có dấu chân người từ đó rẽ sang bên phải. Lawrence giải thích anh ta đã đi theo cái dấu vết đặc biệt này và thấy nó chẳng dẫn đến đâu cả, nhưng anh ta nói thêm rằng cả hai có thể thử lần nữa xem sao, vì có thể anh ta nhầm lẫn.
Tuy vậy, sự thể đúng như anh ta đã nói. Đi được khoảng hơn chục thước thì các dấu vết cành lá bị xéo gãy mất dần. Chính là từ chỗ này Lawrence đã quay lại lối mòn và gặp tôi hồi chiều.
Chúng tôi lại quay trở về lối mòn và đi xa hơn một chút. Lại một lần nữa chúng tôi đến chỗ có các bụi cây bị giẫm đạp. Những dấu hiệu rất mờ nhạt nhưng theo tôi là không thể nào nhầm lẫn. Lần này thì dấu vết ấy nhiều hứa hẹn hơn. Sau một đoạn vòng vèo, nó dẫn đến gần nhà mục vụ. Chẳng mấy chốc chúng tôi đến chỗ các bụi cây vươn lên đan kín bờ tường. Bức tường này rất cao và phía trên có gán mảnh chai vỡ. Nếu ai đó bắc thang trèo lên ở đây thì nhất định chúng tôi sẽ tìm ra dấu vết.
Chúng tôi đang chậm rãi tìm kiếm dọc theo bờ tường thì bỗng có tiếng cành cây gãy vọng đến. Tôi vội vàng gắng sức len qua các bụi cây rậm rạp mà bước tới — và đối mặt với Thanh tra Slack.
“Là mục sư đó sao?” ông ta nói. “Cả ông Redding nữa. Quý ông nghĩ mình đang làm gì ở đây vậy?”
Hai chúng tôi ỉu xìu giải thích.
“Ra là thế,” thanh tra nói. “Chúng ta không phải đồ ngốc đâu, bản thân tôi cũng nghĩ giống hệt. Tôi đã ở đây hơn một tiếng đồng hồ. Các ông có muốn biết điều gì không?”
“Có chứ,” tôi ngoan ngoãn đáp.
“Bất kể là kẻ nào giết đại tá Protheroe đi nữa thì hắn cũng không đi bằng đường này! Không có dấu vết nào trên bờ tường bên này cũng như bên kia. Dẫu là ai thì hắn cũng đã vào bằng cổng chính chứ không vào đường nào khác.”
“Không thể được,” tôi kêu lên.
“Sao lại không chứ? Cổng nhà mục vụ luôn để ngỏ, hắn chỉ cần bước vào là xong. Từ nhà bếp không thể nhìn thấy hắn. Hắn biết mục sư đã ra ngoài, hắn biết bà Clement đang ở London, hắn biết cậu Dennis đi chơi tennis. Dễ như trở bàn tay. Và hắn chẳng cần đi qua làng. Đối diện cổng nhà mục vụ là đường mòn, và từ con đường ấy anh có thể trở lại khu rừng rồi tẩu thoát qua ngả nào cũng được. Nếu bà Price Ridley không bước ra cổng trước nhà mình đúng lúc đặc biệt ấy thì mọi việc sẽ thuận buồm xuôi gió. Rất nhiều khả năng như thế hơn là trèo qua tường. Từ trên lầu nhà bà Price Ridley nhìn xuống qua cửa sổ bên hông, có thể thấy hầu như cả bức tường. Không, cứ tin tôi đi, tên giết người vào bằng con đường ấy.”
Thực sự có vẻ như ông ta nói đúng.
Án Mạng Ở Nhà Mục Vụ Án Mạng Ở Nhà Mục Vụ - Agatha Christie Án Mạng Ở Nhà Mục Vụ