Số lần đọc/download: 0 / 2
Cập nhật: 2026-07-03 23:55:16 +0700
Chương 11
Thoáng nhìn tôi đã thấy đại tá Melchett và Thanh tra Slack không nhất trí với nhau về vụ án này. Melchett tỏ ra bực bội cáu kỉnh còn viên thanh tra thì mật sưng mày sỉa.
“Phải nói là tôi rất tiếc vì Thanh tra Slack không đồng ý với tôi rằng cậu Redding vô tội.”
“Nếu không giết người thì anh ta đi đầu thú làm gì cơ chứ?” Slack ngờ vực hỏi.
“Ông nhớ giùm là bà Protheroe cũng hành động hệt như thế thôi, Slack à.”
“Chuyện đó khác. Bà ta là phụ nữ, mà phụ nữ thì hành động theo kiểu ngốc nghếch. Tạm thời tôi không nói là bà ta giết người. Bà ta nghe Redding bị kết tội, thế là bà ta bịa ra câu chuyện của mình. Mấy chiêu này tôi rành lắm. Đàn bà mà làm chuyện điên khùng thì có nói ông cũng chẳng tin đâu. Nhưng Redding thì khác. Đầu óc anh ta chặt chẽ đâu ra đó. Và nếu anh ta thú nhận mình phạm tội, à, thì tôi nói rằng anh ta có làm. Khẩu súng đó là của anh ta — ông đừng quên điều đó. Và nhờ câu chuyện của bà Protheroe mà chúng ta biết được động cơ của anh ta. Trước đây đó không phải là điểm chính, nhưng giờ thì chúng ta biết rồi — sao, mọi việc giờ đã rõ rành rành.”
“Theo ông thì anh ta có thể bắn Protheroe sớm hơn không? Vào sáu giờ rưỡi chẳng hạn?”
“Anh ta không thể làm điều đó.”
“Ông có kiểm tra các hoạt động của anh ta không?”
Viên thanh tra gật đầu.
“Vào lúc sáu giờ mười phút, anh ta ở trong làng, gần Blue Boar. Từ đó anh ta đi theo con đường làng phía sau nơi bà già nhà ở gần đó trông thấy anh ta, như bà ấy đã báo với ông — phải nói là bà ấy không bỏ qua điều gì — và có cuộc hẹn với bà Protheroe ở xưởng vẽ trong vườn. Họ cùng rời xưởng vẽ ngay sau sáu giờ rưỡi và đi theo con đường làng vào làng rồi gặp tiến sĩ Stone. Ông Stone làm chứng về việc này — tôi đã gặp ông ấy. Họ đứng trò chuyện vài phút cạnh bưu điện, rồi bà Protheroe vào nhà bà Hartnell mượn cuốn tạp chí về làm vườn. Tôi đã gặp bà Hartnell rồi — đúng như vậy. Bà Protheroe ở lại đó trò chuyện với bà Hartnell cho đến bảy giờ đúng, rồi bà ta bảo là đã muộn và phải về nhà.”
“Thái độ bà ta lúc ấy ra sao?”
“Rất vui vẻ thoải mái, bà Hartnell nói vậy. Tinh thần ổn định — bà Hartnell quả quyết rằng đầu óc bà ta không có vấn đề gì.”
“Nói tiếp xem nào.”
“Còn Redding anh ta đi với tiến sĩ Stone đến Blue Boar và cùng nhau uống rượu. Anh ta rời quán lúc bảy giờ kém hai mươi, đi nhanh theo đường làng rồi xuống con đường dẫn về nhà mục vụ. Nhiều người trông thấy anh ta.”
“Lần này anh ta không đi con đường phía sau làng à?” đại tá bình luận.
“Không — anh ta đi theo con đường phía trước, hỏi tìm mục sư, nghe nói đại tá Protheroe đang ở đó — anh ta vào nhà mục vụ rồi bắn ông ấy — đúng như lời anh ta tự thú! Sự thật đúng là như thế và chúng ta không cần phải tìm kiếm gì thêm.”
Melchett lắc đầu:
“Còn có chứng cứ do bác sĩ cung cấp nữa. Ông đừng bỏ ngoài tai điều đó. Protheroe không thể bị bắn sau sáu giờ rưỡi được.”
“Ối dào, bác sĩ!” Thanh tra Slack khinh khỉnh. “Ông cứ đi mà tin lời bác sĩ. Để họ bẻ trụi hàm răng của ông xong rồi mới xin lỗi xin phải, trong khi đó thì ông đang đau ruột thừa. Bác sĩ thời nay toàn một giuộc như vậy!”
“Đây không phải việc chẩn đoán bệnh, về điểm này thì bác sĩ Haydock khẳng định chắc chắn tuyệt đối. Ông không thể chống lại chứng cứ pháp y Slack ạ.”
“Dù gì đi nữa cũng còn lời chứng của tôi,” đột nhiên tôi nhớ lại tình tiết bị bỏ quên. “Lúc tôi chạm vào thì tử thi đã lạnh ngắt. Tôi thề như vậy.”
“Ông thấy chưa, Slack?” Melchett nói.
Thanh tra Slack vui vẻ chịu thua.
“À, tất nhiên, nếu là như thế. Nhưng vụ án này hay đấy. Có thể nói là ông Redding cứ quá nôn nóng muốn bị treo cổ thôi.”
“Bản thân sự việc này theo tôi có gì đó không bình thường,” đại tá Melchett nhận xét.
“À, không giải thích được tính khí đâu,” viên thanh tra nói. “Có nhiều quý ông trở nên khá gàn dở sau chiến tranh. Tôi cho rằng giờ ta phải bắt đầu lại từ đầu.” Ông ta quay sang tôi. “Vì sao mục sư lại khiến tôi hiểu sai lạc về chuyện cái đồng hồ, tôi thật không hiểu nổi thưa mục sư. Ông đã cản trở tư pháp công chính.”
Tôi cảm thấy bị xúc phạm:
“Tôi đã ba lần cố gắng nói, nhưng lần nào cũng vậy, ông đều bắt tôi câm miệng và không thèm nghe.”
“Đó chỉ là cách nói thôi, thưa ngài. Lẽ ra mục sư hoàn toàn có thể nói với tôi nếu muốn nói. Đồng hồ và tờ thư có vẻ hoàn toàn ăn khớp với nhau. Bây giờ theo mục sư thì cái đồng hồ chạy sai giờ. Tôi chưa bao giờ gặp trường hợp này. Dù sao thì vặn đồng hồ nhanh hơn mười lăm phút là để làm gì chứ?”
“Là để cho đúng giờ.”
Viên thanh tra khịt mũi.
“Tôi nghĩ ông không cần phải nói tiếp chuyện này, thanh tra ạ,” đại tá Melchett nói khéo. “Điều chúng ta cần bây giờ là bà Protheroe và anh chàng Redding phải khai thật. Tôi đã gọi điện cho Haydock và yêu cầu ông ấy đưa bà Protheroe đến. Khoảng mười lăm phút nữa họ phải có mặt ở đây. Tôi nghĩ trước hết nên gọi cả Redding đến đây nữa.”
“Tôi sẽ liên hệ với đồn,” Thanh tra Slack nói và nhấc điện thoại.
“Và bây giờ chúng ta sẽ làm việc tại phòng này,” ông ta vừa đặt ống nghe xuống vừa nói.
Ông ta nhìn tôi đầy ngụ ý.
“Có lẽ ông muốn tôi ra ngoài phải không,” tôi nói.
Thanh tra lập tức mở cửa cho tôi. Melchett gọi với theo:
“Khi nào cậu Redding đến thì mục sư quay lại nhé? Ông là bạn cậu ta, có thể ông sẽ đủ uy lực để thuyết phục cậu ta nói ra sự thật.”
Tôi nhận ra vợ tôi và bà Marple đang chụm đầu vào nhau.
“Chúng em đang bàn bạc mọi khả năng có thể xảy ra,” Griselda nói. “Tôi ước chi bà có thể giải quyết vụ này, bà Marple ạ, giống như bà đã làm trong vụ nhà bà Wetherby bị mất trộm xâu tôm lột đó. Mọi chuyện là do nó gợi cho bà nhớ lại một chuyện hoàn toàn khác về bao than đá.”
“Cô cười nhạo tôi à, cô em thân mến,” bà Marple nói, “nhưng xét cho cùng đó là cách rất đúng đắn để tìm ra sự thật. Chính là cái người ta gọi là trực giác và tranh cãi về nó. Trực giác cũng giống như việc đọc đúng một từ mà không cần phải đánh vần. Một đứa trẻ không thể làm việc này vì nó có quá ít kinh nghiệm, nhưng người lớn thì biết rõ vì họ đã thường xuyên nhìn thấy trước đó rồi. Mục sư hiểu tôi muốn nói gì không, thưa mục sư?”
“Có, tôi nghĩ là tôi hiểu,” tôi chậm rãi trả lời. “Ý bà là nếu một sự việc nhắc ta nhớ đến một sự việc khác — à, thì có thể đó là sự việc tương tự.”
“Chính xác.”
“Vậy chính xác là vụ mưu sát đại tá Protheroe gợi bà nhớ đến điều gì?”
Bà Marple thở dài.
“Chỗ này đúng là khó. Tôi đã nghĩ đến rất nhiều chuyện tương tự, chẳng hạn thiếu tá Hargraves, người quản lý tài sản của nhà thờ và là người rất được kính trọng, hóa ra ông ta lại có vợ lẽ con riêng — một bà từng là hầu phòng, nghĩ mà xem! Lại có năm đứa con — chính xác là năm đứa — khiến vợ và con gái ông ta bị sốc khủng khiếp.”
Tôi cố hết sức nhưng không sao hình dung được đại tá Protheroe trong vai người phạm tội vụng trộm.
“Rồi còn có chuyện giặt ủi nữa,” bà Marple nói tiếp. “Bà Hartnell sơ ý bỏ quên chiếc trâm cài đính ngọc mắt mèo của mình trong chiếc áo choàng có diềm xếp nếp và đưa tới hiệu giặt. Người đàn bà nhận đồ giật không hề tham chiếc trâm ấy và hoàn toàn không phải là kẻ cắp, nhưng bà ta lại mang nó đi giấu trong nhà một người đàn bà khác rồi báo cảnh sát là bà ta thấy người đàn bà này lấy nó. Là ác ý, các vị biết không, hoàn toàn là ác ý, mà động cơ lạ lùng thay là do thù tình. Dĩ nhiên là vì một người đàn ông. Bao giờ cũng vậy.”
Lần này dù có nghĩ xa hơn nữa tôi cũng không liên hệ được việc tương đương. Bà Marple vẫn tiếp tục với giọng mơ màng:
“Rồi chuyện cô con gái của Elwell khốn khổ — một cô gái xinh đẹp thanh cảnh — lại tìm cách trấn áp cậu em trai mình. Rồi vụ người chơi đàn ống biển thủ tiền chi cho chuyến du lịch của đội đồng ca nam (trước khi ông về nhậm chức ở đây) vì vợ anh ta nợ nần ngập đầu. Phải, từ vụ này người ta nghĩ đến nhiều — rất nhiều việc khác nữa, nhưng rất khó tiếp cận sự thật.”
‘‘Mong bà nói cho tôi biết, bảy người bị tình nghi là những ai?” tôi hỏi.
“Bảy nghi can ấy ạ?”
“Bà đã nói theo bà có đến bảy người có thể — à, vui mừng trước cái chết của đại tá Protheroe mà.”
“Tôi nói thế ư? À, tôi nhớ ra mình có nói.”
“Chuyện ấy có thật không?”
“Ô, chắc chắn là có thật ạ. Nhưng tôi không nên nhắc tên họ ở đây. Mục sư có thể hoàn toàn tự mình nghĩ ra họ, tôi chắc chắn thế.”
“Thực sự tôi không thể. Theo tôi là Lettice Protheroe, bởi lẽ con bé có khả năng được hưởng gia tài sau khi bố nó qua đời. Nhưng việc này mà quy cho cô ấy thì vô lý quá, và ngoài cô ấy ra thì tôi không nghi ngờ ai khác.”
“Còn cô thì sao, cô em?” bà Marple quay sang hỏi Griselda.
Mặt Griselda đỏ bừng khiến tôi khá bất ngờ. Mắt nàng dường như rơm rớm. Nàng vặn vẹo đôi tay nhỏ nhắn rồi kêu lên phẫn nộ:
“Ôi, thiên hạ đáng ghét — đáng ghét quá đi. Họ nói gì vậy chứ! Chỉ toàn những chuyện độc địa xấu xa…”
Tôi ngạc nhiên nhìn nàng. Hình như Griselda không bối rối lo âu đến mức ấy. Nhận ra ánh mắt của tôi, nàng cười gượng:
“Đừng nhìn em như thể mẫu vật lạ khiến mình tò mò, cũng đừng nóng vội mà đi chệch hướng Len à. Em không nghĩ là Lawrence hay Anne, mà Lettice cũng vô can. Thế nào chúng ta cũng tìm ra vài manh mối khác.”
“Tất nhiên có bức thư đó,” bà Marple nói. “Cô nhớ lại xem, sáng nay tôi đã nói bức thư ấy hết sức kỳ lạ.”
“Thư có vẻ xác định thời điểm ông ta chết,” tôi nói. “Nhưng điều đó có xảy ra như vậy không? Bà Protheroe vừa mới rời văn phòng, chỉ đủ thời gian đi đến xưởng vẽ. Cách duy nhất tôi có thể giải thích việc này là Protheroe xem đồng hồ tay của mình, và đồng hồ ông ta chạy chậm. Theo tôi có vẻ đó là giải pháp khả thi.”
“Em lại có ý khác,” Griselda nói. “Len ạ, giá sử đồng hồ đã bị chỉnh lùi giờ — à mà không, việc cũng sẽ xảy ra giống như thế thôi — em thật ngốc!”
“Khi anh rời khỏi nhà thì đồng hồ không hề bị chỉnh,” tôi nói. “Anh nhớ anh còn so giờ với đồng hồ đeo tay mà. Tuy nhiên như mình nói thì điều này chẳng liên quan gì đến vấn đề hiện thời.”
“Bà nghĩ sao, bà Marple?” Griselda hỏi.
Bà già lắc đầu.
“Cô em ơi, tôi thú nhận tôi hoàn toàn không suy nghĩ theo hướng ấy. Điều khiến tôi thấy kỳ lạ ngay từ đầu, chính là tiêu đề bức thư.”
“Tôi lại không thấy thế,” tôi nói. “Đại tá Protheroe chỉ viết rằng ông ấy không thể chờ lâu hơn nữa…”
“Vào lúc sáu giờ hai mươi phút à?” bà Marple nói. “Cô hầu Mary của mục sư đã thưa với ông ấy ít nhất phải sáu giờ rưỡi mục sư mới về, và hình như ông ta đã sẵn sàng ngồi chờ đến lúc ấy, thế mà vào sáu giờ hai mươi ông ta lại ngồi xuống viết rằng ‘không thể chờ lâu hơn nữa’.”
Tôi trố mắt nhìn bà già, cảm thấy càng kính trọng hơn năng lực trí tuệ của bà. Với trí thông minh sắc sảo, bà đã nhìn thấy điều mà chúng tôi không nhận ra. Đó là một chuyện kỳ lạ — hết sức kỳ lạ.
“Giá như bức thư không ghi giờ…” tôi nói.
Bà Marple gật đầu.
“Đúng thế ạ, giá như nó đã không ghi giờ!”
Tôi cố moi óc nhớ lại mẩu giấy viết thư với nét chữ nguệch ngoạc không rõ ấy, ở đầu trang ghi 6.20. Con số này rõ ràng không cùng nét chữ với phần còn lại của bức thư.
Tôi há hốc mồm kinh ngạc.
“Giả sử thư không ghi giờ,” tôi nói. “Giả sử khoảng 6 giờ 30 đại tá Protheroe sốt ruột và ngồi vào viết rằng ông ta không thể chờ lâu hơn. Và trong khi ông ta đang viết thì có kẻ nào đó bước vào qua cửa hông…”
“Hoặc là qua cửa chính,” Griselda gợi ý.
“Vậy thì ông ta sẽ nghe tiếng mở cửa và ngẩng lên nhìn.”
“Mục sư nhớ cho là đại tá Protheroe hơi lãng tai,” bà Marple nói.
“Vâng, đúng thế. Ông ta có thể không nghe thấy. Dù vào bằng ngả nào đi nữa, tên sát nhân cũng lẻn đến sau lưng đại tá và bắn ông ta. Rồi hắn ta nhìn thấy bức thư cùng chiếc đồng hồ và nảy ra một ý. Hắn ghi con số 6.20 lèn đầu thư và chỉnh kim đồng hồ về 6 giờ 22 phút. Đó là một ý đồ khôn ngoan nhằm giúp hắn ta có chứng cớ ngoại phạm hoàn hảo, hoặc là hắn ta nghĩ như thế.”
“Và điều chúng ta muốn tìm ra là một ai đó có chứng cứ ngoại phạm rõ rệt vào lúc 6 giờ 20, nhưng lại không hoàn toàn ngoại phạm, à — thật chẳng dễ gì,” Griselda nói. “Ta không thể xác định thời gian.”
“Chúng ta có thể xác định thời gian trong phạm vi giới hạn rất hẹp,” tôi nói.
“Theo Haydock, thời điểm xảy ra vụ án chậm nhất là 6 giờ 30, nhưng tôi nghĩ có thể chuyển đến 6 giờ 35 với lập luận là rõ ràng Protheroe không thể sốt ruột khi chưa đến 6 giờ 30. Theo tôi có thể nói hầu như chúng ta biết rõ điều đó.”
“Còn tiếng súng ấy, tôi có nghe — phải, cứ cho là hoàn toàn có thể như vậy. Và tôi chẳng suy nghĩ gì — hoàn toàn không. Thật bực mình. Tuy nhiên giờ đây khi cố nhớ lại thì tôi thấy hình như tiếng súng ấy khác với tiếng súng mà tôi đã từng nghe. Vâng, đúng là khác hẳn.”
“Lớn hơn hay sao?” tôi gợi ý.
Không, bà Marple không cho rằng tiếng nổ ấy to hơn. Thực sự bà thấy khó nói ràng khác nhau ra sao, nhưng bà vẫn khăng khăng là có khác. Tôi nghĩ có khả năng bà tự thuyết phục mình tin như vậy hơn là thực sự nhớ lại, nhưng bà vừa góp cho chúng tôi một cách nhìn mới rất có giá trị về sự việc này khiến tôi cảm thấy vô cùng kính trọng bà.
Bà đứng lên, lẩm bẩm rằng mình chỉ định tạt qua bàn luận một chút với Griselda thân mến về vụ án — giờ thì xin kiếu. Tôi đưa bà ra tận tường bao và cổng sau rồi trở vào nhà, thấy Griselda đang trầm ngâm suy nghĩ.
“Mình vẫn đang nghĩ ngợi về bức thư ấy à?” tôi hỏi.
“Không Len ạ.” Nàng chợt rùng mình rồi nhún vai với vẻ sốt ruột. “Em đang suy nghĩ, kẻ nào đó hẳn phải thù oán Anne Protheroe ghê lắm.’’
“Thù oán bà ấy ư?”
“Phải. Mình không thấy sao? Không có bằng chứng thực sự chống lại Lawrence — mọi bằng chứng chống lại anh ta đều là cái ta gọi là ngẫu nhiên. Anh ta chỉ tình cờ nảy ra ý định đến đây. Nếu anh ta không đến — à, thì không ai có thể nghĩ anh ta có liên quan đến tội ác được. Nhưng Anne thì khác. Cho là có ai đó biết bà ấy đến đây đúng vào 6 giờ 20 — theo đồng hồ và giờ ghi trên lá thư — thì mọi việc đều nhắm vào bà ấy. Em không nghĩ chỉ vì muốn tạo chứng cứ ngoại phạm mà ai đó đã chỉnh kim đồng hồ — theo em còn hơn thế — họ đã cố gán tội cho bà ấy. Nếu bà Marple không nói rằng Anne không mang súng trong người và cho biết bà ấy chỉ lưu lại một chút trước khi xuống xưởng vẽ — phải, nếu không có những lời ấy thì…” Nàng lại rùng mình. “Len ạ — em cảm thấy có kẻ nào đó rất thù ghét Anne Protheroe. Em… em không thích điều đó.”