Số lần đọc/download: 0 / 2
Cập nhật: 2026-07-03 23:55:16 +0700
Chương 6
Chúng tôi bối rối hồi lâu về chuyện chiếc đồng hồ nhưng chẳng biết làm sao. Griselda bảo tôi nên cố gắng nói cho Thanh tra Slack rõ chuyện, tuy nhiên vào lúc này tôi cảm thấy mình chỉ có thể miêu tả mỗi một điều là ‘ngang ngạnh’.
Thanh tra Slack đã tỏ ra cực kỳ khiếm nhã và thô lỗ hầu như quá mức cần thiết. Tôi sẽ chờ đến lúc có thể đưa ra chứng cứ đắt giá của mình và cho ông ta thấy đã sai lầm ra sao. Lúc ấy tôi sẽ nhẹ nhàng trách ông ta: “Giá như ông chịu lắng nghe tôi, Thanh tra Slack…”
Tôi nghĩ ít ra ông ta cũng phải nói chuyện với tôi trước khi rời khỏi nhà mục vụ, nhưng chúng tôi ngạc nhiên nghe Mary báo ông ta đã ra về sau khi khóa cửa văn phòng và hạ lệnh không ai được bước vào đó.
Griselda nảy ý định đến Old Hall.
“Thật là kinh khủng cho Anne Protheroe — với cảnh sát và đủ mọi thứ,” nàng nói. “Có thể em sẽ làm được chút gì đó cho bà ấy.”
Tôi chân thành ủng hộ ý kiến đó, và Griselda lên đường sau khi tôi dặn nàng phải gọi điện thoại cho tôi nếu thấy tôi có thể giúp đỡ hoặc an ủi những người phụ nữ ở đó.
Rồi tôi gọi cho giáo viên của lớp học ngày chủ nhật, họ sắp đến đây lúc bảy giờ bốn mươi lăm để chuẩn bị cho buổi học hàng tuần. Tôi nghĩ trong tình hình này nên báo họ hoãn lại thì tốt hơn.
Dennis là người thứ nhì đến hiện trường, nó vừa từ chỗ hội chơi tennis trở về. Việc có án mạng xảy ra tại nhà mục vụ xem ra khiến thằng bé hết sức toại nguyện. Cu cậu kêu lên:
“Được ở ngay hiện trường một vụ giết người thì thật là quá đã! Cháu luôn muốn ở ngay giữa trung tâm sự việc như vầy. Mà tại sao cảnh sát lại khóa trái cửa phòng làm việc chứ? Có chìa khóa nào khác mở được không?”
Vì tôi không cho phép làm bất cứ việc gì như thế nên Dennis phải miễn cưỡng nhượng bộ. Sau khi cố moi ở tôi mọi chi tiết có thể, nó ra vườn truy tìm các dấu chân, vừa vui vẻ nhận xét rằng may sao chỉ là lão Protheroe, người mà chẳng ai ưa.
Cái lối thích thú nhẫn tâm ấy khiến tôi hơi nổi cáu, nhưng nghĩ lại tôi thấy có thể mình đã hơi khắt khe với thằng bé. Ở tuổi Dennis, truyện trinh thám là một trong những thứ tuyệt nhất trên đời; và phát hiện một câu chuyện trinh thám có thật, có cả tử thi nằm chờ trên ngưỡng cửa nhà ai đó, có thể nói chắc chắn sẽ khiến một đứa trẻ đầu óc lành mạnh cảm thấy lâng lâng hứng thú. Với một thằng nhóc mười sáu tuổi thì cái chết chỉ là chuyện nhỏ.
Khoảng một tiếng đồng hồ sau thì Griselda về tới. Nàng đến nhà Anne Protheroe ngay sau khi viên thanh tra báo tin cho bà ta. Khi nghe bà Protheroe nói bà nhìn thấy chồng mình lần cuối trong làng vào khoảng sáu giờ kém mười lăm, và bà cũng không có bất cứ manh mối nào để quy việc này cho ai, ông ta liền ra về và giải thích rằng có thể ngày mai ông sẽ quay lại để thẩm vấn đầy đủ hơn.
“Ông ta hoàn toàn lịch sự theo cách của ổng,” Griselda miễn cưỡng nói.
“Bà Protheroe tiếp nhận tin ấy ra sao?” tôi hỏi.
“À — bà ấy rất bình tĩnh — nhưng bà ấy bao giờ cũng thế mà.”
“Phải,” tôi đáp. “Tôi chẳng thể hình dung Anne Protheroe lại trở nên điên loạn được.”
“Mình cũng thấy đó, dĩ nhiên đây là cú sốc lớn. Bà ấy cám ơn em đã đến thăm và nói rằng rất biết ơn, nhưng em chẳng giúp được gì cho bà ấy đâu.”
“Còn Lettice thì sao?”
“Cô ấy đi chơi tennis ở đâu đó chưa về.”
Ngưng một lúc rồi Griselda nói tiếp:
“Mình biết không Len, trông bà ấy thực sự rất kỳ quặc — hết sức kỳ quặc, thật đó.”
“Là do bị sốc,” tôi gợi ý.
“Vâng — em cũng nghĩ vậy. Tuy nhiên…” Griselda bối rối nhíu mày. “Hình như không phải vậy. Có vẻ như bà ấy — à — bà ấy khiếp hãi nhiều hơn là bàng hoàng sửng sốt mình ạ.”
“Khiếp hãi ư?”
“Phải — nhưng không bộc lộ ra ngoài, mình biết đấy. Chí ít là không muốn tỏ ra như thế. Nhưng trông bà ấy đầy cảnh giác và đáng ngờ lắm. Em tự hỏi có phải bà ấy đang nghĩ xem ai giết ông ta không. Bà ấy cứ hỏi đi hỏi lại là có ai bị tình nghi không.”
“Vậy sao?” tôi trầm ngâm.
“Vâng. Dĩ nhiên Anne là người cực kỳ tự chủ, nhưng có thể thấy bà ta bối rối kinh khủng. Bối rối nhiều hơn em tưởng, bởi lẽ nói cho cùng thì bà ta có tận tụy với chồng đến mức ấy đâu! Em đã từng nói bà ấy ghét ông đại tá lắm, có lẽ vậy.”
“Cái chết đôi khi làm người ta thay đổi cảm xúc,” tôi nói.
“Vâng, em cũng nghĩ vậy.”
Dennis bước vào và hết sức phấn khởi vì đã phát hiện dấu chân cạnh một luống hoa. Nó chắc chắn cảnh sát đã bỏ sót điều này, điều hóa ra lại trở thành điểm mấu chốt của bí ẩn.
Tôi trải qua một đêm trằn trọc không yên. Dennis thức giấc và ra khỏi nhà rất sớm trước giờ’ điểm tâm để ‘nghiên cứu những diễn biến mới nhất’, như lời cu cậu. Tuy nhiên không phải nó mà lại là Mary mang đến một số tin giật gân vào buổi sáng.
Chúng tôi vừa ngồi xuống dùng điểm tâm thì cô ta đột nhiên xộc vào phòng. Má đỏ bừng bừng và mắt long lanh, cô ta báo tin với chúng tôi theo lối trông trổng thường ngày:
“Biết gì chưa? Thằng bán bánh mì mới kể tui nghe là thằng cha Redding bị tóm rồi.”
“Bắt Lawrence à?” Griselda ngờ vực kêu lên. “Không thể như vậy được. Nhất định là do nhầm lẫn ngu xuẩn.”
“Lầm gì mà lầm hả mẹ!” Mary tỏ vẻ hể hả đắc chí. “Thằng cha Redding đó, tự chả đến nộp mạng mà. Hồi khuya hôm qua chứ đâu. Xông vô đồn, liệng khẩu súng lục lên bàn rồi nói: ‘Là tui giết!’ Vậy đó!”
Cô ta gục gặc đầu nhìn hai chúng tôi rồi rút lui, hài lòng vì vừa gây được ấn tượng. Griselda và tôi sững sờ nhìn nhau.
“Ôi! Không đúng!” Griselda nói. “Không thể như thế được!”
Thấy tôi lặng thinh, nàng tiếp: “Mình cũng không nghĩ đó là sự thật, phải không Len?”
Tôi thấy khó mà trả lời nàng. Tôi ngồi thừ người im lặng mà đầu óc rối tung.
“Chắc anh ta điên rồi,” Griselda nói. “Điên nặng rồi. Hoặc mình có nghĩ rằng hai người họ đang cùng nhau xem khẩu súng thì bất ngờ nó bị cướp cò không?”
“Sự việc xảy ra có vẻ hoàn toàn không giống như thế.”
“Nhưng đây lẽ ra phải là một loại tai nạn, bởi vì không có dấu hiệu nào cho thấy động cơ gây án. Làm sao nghĩ ra lý do khiến Lawrence phải giết đại tá Protheroe kia chứ?” Lẽ ra tôi đã có thể trả lời câu hỏi này một cách rất rõ ràng dứt khoát, nhưng tôi muốn càng ít động chạm đến Anne Protheroe càng tốt. Có lẽ vẫn còn chút cơ may để giữ cho bà ta không liên lụy việc này.
“Mình nhớ là trước đây họ đã có lần cãi nhau đấy.”
“Về Lettice và chiếc áo tắm của cô ấy chứ gì? Vâng, nhưng thật vô lý mình ạ, và ngay cả khi anh ta và Lettice bí mật đính ước với nhau đi nữa — à, thì đó chẳng phải là lý do để giết bố cô ấy.”
“Thực chất vụ án ra sao, chúng ta đâu biết được hở Griselda!”
“Mình tin như vậy à? Ôi! Sao mình có thể nghĩ như vậy được! Em nói cho mình biết, em chắc chắn Lawrence không bao giờ động tới một sợi tóc của ông ta đâu.”
“Mình nhớ lại đi, tôi đã gặp anh ta ngay cổng nhà, lúc ấy trông anh ta như lên cơn điên.”
“Vâng, nhưng — ôi! Không thể được!”
“Còn chuyện chiếc đồng hồ nữa,” tôi nói. “Điều này giải thích về chiếc đồng hồ. Lawrence hẳn đã phải vặn lùi kim về sáu giờ hai mươi với ý nghĩ tạo chứng cứ ngoại phạm cho anh ta. Nhìn xem Thanh tra Slack rơi vào bẫy ra sao.”
“Mình sai rồi Len. Lawrence biết chuyện cái đồng hồ ấy chạy nhanh mà. Anh ta thường bảo là, để mục sư luôn đúng giờ! Lawrence không bao giờ phạm sai lầm là chỉnh đồng hồ lùi lại sáu giờ hăm hai phút. Lẽ ra anh ta có thể vặn kim bất cứ giờ nào — bảy giờ kém mười lăm chẳng hạn.”
“Có thể anh ta không biết Protheroe đến đây lúc mấy giờ, hoặc đơn giản hơn anh ta quên mất đồng hồ chạy nhanh thì sao?”
Griselda không đồng ý.
“Không đâu, nếu anh phạm tội giết người thì anh sẽ hết sức lưu ý những việc như thế.”
“Mình ạ, mình không hiểu được đâu,” tôi ôn tồn nói, “vì mình chưa bao giờ làm những chuyện như thế.”
Griselda chưa kịp trả lời thì một cái bóng đổ xuống bàn ăn, rồi một giọng nói dịu dàng cất lên:
“Xin thứ lỗi, hy vọng tôi không quá đường đột. Nhưng trong tình cảnh đau thương này — tình cảnh quá đỗi đau thương…”
Đó là hàng xóm của chúng tôi, bà Marple. Chấp nhận lời bỏ qua phép lịch sự của chúng tôi, bà ta bước qua cửa hông vào phòng, và tôi chìa ghế ra mời bà ngồi. Trông bà rất xúc động và phấn khích.
“Kinh khủng quá phải không ạ? Tội nghiệp đại tá Protheroe. Có thể ông ta không phải là người dễ chịu vui vẻ cho lắm và thực ra cũng không được mọi người yêu mến, nhưng dù sao thì cũng đáng buồn. Nghe nói bị bắn ngay trong phòng làm việc của mục sư phải không ạ?”
Tôi đáp rằng đúng như vậy.
“Nhưng lúc ấy mục sư không có nhà sao?” bà Marple cật vấn Griselda.
Tôi giải thích mình đã ở đâu.
“Sáng nay cậu Dennis không ở đây hay sao ạ?” bà Marple vừa hỏi vừa đảo mắt nhìn quanh.
“Dennis đang tự xem mình là thám tử nghiệp dư,” Griselda đáp. “Thằng bé rất phấn khởi khi tìm ra dấu chân người ở luống hoa trong vườn, và tôi nghĩ nó đã đi báo cảnh sát việc này.”
“Ôi trời,” bà Marple nói. “Sao mà lộn xộn thế nhỉ! Cậu Dennis nghĩ cậu ấy biết ai là kẻ thủ ác ư? À, tôi cho rằng tất cả chúng ta đều nghĩ mình biết.”
“Ý bà chuyện đó là hiển nhiên sao?” Griselda hỏi.
“Ồ không, tôi không hề có ý đó. Tôi dám chắc rằng mỗi người đều nghĩ đến một người khác nhau. Do vậy, điều quan trọng là phải có chứng cứ. Chẳng hạn tôi đây này, tôi hoàn toàn tin chắc mình biết ai đã làm việc đó. Nhưng tôi phải thừa nhận mình không có chút chứng cứ nào. Ở thời điểm này, tôi biết mọi người phải hết sức thận trọng về những gì mình phát biểu — sự phỉ báng mang tính hình sự, người ta gọi thế đúng không? Tôi đã quyết định là với Thanh tra Slack thì càng phải cực kỳ thận trọng, ông ta đã gửi giấy báo có thể ông ta đến gặp tôi sáng nay, nhưng vừa rồi ông ta lại gọi điện thoại bảo rằng xét cho cùng thì chẳng cần thiết.”
“Tôi cho rằng sau vụ bắt giam thì việc ấy không còn cần thiết nữa,” tôi nói.
“Bắt giam à?” bà Marple nhoài người về phía trước, hai má đỏ bừng vì phấn khích. “Tôi không biết đã có vụ bắt giam.”
Thật hiếm khi bà Marple lại nắm thông tin chậm hơn chúng tôi, nên tôi cho rằng chuyện bà ấy muốn biết diễn biến mới nhất là đương nhiên.
“Có vẻ chúng ta đang hiểu lầm nhau,” tôi nói. “Phải — đã có người bị bắt giam — là Lawrence Redding.”
“Lawrence Redding sao?” bà Marple tỏ ra rất bất ngờ. “Tôi chẳng bao giờ nghĩ là…”
Griselda hùng hổ ngắt lời:
“Thậm chí bây giờ tôi vẫn không tin. Không, ngay cả khi ông ấy đã thực sự thú tội.”
“Thú tội ư?” bà Marple nói. “Cô nói anh ta thú tội sao? Ôi trời! Tôi thấy mình quá hoang mang bối rối, vâng, hoang mang bối rối.”
“Tôi cảm thấy chắc chắn đây là một tai nạn,” Griselda nói. “Mình có nghĩ vậy không Len? Ý em là cái cách anh ta tự đi nạp mình trông giống như vậy lắm.”
Bà Marple hăm hở chồm tới trước:
“Cô nói sao, tự đi nạp mình à?”
“Đúng vậy.”
“Ô! Tôi rất sung sướng — vô cùng sung sướng.”
Tôi ngạc nhiên nhìn bà ta.
“Điều đó cho thấy anh ta ăn năn hối hận, tôi nghĩ thế,” tôi nói.
“Ăn năn hối hận ư?” Trông bà Marple hết sức ngạc nhiên. “Ôi, nhưng thưa mục sư kính mến, ông có nghĩ anh ta phạm tội không ạ?”
Đến lượt tôi nhìn bà ta chằm chàm.
“Nhưng vì anh ta đã thú nhận…”
“Vâng, nhưng điều đó có được chứng minh không ạ? Ý tôi là anh ta chẳng liên quan gì đến vụ này cả.”
“Không,” tôi nói. “Có thể là tôi ngu độn, nhưng tôi không nghĩ thế. Nếu anh ta không phạm tội sát nhân thì tôi không hiểu anh ta giả vờ nhận tội để làm gì!”
“Ồ, dĩ nhiên là phải có lý do,” bà Marple nói. “Lẽ thường tình mà. Bao giờ cũng phải có lý do, đúng không ạ? Những chàng trai trẻ thường nóng nảy bộp chộp và có khuynh hướng thiên về điều tồi tệ nhất.”
Bà ta quay sang Griselda.
“Đồng ý với tôi không, cô mình?”
“Tôi — tôi không biết nữa,” Griselda đáp. “Không biết phải nói là mình nghĩ gì. Tôi không thấy có bất cứ lý do nào khiến Lawrence lại hành động cực kỳ ngốc nghếch như vậy.”
“Nếu bà trông thấy vẻ mặt anh ta tối hôm qua…” tôi mở lời.
“Xin mục sư kể tôi nghe,” bà Marple nói.
Bà ta chăm chú lắng nghe tôi thuật lại việc mình trở về nhà hôm ấy. Khi tôi kết thúc, bà nói:
“Tôi biết mình ngốc nghếch, nhưng thực sự tôi không hiểu hết ý của mục sư. Theo tôi, nếu một thanh niên đã quyết tâm gây tội ác bằng việc tước bỏ mạng sống của đồng loại thì anh ta sẽ không vì thế mà tỏ ra quẫn trí sau đó. Chắc chắn đó là một hành động nhẫn tâm có dự tính trước, và tuy kẻ sát nhân có thể đôi chút bị kích động và có khả năng gây ra một vài sai lầm nho nhỏ, nhưng tôi không tin anh ta lại rơi vào trạng thái bối rối lo âu như mục sư mô tả. Khó mà tự đặt mình vào tình huống tương tự, nhưng tôi không thể hình dung một trạng thái như vậy.”
“Chúng ta đâu biết chuyện xảy ra thế nào,” tôi bác. “Nếu họ đã cãi nhau thì viên đạn có thể bay khỏi nòng trong lúc Lawrence thiếu kiềm chế, sau đó anh ta mới hoảng kinh về việc mình đã làm. Quả thật tôi muốn tin rằng mọi việc đã thực sự diễn ra như thế.”
“Tôi hiểu, thưa mục sư Clement, có nhiều cách xem xét sự việc. Nhưng chúng ta phải nhìn nhận các dữ kiện đúng theo thực tế phải không ạ? Theo tôi, các dữ kiện không hề phù hợp với cách lý giải của mục sư. Cô hầu nhà ta đã nói rõ là ông Redding chỉ ở trong văn phòng có một vài phút, chắc chắn thời gian ấy không đủ cho một cuộc cãi vã như mục sư đã thuật lại. Ngoài ra tôi được biết ỏng đại tá bị bắn vào đầu từ phía sau trong khi ông ta đang viết thư mà — chí ít đó là điều con hầu nhà tôi kể lại.”
“Hoàn toàn đúng,” Griselda nói. “Hình như ông ta đang viết rằng mình không thể chờ thêm nữa. Thư đề sáu giờ hai mươi phút, mà chiếc đồng hồ để bàn bị rơi và ngừng chạy lúc sáu giờ hai mươi hai phút, đó chính là điều khiến Len và tôi cực kỳ hoang mang.”
Nàng giải thích thói quen chúng tôi vặn đồng hồ nhanh lên mười lăm phút.
“Thật kỳ lạ,” bà Marple nói. “Thực sự quá đỗi lạ lùng. Nhưng theo tôi lá thư thậm chí còn kỳ lạ hơn. Ý tôi là…”
Bà ta ngưng bặt rồi nhìn quanh. Lettice Protheroe đang đứng bên ngoài cửa hông. Cô bước vào, gật đầu chào chúng tôi và khẽ lẩm bẩm “Xin chào.”
Cô ngồi phịch xuống ghế và nói với giọng linh hoạt hơn thường lệ:
“Họ đã bắt Lawrence rồi, em nghe nói thế.”
“Phải,” Griselda đáp. “Đó là cú sốc lớn với chúng tôi.”
“Thực sự em không bao giờ nghĩ ai lại đi giết bố em,” Lettice nói. Rõ ràng cô tỏ ra kiêu hãnh khi không để lộ bất cứ cảm xúc đau buồn nào. “Em chắc chắn nhiều người muốn làm điều này. Nhiều lần em cũng muốn tự tay kết liễu ông ấy.”
“Cô ăn hoặc uống chút gì nhé Lettice?” Griselda hỏi.
“Không ạ, cám ơn. Em chỉ tạt qua xem bà có thấy cái mũ bêrê của em ở đây không — cái mũ be bé màu vàng ấy mà. Em nghĩ hôm nọ em đã bỏ quên trong văn phòng.”
“Nếu cô để trong văn phòng thì nó vẫn còn đó,” Griselda nói. “Mary có bao giờ dọn dẹp gì đâu.”
“Em sẽ vào xem,” Lettice đứng lên nói. “Xin lỗi vì đã làm phiền, nhưng hình như em có cái mũ nào thì cũng đánh mất hết cả.”
“Ta e rằng con không vào văn phòng bây giờ được,” tôi nói. “Thanh tra Slack đã khóa cửa phòng rồi.”
“Ôi chà! Bực quá đi. Nhưng chúng ta có thể vào bằng cửa hông được không ạ?”
“Chắc là không, vì cửa đã chốt từ bên trong rồi. Lettice à, có chắc là mũ bêrê màu vàng thích hợp với con lúc này không?”
“Mục sư định nói đến tang phục phải không? Con chẳng băn khoăn gì về việc mặc đồ tang cả. Theo con chuyện này đã quá lỗi thời. Nhưng thật rầy rà cho Lawrence — vâng, thật rầy rà.”
Cô đứng dậy và lơ đãng cau mày.
“Con nghĩ tất cả là do con và chiếc áo tắm mà ra. Toàn bộ câu chuyện thật là ngớ ngẩn…”
Griselda mở miệng định nói nhưng không hiểu vì sao lại im bặt.
Một nụ cười lạ lùng hé trên môi Lettice. Cô dịu dàng nói:
“Con nghĩ mình nên về nhà để báo cho Anne biết tin Lawrence bị giam.”
Cô lại bước ra qua lối cửa hông. Griselda quay sang bà Marple:
“Sao bà lại giẫm lên chân tôi?”
Bà già mỉm cười:
“Vì tôi nghĩ cô định nói điều gì đó, cô mình. Cứ để mọi việc tự diễn tiến theo cách của nó thì tốt hơn. Cô biết không, tôi không nghĩ rằng con bé này lơ đãng như nó giả vờ đâu. Đầu óc nó suy nghĩ rất rõ ràng rành mạch và nó hành động theo suy nghĩ đó.”
Mary gõ cửa phòng ăn ầm ĩ và gần như bước hẳn vào phòng.
“Chuyện gì?” Griselda hỏi. “Mary à, cô phải nhớ là không được gõ cửa phòng. Tôi đã dặn cô trước rồi cơ mà.”
“Thì tưởng mọi người đang bận rộn,” Mary đáp. “Đại tá Melchett vừa tới, muốn gặp ông chủ.”
Đại tá Melchett là chỉ huy cảnh sát hạt. Tôi đứng bật dậy.
“Tui nghĩ chắc ông bà không muốn tui để ổng đứng ngoài hành lang, nên tui đã dẫn ổng vô phòng khách rồi,” Mary nói tiếp. “Tui dọn bàn được chưa?”
“Chưa đâu,” Griselda đáp. “Tôi sẽ nhấn chuông gọi.” Nàng quay sang bà Marple, còn tôi rời khỏi phòng.