Số lần đọc/download: 0 / 2
Cập nhật: 2026-07-03 23:55:16 +0700
Chương 4
Tôi quên bẵng chuyện mời Lawrence Redding dùng bữa tối hôm đó, nên lúc Griselda xuất hiện và mắng mỏ tôi rằng chỉ còn ít phút nữa thôi là đến giờ ăn thì tôi hoàn toàn sửng sốt.
“Em hy vọng mọi việc sẽ ổn mình ạ,” Griselda nói với sau lưng tôi. “Em đã suy nghĩ về chuyện mình nói lúc ăn trưa, và em đã tính đến một số món ngon.”
Tiện thể tôi nói luôn, bữa ăn tối của chúng tôi hoàn toàn xác nhận một điều là có vợ tôi tham gia thì tình hình lại càng tồi tệ hơn. Về ý tưởng thì thực đơn rất hoành tráng, nhưng dường như Mary lại tỏ ra khoái trá khi biểu diễn thành công việc nấu món này quá lửa xen kẽ với món kia sống nhăn. Món hàu mà Griselda đặt hàng có vẻ đã vượt quá mức vụng về, rủi thay chúng tôi lại không thể đưa ra làm ví dụ, vì mãi đến lúc dùng mới phát hiện ra trong nhà không có dụng cụ để mở hàu!
Tôi hơi ngờ vực không biết Lawrence có đến chiếu lệ không. Rất có thể anh ta sẽ gửi lời cáo vắng.
Tuy nhiên anh ta lại đến khá đúng giờ, và cả bốn chúng tôi dùng bữa tối.
Không thể phủ nhận Lawrence Redding là người có tính cách hấp dẫn. Anh ta khoảng ba mươi tuổi, tôi độ chừng. Tóc đen nhưng lạ thay đôi mắt lại màu xanh sáng rực. Là loại thanh niên xuất sắc, chơi thể thao giỏi, một tay thiện xạ, một diễn viên nghiệp dư có hạng và là người rất có duyên ăn nói. Anh ta có khả năng khuấy động đám đông, và là người có dòng máu Ireland chảy trong huyết quản. Anh ta hoàn toàn không phải là một nghệ sĩ mẫu mực lý tưởng, tuy vậy tôi vẫn nghĩ anh ta là một thợ vẽ lành nghề theo phong cách hiện đại. Về hội họa thì bản thân tôi rất ít hiểu biết.
Vào buổi tối đặc biệt như thế này, nếu anh ta có tỏ ra đãng trí đôi chút thì cũng là chuyện thường tình. Nhìn chung, anh ta ứng xử rất tốt. Tôi nghĩ Griselda hay Dennis không hề nhận ra điều gì khác lạ. Có thể bản thân tôi cũng không nhận ra điều gì nếu như trước đó tôi không biết chuyện.
Đặc biệt Griselda và Dennis vui như hội — họ liên tục bông đùa về một xì-căng-đan địa phương — chuyện tiến sĩ Stone và cô Cram! Đột nhiên tôi thấy nhói lòng khi nghĩ Griselda bằng vai phải lứa với Dennis hơn là với tôi. Thằng bé gọi tôi là bác Len, nhưng Griselda thì nó chỉ gọi trổng bằng tên. Không hiểu sao điều này khiến tôi cảm thấy hơi lạc lõng.
Tôi nghĩ lẽ ra mình phải lo âu về chuyện bà Protheroe mới đúng, chứ tôi không thường để ý đến những lời bàn tán không đâu vào đâu như thế này. Griselda và Dennis lại tiếp tục buôn chuyện nhưng tôi chẳng còn lòng dạ nào mà quở trách họ. Tôi vẫn luôn nghĩ thật đáng tiếc khi sự có mặt của một giáo sĩ có thể khiến hai bác cháu nhà họ mất hứng.
Lawrence cũng vui vẻ góp chuyện, tuy nhiên tôi nhận ra đôi mắt anh ta không ngừng hướng sang chỗ tôi ngồi, và tôi không ngạc nhiên khi sau bữa ăn anh ta tìm cách đi theo tôi vào phòng làm việc.
Ngay khi chỉ còn lại hai chúng tôi, thái độ anh ta hoàn toàn thay đổi, nét mặt phờ phạc, đầy vẻ nghiêm trọng và lo lắng.
“Bí mật của chúng tôi làm ngài bất ngờ lắm phải không, thưa ngài?” anh ta nói. “Vậy ngài sẽ làm gì ạ?”
Với Redding tôi có thể trao đổi thẳng thắn hơn nhiều so với bà Protheroe. Anh ta chăm chú lắng nghe rồi trá lời:
“Chắc chắn ngài sẽ nói vậy, vì ngài là mục sư, tôi nói điều này không hề có ý xúc phạm ngài. Thật ra tôi nghĩ có thể ngài có lý, tuy nhiên chuyện giữa Anne và tôi thì không giống như vậy đâu.”
Tôi bảo Redding rằng cái câu này vẫn là câu cửa miệng của người đời ngay từ thưở khai thiên lập địa, thế là môi anh ta nở một nụ cười méo xệch:
“Ý ngài là ai cũng cho trường hợp của mình là duy nhất ư? Có thể là vậy. Nhưng có một điều ngài cần phải tin.” Anh ta cam đoan với tôi rằng cho đến nay ‘chưa có điều gì sai trái cả’. Anh ta bảo, Anne là một trong những phụ nữ đoan chính và trung hậu nhất trên đời. Còn sắp tới sẽ như thế nào thì anh ta không biết.
“Nếu chỉ là chuyện trong sách vở thì lão già kia phải chết,” anh ta rầu rĩ nói. “Đó là cách giải thoát tốt đẹp cho mọi người.”
Tôi quở trách Redding.
“Ồ! Tôi không có ý nói rằng tôi sẽ lụi cho lão ta một nhát từ sau lưng, nhưng tôi sẽ vô cùng cám ơn bất cứ ai làm điều đó. Trên đời này chẳng ai có lấy một lời tốt đẹp về lão cả. Tôi hơi ngạc nhiên vì sao bà vợ đầu của lão không khử lão cho rồi. Nhiều năm trước có lần tôi gặp bà ta, trông bà ta hoàn toàn có khả năng làm việc đó. Một người đàn bà điềm tĩnh đến mức đáng sợ. Lão ta thì tính tình cáu bẳn hiếm thấy, lúc nào cũng quát tháo, gây sự ầm ĩ hệt như con quỷ dữ. Ngài không biết Anne phải chịu đựng lão ta thế nào đâu. Giá như tôi có tiền thì tôi đã mang nàng đi ngay rồi.”
Sau đó, tôi nói chuyện với anh ta hết sức nghiêm túc. Tôi cầu xin anh ta rời khỏi làng St. Mary Mead, vì còn ở đây, anh ta chỉ làm cho Anne Protheroe đã bất hạnh lại càng đau khổ thêm mà thôi. Thiên hạ bàn ra tán vào, thế nào cũng đến tai đại tá Protheroe — và mọi việc sẽ cực kỳ tai hại cho bà ấy.
Lawrence phản đối:
“Ngoài ngài ra thì chẳng ai biết gì cả, thưa ngài.”
“Redding thân mến, cậu đánh giá thấp năng khiếu thám tử của dân làng rồi. Ở St. Mary Mead này ai cũng biết những chuyện riêng tư nhất của cậu. Không nhà thám tử nào ở Anh Quốc sánh bằng một bà cô độc thân khó đoán tuổi, mà thời gian rảnh rỗi thì quá dư thừa.”
Anh ta ung dung trả lời rằng chẳng sao cả, vì ai cũng tưởng đó là Lettice.
“Cậu có nghĩ có thể bản thân Lettice cũng tưởng vậy không?” tôi hỏi.
Lawrence hoàn toàn bất ngờ vì ý tưởng ấy, anh ta bảo Lettice chẳng hề ngó ngàng đến anh ta, chắc chắn vậy.
“Cô ấy là một cô gái kỳ quặc,” anh ta nói. “Lúc nào cũng mơ mơ màng màng nhưng thật ra khá thực tế, tôi nghĩ vậy. Cái lối mơ màng ấy chỉ là điệu bộ giả tạo, chứ Lettice biết rất rõ mình đang làm gì. Cô ta đang nuôi lòng hận thù, và lạ lùng là cô ta ghét Anne. Cực kỳ ghét nàng. Tuy vậy Anne bao giờ cũng đối xử hết sức thánh thiện với cô nàng.”
Tất nhiên tôi không tin lời anh ta. Với những kẻ si tình thì người yêu của họ bao giờ cũng xử sự như thiên thần. Tuy vậy, theo nhận xét của riêng tôi, Anne luôn cư xử với cô con riêng của chồng một cách tốt bụng và thẳng thắn. Bản thân tôi chiều nay đã khá bất ngờ vì giọng điệu gay gắt của Lettice.
Chúng tôi buộc phải ngừng câu chuyện vì Griselda và Dennis thình lình xông vào làm gián đoạn và bảo rằng tôi không nên để Lawrence ngồi trò chuyện như một ông già.
“Ôi trời, sao mình mong có chuyện giật gân vậy không biết. Một vụ giết người — hay một vụ trộm cũng được,” Griselda vừa nói vừa ngồi phịch xuống ghế bành.
“Tôi không nghĩ ở đây có gì đáng giá để mà trộm, trừ phi chúng ta trộm hàm răng giả của bà cô Hartnell,” Lawrence cố gắng nhập cuộc pha trò.
“Cái hàm giả ấy mà va vào nhau thì nghe gớm khiếp,” Griselda nói. “Nhưng anh bảo ở làng này không có gì đáng giá là lầm to. Nhà ông Protheroe có một số đồ cổ bằng bạc đẹp tuyệt vời. Đĩa và lọ đựng muối và một chiếc tách thủy tinh Tazza từ thời Charles đệ nhị — toàn là vật quý thôi. Tôi nghĩ chúng đáng giá hàng ngàn bảng.”
“Coi chừng lão ta tặng cho mấy người một phát súng lục bây giờ,” Dennis nói. “Đúng nghề của chàng mà.”
“Ô! Vậy thì chúng ta sẽ ra tay cướp của,” Griselda nói. “Có ai có súng lục không nhỉ?”
“Tôi có một khẩu hiệu Mauser,” Lawrence đáp.
“Anh có hả? Ôi hồi hộp quá! Sao mà anh có được?”
“Kỷ vật thời chiến,” Lawrence đáp vắn tắt.
“Lão Protheroe hôm nay đã cho Stone xem đồ bạc,” Dennis xen vào. “Có vẻ già Stone mê mẩn mấy thứ ấy quá chừng.”
“Tưởng họ đã cãi nhau về vụ ngôi mộ,” Griselda nói.
“Ô, họ dàn hòa với nhau rồi,” Dennis nói. “Dù sao cháu cũng chẳng biết người ta đào xói mấy ngôi mộ để tìm cái gì nữa.”
“Cái nhà ông Stone này làm tôi thấy khó hiểu quá,” Lawrence góp chuyện. “Tôi nghĩ chắc ông ta phải đãng trí lắm nên nhiều khi chẳng biết tí gì về chuyên môn của mình cả.”
“Tình yêu là thế,” Dennis buột miệng. “Gladys Cram thân yêu, nàng không hề vờ vĩnh. Hàm răng nàng trắng bóng khiến lòng anh sung sướng ngất ngây. Này cô dâu tương lai, hãy đến đây cùng anh bay vào cõi mộng. Và tại Blue Boar, trong gian phòng ngủ này…”
“Đủ rồi đấy Dennis,” tôi ngắt lời thằng bé.
“À, giờ tôi xin kiếu,” Lawrence Redding nói. “Cám ơn bà rất nhiều về buổi tối rất vui vẻ hôm nay, bà Clement.”
Griselda và Dennis tiễn anh ta ra về, rồi Dennis một mình quay lại phòng làm việc. Có chuyện gì đó xảy ra làm thằng bé bực bội. Nó rảo bước quanh phòng, cau có đá bàn đá ghế. Đồ nội thất nhà tôi đã quá cũ kỹ đến mức khó mà hư hỏng hơn nữa, nhưng tôi buộc phải nhẹ nhàng phản ứng. “Cháu xin lỗi,” Dennis nói.
Nó im lặng một lúc rồi buột miệng:
“Cái chuyện ngồi lê đôi mách thối tha dơ bẩn gì đâu á!”
Tôi hơi ngạc nhiên. Dennis không thường tỏ thái độ kiểu đó.
“Có chuyện gì vậy?” tôi hỏi.
“Cháu không biết có nên nói với bác không nữa.”
Tôi càng ngạc nhiên hơn.
“Quá sức tồi tệ bẩn thỉu,” Dennis lại nói. “Đi đâu cũng rêu rao đủ thứ chuyện. Thậm chí không chỉ kể lể mà còn nói bóng nói gió nữa. Thôi, quỷ tha ma bắt — cháu mà kể với bác thì — cháu xin lỗi! Chuyện tởm lắm bác ơi.”
Tôi tò mò nhìn thẳng cháu nhưng không ép nó nói thêm. Tuy vậy tôi vô cùng ngạc nhiên vì tính Dennis xưa nay không quen giữ kín chuyện gì trong lòng.
Ngay lúc ấy Griselda bước vào.
“Bà Wetherby mới vừa gọi điện thoại cho em. Bà Lestrange ra ngoài từ tám giờ mười lăm mà giờ vẫn chưa về nhà. Chẳng ai biết bà ấy đi đâu.’’
“Họ cần biết để làm gì chứ?”
“Nhưng bà ấy không đến bác sĩ Haydock. Bà Wetherby biết rõ chuyện ấy vì bà ta đã gọi cho bà Hartnell ở gần nhà ông bác sĩ, nếu bà Lestrange đến thì bà Hartnell đã nhìn thấy bà ta rồi.”
“Tôi chẳng hiểu làm sao người dân ở đây có thể ăn uống được,” tôi nói. “Hẳn là họ phải vừa đứng cạnh cửa sổ vừa dùng bữa mới chắc chắn không bỏ sót điều gì.”
“Chưa hết đâu mình ạ,” Griselda vẫn sôi sùng sục. “Họ đã phát hiện ở Blue Boar, tiến sĩ Stone và cô Cram thuê hai phòng kế cận, thế nhưng…” nàng ve vẩy ngón tay tỏ ý tin sốt dẻo “…lại không có cửa thông nhau!”
“Vậy chắc mọi người thất vọng lắm,” tôi nói.
Griselda phá lên cười.
Mới đầu ngày thứ năm đã có chuyện không hay. Hai bà trung niên trong giáo phận của tôi cãi nhau về việc trang hoàng nhà thờ. Tôi được mời đến phân xử, bà nào bà nấy đều giận điên người sôi bọt mép. Nếu giận dữ không làm tinh thần con người ta bị xáo trộn thì cũng khiến thân thể bị tác động nhiều.
Sau đó tôi phải khiển trách hai cậu bé trong đội đồng ca vì đã nhai kẹo trong suốt buổi lễ, và tôi bực bội cảm thấy mình đã không toàn tâm toàn ý làm lễ như lẽ ra mình phải làm.
Tiếp đến là người chơi đàn ống, vốn rất ‘nhạy cảm’, lại có điều phật ý cần vỗ về xoa dịu.
Và rồi bốn giáo dân nghèo tuyên bố công khai chống đối bà Hartnell khiến bà ta nổi trận lôi đình chạy đi tìm tôi.
Tôi định quay về nhà thì gặp đại tá Protheroe. Ông ta đang rất hể hả vì vừa tóm được ba tên săn trộm với tư cách là quan chức địa phương.
“Phải giữ kỷ cương chứ,” ông ta oang oang giọng. Vì hơi nặng tai nên Protheroe thường nói to. “Cần phải nghiêm khắc — đó là điều cần thiết hiện nay! Phải trừng phạt để làm gương. Cái thằng Archer xỏ lá hôm qua vừa mới lòi mặt chuột, tôi nghe nói nó thề sẽ trả thù tôi. Quân côn đồ vô lại láo xược! Tục ngữ có câu, càng bị trù ẻo thì càng sống dai. Lần sau tôi mà bắt gặp nó săn trộm chim trĩ của tôi thì nó sẽ hiểu ra thế nào là chuyện nó trả thù tôi. Quá lỏng lẻo! Bây giờ chúng ta buông lỏng quá! Tôi thì lo vạch mặt bọn chúng còn mục sư thì bao giờ cũng được yêu cầu phải chiếu cố đến vợ con chúng nó. Cực kỳ bậy bạ! Vớ vẩn, láo toét! Tại sao một thằng đàn ông có thể thoát tội chỉ vì chúng đem vợ con ra mà than vãn cơ chứ? Với tôi thì đứa nào cũng như nhau — bác sĩ, luật sư, thầy tu, săn trộm hay thằng nát rượu lười biếng vô tích sự — hễ bắt được thằng nào phạm luật thì phải để luật pháp xử chúng. Tôi chắc mục sư đồng ý với tôi.”
“Ông quên rằng chức phận của tôi buộc tôi phải tuân thủ một phẩm chất cao hơn mọi thứ — là lòng khoan dung,” tôi nói.
“À, tôi là người công tâm mà. Không ai có thể phản bác điều đó.”
Tôi không nói gì, thế là ông ta lên giọng gay gắt:
“Sao mục sư không trả lời tôi? Ông nghĩ gì mà mải mê thế?”
Tôi lưỡng lự, rồi quyết định nói:
“Tôi đang suy nghĩ rằng đến phút lâm chung, tôi sẽ hối tiếc nếu lâu nay lời khẩn cầu của tôi chỉ là công lý. Bởi điều đó có nghĩa cuối cùng tôi đã bị công lý trừng phạt…”
“Hừ! Điều chúng ta cần là một chút tinh thần chiến đấu Cơ Đốc giáo. Tôi luôn luôn hoàn thành nghĩa vụ của mình, hy vọng thế. Có vậy thôi. Như đã nói, chiều tối nay tôi sẽ đến. Nếu mục sư không phiền thì chúng ta sẽ làm việc vào sáu giờ mười lăm thay vì sáu giờ. Tôi phải đi thăm một người trong làng.”
“Giờ ấy hoàn toàn phù hợp với tôi.”
Protheroe hươ gậy và sải bước, còn tôi vội vã đến chỗ Hawes. Sáng nay tôi thấy cậu ấy có vẻ nhưốm bệnh. Tôi định khiển trách nhẹ cậu ta về một số việc trong phần hành mà cậu ta làm dở dang hoặc lộn xộn, nhưng nhìn gương mặt trắng bệch căng thẳng của Hawes, tôi biết cậu ta bị bệnh.
Khi tôi nói vậy thì Hawes phủ nhận, nhưng không kịch liệt. Sau cùng cậu ta thú thật mình không được khỏe, và tỏ ra sẵn sàng nghe lời khuyên của tôi là về nhà nằm nghỉ.
Tôi vội vàng ăn trưa rồi đi thăm một số người. Griselda thì đã đi London bằng chuyến tàu giá rẻ ngày thứ năm. Đến khoảng bốn giờ kém mười lăm tôi trở về, định bụng phác thảo bài Phúc âm ngày chủ nhật thì Mary nói ông Redding đang chờ tôi trong văn phòng.
Tôi trông thấy anh ta đang bồn chồn đi đi lại lại. Mặt anh ta trắng bệch và phờ phạc. Thấy tôi bước vào, anh ta đột ngột quay lại.
“Tôi đã nghĩ thấu đáo về chuyện ngài nói hôm qua. Đêm qua tôi thức trắng suy nghĩ. Ngài nói đúng. Tôi nên đoạn tuyệt và ra đi.”
“Anh bạn thân mến,” tôi nói.
“Điều ngài nói về Anne hoàn toàn đúng. Tôi còn ở lại đây thì chỉ thêm rắc rối cho nàng. Nàng — nàng quá tốt. Tôi biết mình cần phải ra đi. Tôi làm khổ nàng như vậy là đủ rồi, cầu Chúa phù hộ cho tôi.”
“Ta nghĩ anh đã có quyết định duy nhất hợp lý,” tôi nói. “Ta biết đó là một quyết định khó khăn, nhưng hãy tin ta đi, cuối cùng đó sẽ là điều tốt nhất.”
Tôi có thể thấy anh ta nghĩ rằng đó là điều dễ dàng nói ra bời một người không biết mình đang nói gì!
“Ngài sẽ chăm sóc Anne chứ? Nàng cần có một người bạn.”
“Anh cứ yên chí, ta sẽ làm mọi việc hết sức mình.”
“Xin cám ơn ngài.” Anh ta siết chặt tay tôi. “Ngài là người tử tế, thưa ngài. Tối nay tôi sẽ gặp nàng để chào tạm biệt, và có thể tôi sẽ thu xếp hành lý để sáng mai lên đường. Kéo dài nỗi thống khổ thì chẳng ích gì. Cám ơn ngài đã cho tôi mượn nhà kho làm chỗ vẽ tranh. Tôi rất tiếc đã không kịp hoàn thành bức chân dung của phu nhân Clement.”
“Đừng bận tâm việc ấy, anh bạn thân mến. Tạm biệt, cầu Chúa phù hộ cho anh.”
Khi anh ta ra về, tôi cố gắng viết tiếp bài Phúc âm nhưng chẳng được. Đầu óc tôi cứ lẩn quẩn chuyện Lawrence và Anne Protheroe.
Lúc năm giờ rưỡi, tôi đang dùng một tách trà dở tệ, nguội và đắng ngắt, thì chuông điện thoại reo. Có người báo tin ông Abott ở Lover Farm đang hấp hối và mời tôi đến ngay.
Tôi lập tức gọi đến Old Hall, vì Lover Farm cách nhà mục vụ đến gần hai dặm, có thể tôi sẽ không quay về kịp sáu giờ mười lăm, mà tôi lại không biết đi xe đạp. Tuy vậy, đầu dây kia báo là đại tá Protheroe vừa lên xe ra đi, vì thế tôi cũng lên đường sau khi nhắn với Mary rằng có người mời nên tôi phải đi, nhưng tôi sẽ cố gắng quay về khoảng sáu giờ rưỡi hoặc muộn hơn một chút.