Đăng Nhập
Đăng nhập iSach
Đăng nhập = Facebook
Đăng nhập = Google
Quên Mật Khẩu
Đăng ký
Trang chủ
Đăng nhập
Đăng nhập iSach
Đăng nhập = Facebook
Đăng nhập = Google
Đăng ký
Tùy chỉnh (beta)
Nhật kỳ....
Ai đang online
Ai đang download gì?
Top đọc nhiều
Top download nhiều
Top mới cập nhật
Top truyện chưa có ảnh bìa
Truyện chưa đầy đủ
Danh sách phú ông
Danh sách phú ông trẻ
Trợ giúp
Download ebook mẫu
Đăng ký / Đăng nhập
Các vấn đề về gạo
Hướng dẫn download ebook
Hướng dẫn tải ebook về iPhone
Hướng dẫn tải ebook về Kindle
Hướng dẫn upload ảnh bìa
Quy định ảnh bìa chuẩn
Hướng dẫn sửa nội dung sai
Quy định quyền đọc & download
Cách sử dụng QR Code
Truyện
Truyện Ngẫu Nhiên
Giới Thiệu Truyện Tiêu Biểu
Truyện Đọc Nhiều
Danh Mục Truyện
Kiếm Hiệp
Tiên Hiệp
Tuổi Học Trò
Cổ Tích
Truyện Ngắn
Truyện Cười
Kinh Dị
Tiểu Thuyết
Ngôn Tình
Trinh Thám
Trung Hoa
Nghệ Thuật Sống
Phong Tục Việt Nam
Việc Làm
Kỹ Năng Sống
Khoa Học
Tùy Bút
English Stories
Danh Mục Tác Giả
Kim Dung
Nguyễn Nhật Ánh
Hoàng Thu Dung
Nguyễn Ngọc Tư
Quỳnh Dao
Hồ Biểu Chánh
Cổ Long
Ngọa Long Sinh
Ngã Cật Tây Hồng Thị
Aziz Nesin
Trần Thanh Vân
Sidney Sheldon
Arthur Conan Doyle
Truyện Tranh
Sách Nói
Danh Mục Sách Nói
Đọc truyện đêm khuya
Tiểu Thuyết
Lịch Sử
Tuổi Học Trò
Đắc Nhân Tâm
Giáo Dục
Hồi Ký
Kiếm Hiệp
Lịch Sử
Tùy Bút
Tập Truyện Ngắn
Giáo Dục
Trung Nghị
Thu Hiền
Bá Trung
Mạnh Linh
Bạch Lý
Hướng Dương
Dương Liễu
Ngô Hồng
Ngọc Hân
Phương Minh
Shep O’Neal
Thơ
Thơ Ngẫu Nhiên
Danh Mục Thơ
Danh Mục Tác Giả
Nguyễn Bính
Hồ Xuân Hương
TTKH
Trần Đăng Khoa
Phùng Quán
Xuân Diệu
Lưu Trọng Lư
Tố Hữu
Xuân Quỳnh
Nguyễn Khoa Điềm
Vũ Hoàng Chương
Hàn Mặc Tử
Huy Cận
Bùi Giáng
Hồ Dzếnh
Trần Quốc Hoàn
Bùi Chí Vinh
Lưu Quang Vũ
Bảo Cường
Nguyên Sa
Tế Hanh
Hữu Thỉnh
Thế Lữ
Hoàng Cầm
Đỗ Trung Quân
Chế Lan Viên
Lời Nhạc
Trịnh Công Sơn
Quốc Bảo
Phạm Duy
Anh Bằng
Võ Tá Hân
Hoàng Trọng
Trầm Tử Thiêng
Lương Bằng Quang
Song Ngọc
Hoàng Thi Thơ
Trần Thiện Thanh
Thái Thịnh
Phương Uyên
Danh Mục Ca Sĩ
Khánh Ly
Cẩm Ly
Hương Lan
Như Quỳnh
Đan Trường
Lam Trường
Đàm Vĩnh Hưng
Minh Tuyết
Tuấn Ngọc
Trường Vũ
Quang Dũng
Mỹ Tâm
Bảo Yến
Nirvana
Michael Learns to Rock
Michael Jackson
M2M
Madonna
Shakira
Spice Girls
The Beatles
Elvis Presley
Elton John
Led Zeppelin
Pink Floyd
Queen
Sưu Tầm
Toán Học
Tiếng Anh
Tin Học
Âm Nhạc
Lịch Sử
Non-Fiction
Download ebook?
Chat
Truy Tìm Dracula
ePub
A4
A5
A6
Chương trước
Mục lục
Chương sau
Chương 75
"S
au chuyến phiêu lưu trong hầm mộ, phòng khách phía trướccủa gia đình Bora trông giống như một thiên đường nơi hạ giới. Quả là cực kỳthoải mái khi trở lại nơi này, với cốc trà nóng trong tay - tuần lễ đó thờitiết đã chuyển lạnh, một đợt lạnh hiếm hoi vì đã vào tháng Sáu - Turgut đangngồi trên chiếc trường kỷ bọc nệm mỉm cười với chúng ta. Helen cởi giày để ởcửa căn hộ và mang vào đôi dép lê màu đỏ có trang trí những tua những núm mà bàBora mang đến. Selim Aksoy cũng có mặt, ngồi im lìm trong góc phòng, Turgutkhăng khăng muốn chúng ta giải thích tường tận mọi chuyện cho hai vợ chồng ông.
" ‘Các bạn chắc chắn là ngôi mộ trống trơn chứ?’ Turgut đãhỏi câu đó một lần rồi nhưng có vẻ như không thể không hỏi lại một lần nữa.
" ‘Hoàn toàn chắc chắn.’ Cha liếc nhìn Helen. ‘Điều chúngtôi không thể khẳng định là liệu tiếng động mà chúng tôi nghe được có phải làâm thanh do Dracula gây ra khi thoát đi bằng một cách nào đó, khi chúng tôivào. Lúc đó chắc hẳn trời bên ngoài đã tối, và hắn đã dễ dàng chuồn đi.’
" ‘Và dĩ nhiên, có thể hắn đã thay hình đổi dạng, nếu truyềnthuyết nói đúng.’ Turgut thở dài. ‘Hắn đúng là thứ ranh ma! Các bạn đã gần bắtđược hắn, các bạn ạ, gần hơn so với bất kỳ Đội vệ binh Trăng Lưỡi Liềm nàotrong năm thế kỷ qua. Tôi rất mừng vì các bạn không hề hấn gì nhưng cũng vôcùng tiếc là các bạn đã không thể tiêu diệt được hắn.’
" ‘Ông nghĩ là hắn đi đâu chứ?’ Helen chồm tới, đôi mắtnhung huyền long lên.
"Turgut đưa tay xoa cái cằm bạnh của mình. ‘Chà, chuyện đóthì tôi không thể đoán nổi. Hắn có thể đi rất nhanh và rất xa, nhưng không biếthắn sẽ đi xa đến chừng nào. Đến một địa điểm cũ xưa khác, tôi chắc chắn nhưvậy, một địa điểm được che giấu và không bị quấy rầy nhiều thế kỷ qua. Chắc hẳnviệc phải rời bỏ Sveti Georgi là một đòn đau đối với hắn, nhưng hẳn hắn sẽ hiểunơi chốn đó từ nay sẽ được canh giữ và còn lâu mới trở lại đó được. Tôi sẵnsàng làm bất cứ gì để biết liệu hắn còn ở đâu đó trong Bungari hay đã cao bayxa chạy khỏi đất nước đó rồi. Biên giới và thể chế chính trị chả có ý nghĩa gìnhiều đối với hắn đâu, tôi chắc chắn như vậy.’ Đôi hàng lông mày cau lại đầy vẻsuy tư trên gương mặt nhân hậu của Turgut.
" ‘Ông không nghĩ hắn sẽ theo dõi chúng tôi sao?’ Helen hỏi,vẻ thẳng thắn, nhưng có gì đó trong tư thế của đôi vai khiến cha nghĩ mẹ phảicố gắng lắm mới nêu ra được câu hỏi đơn giản đó.
"Turgut lắc đầu. ‘Tôi mong là không, nữ giáo sư ạ. Tôi cholà hiện nay hắn đang khá e ngại hai bạn, bởi trong khi không ai có thể tìm rahắn thì các bạn lại có thể.’
"Helen im lặng, cha chẳng thích vẻ nghi ngờ trên mặt mẹ chútnào. Selim Aksoy và bà Bora nhìn mẹ với vẻ dịu dàng đặc biệt, cha nghĩ; có lẽhọ đang băn khoăn tự hỏi làm sao cha có thể cho phép mẹ đi vào những nơi chốnnguy hiểm như vậy, cho dù chúng ta đã xoay xở để trở về mà không sứt mẻ gì.
"Turgut quay sang cha. ‘Tôi cũng rất tiếc về ông bạn Rossi củaanh. Tôi đã rất mong muốn được gặp ông ấy.’
" ‘Tôi cũng nghĩ là ông và ông ấy sẽ hợp với nhau lắm,’ chanói một cách thành thực, nắm lấy tay Helen. Đôi mắt mẹ lại rưng rưng khi nghenhắc đến cái tên Rossi, Helen ngoảnh mặt đi, tựa như để che giấu nỗi niềm riêngtư của mình.
" ‘Ước gì tôi có thể gặp giáo sư Rossi.’ Turgut thở dài, đặttách trà xuống cái bàn bằng đồng trước mặt chúng ta.
" ‘Như thế hẳn sẽ tuyệt lắm,’ cha thốt lên, mỉm cười tưởngtượng ra hình ảnh hai học giả đang đối chiếu những ghi chép với nhau. ‘Ông vàgiáo sư Stoichev có thể giảng giải cho nhau nghe về đế chế Ottoman và vùngBalkan thời Trung cổ. Có lẽ, một ngày nào đó các ông sẽ gặp nhau.’
"Turgut lắc đầu. ‘Tôi không nghĩ vậy,’ ông ta nói. ‘Nhữngrào cản ngăn cách giữa chúng tôi quá cao - rất nhạy cảm - như những cách biệtgiữa bất kỳ một sa hoàng và một quan tổng trấn Thổ Nhĩ Kỳ Hồi giáo nào. Nhưngnếu anh lại có dịp chuyện trò hoặc viết thư cho ông ấy, nhớ cho tôi gửi lời hỏithăm.’
"Đó quả là một lời hứa dễ thực hiện.
"Selim Aksoy muốn Turgut hỏi chúng ta một câu. Turgut lắngnghe anh ta, vẻ mặt nghiêm trọng. Ông dịch lại cho Helen và cha, ‘Chúng tôi bănkhoăn không biết giữa lúc vô cùng nguy hiểm và lộn xộn đó, các bạn có thấy cuốnsách mà giáo sư Rossi mô tả không - cuốn sách viết về cuộc đời của Thánh Georgeấy? Liệu người Bungari đã mang cuốn sách đó về trường Đại học Sofia chưa?’
"Khi thực sự vui vẻ, tiếng cười của Helen có thể trở nên dễthương đến đáng ngạc nhiên, và cha phải cố kìm lại để không ôm hôn mẹ say đắmtrước mặt mọi người. Helen hầu như không cười từ lúc chúng ta để thầy Rossi lạitrong hầm mộ kia. ‘Nó đang trong cặp của tôi,’ cha trả lời. ‘Lúc này là vậy.’
"Turgut nhìn trừng trừng, sửng sốt, phải mất một lát mới nhớlại nhiệm vụ thông dịch của mình. ‘Làm sao các bạn mang được nó về nhà, ra khỏichỗ đó?’
"Helen vẫn im lặng, chỉ mỉm cười, vì vậy cha phải giảithích. ‘Tôi chẳng hề nghĩ đến nó cho đến khi trở về khách sạn ở Sofia.’ Không,cha không thể kể với bọn họ toàn bộ sự thật, vì vậy cha đã bịa với họ một câuchuyện cho phải phép.
"Toàn bộ sự thật là khi cuối cùng chỉ còn lại mình cha và mẹtrong căn phòng của mẹ ở khách sạn, cha đã ôm mẹ vào lòng, hôn lên mái tóc đentuyền, kéo mẹ tựa vào vai, ôm mẹ sát vào người như một phần cơ thể mình mặc cholớp quần áo đầy bụi đường sau chuyến du hành - nửa phần thân thể thất lạc củaPlato 1 _, cha thầm nghĩ - và rồi cha cảm nhận không chỉ nỗi khuây khỏa vìchúng ta đã sống sót để được trong vòng tay nhau ở đấy, vì vẻ đẹp của nhữngchiếc xương dài của mẹ, vì hơi thở nồng ấm của mẹ trên cổ cha mà còn vì một cáigì đó sai lạc không thể giải thích được trong cơ thể mẹ, một cái gì đó cứng cộmlên cứng ngắc. Cha lui người lại để nhìn Helen, sợ hãi, và thấy nụ cười đầy vẻgiễu cợt. Mẹ đưa ngón tay lên môi. Đó chỉ là một dấu hiệu nhắc nhở, cả haichúng ta đều biết căn phòng có thể đã bị đặt máy nghe trộm.
"Một lúc sau, mẹ cầm tay cha đặt trên hàng cúc chiếc áo sơmi giờ đã dơ dáy và tả tơi vì cuộc thám hiểm vừa qua. Cha không kịp suy nghĩ,chỉ cởi cúc và kéo chiếc áo ra. Đồ lót của phụ nữ thời đó rất phức tạp với đủloại dây nhợ, móc và các bộ phận kỳ dị - một thứ áo giáp mặc phía bên trong.Gói trong một chiếc khăn tay, sát với da thịt Helen và hãy còn ấm hơi người làmột cuốn sách - không phải là cuốn khổ lớn đẹp đẽ như cha tưởng tượng khi thầyRossi tiết lộ với chúng ta về sự hiện hữu của nó, mà là một cuốn nhỏ bằng cỡbàn tay cha. Bìa sách làm bằng gỗ sơn và da, bên ngoài có các hoa văn tinh tếbằng vàng, nạm trên lớp vàng đó là ngọc lục bảo, hồng ngọc, ngọc bích, ngọctrai - một vòm trời nho nhỏ những loại đá quý, tất cả để tôn vinh một khuôn mặtvị thánh ở trung tâm. Nét mặt Byzantine thanh nhã của ông trông như mới được vẽmột vài ngày chứ không phải là đã hàng thế kỷ, và đôi mắt to, buồn bã, khoandung dường như đang dõi theo ánh mắt cha. Đôi hàng lông mày nhướng lên thànhhai vòng cung thanh mảnh trên đôi mắt, cánh mũi dài thẳng, miệng mím lại nghiêmnghị u sầu. Bức chân dung có một vẻ tròn trịa, đầy đủ và giống như thật mà chachưa bao giờ nhìn thấy ở các bức tranh Byzantine - một gương mặt của tổ tiênngười La Mã. Nếu chẳng phải vì cha đã yêu rồi, hẳn cha đã nói đó là một gươngmặt đẹp nhất mà cha được nhìn thấy, đầy chất người nhưng cũng rất thần thánh,hoặc vừa thần thánh vừa rất con người. Chạy suốt trên cổ áo khoác là những conchữ tinh tế. ‘Chữ Hy Lạp,’ Helen lên tiếng. Giọng mẹ nghe chưa bằng một tiếngthì thầm, lửng lơ bên tai cha. ‘Thánh George.’
"Bên trong là những trang giấy da còn trong tình trạng hoànhảo đến độ đáng ngạc nhiên, đầy những dòng chữ viết tay đẹp đẽ, cũng bằng tiếngHy Lạp. Thỉnh thoảng là những trang hình minh họa cực kỳ tinh tế: Thánh Georgeđâm mũi giáo vào bụng một con rồng đang quằn quại dưới sự chứng kiến của mộtđám đông các nhà quý tộc; Thánh George đang nhận một vương miện mạ vàng từ tayChúa Jesus, người đang cúi xuống từ cái ngai vàng lộng lẫy của mình; ThánhGeorge nằm chết trên giường, những thiên thần có đôi cánh màu đỏ đang nhỏ lệkhóc than. Mỗi tấm hình đầy những chi tiết tỉ mỉ, có thể làm người xem sững sờ.Helen gật đầu, cha ghé sát tai vào miệng mẹ, thậm chí nghe được hơi thở của mẹ.‘Em không phải là chuyên gia lĩnh vực này,’ Helen thì thầm, ‘nhưng em nghĩ cóthể cuốn sách này được làm riêng cho hoàng đế Constantinople - chính xác đây làcái người ta gìn giữ lại cho hậu thế. Đây là dấu triện của các vị hoàng đế đờisau.’ Chắc chắn là vậy, mặt trong bìa sách có hình vẽ một con chim đại bàng haiđầu, một đầu nhìn về quá khứ huy hoàng của thành phố thủ đô của đế quốc, mộtđầu hướng về tương lai vô hạn phía trước; đôi mắt đó đã không đủ sắc bén đểthấy được việc đế quốc bị kẻ vô đạo mới nổi lật đổ sau này.
" ‘Nghĩa là cuốn sách này có niên đại tối thiểu là nửa đầuthế kỷ mười lăm, trước cuộc chinh phục,’ cha thở ra.
" ‘Ồ, em nghĩ nó phải xưa hơn chứ,’ Helen tiếp tục thì thào,nhẹ nhàng sờ lên dấu triện. ‘Cha em - cha em nói nó rất cổ. Và anh có thể thấycái phù hiệu ở chỗ này, đây là dấu hiệu của hoàng đế Constantine VII. Ông tatrị vì trong’ - Helen lục tìm một hồ sơ bên trong - ‘khoảng thời gian nửa đầuthế kỷ thứ mười. Ông ta lên ngôi trước khi Bachkhôngvski manastir - tu việnBachkhôngvo được xây dựng. Hình chim đại bàng ắt hẳn được bổ sung thêm vào saunày.’
"Cha cũng thì thào, hầu như không thành tiếng. ‘Ý em muốnnói cuốn sách này đã có hơn một ngàn năm?’ Thận trọng cầm cuốn sách bằng cả haitay, cha ngồi xuống mép giường, sát bên Helen. Không ai trong chúng ta gây ramột tiếng động nào, chúng ta hầu như chỉ trao đổi với nhau bằng mắt. ‘Tìnhtrạng cuốn sách gần như là hoàn hảo. Và em định lén tuồn một kho báu như thếnày ra khỏi Bungari sao, Helen?’ cha nói, kèm theo một cái liếc mắt, ‘em mấttrí rồi. Còn cái thực tế là nó thuộc về nhân dân Bungari thì sao?’
"Helen hôn cha rồi lấy cuốn sách khỏi tay cha và lật quatrang bìa trước. ‘Nó là quà tặng của cha em,’ mẹ thì thầm. Mặt trong của trangbìa trước có một túi da có nắp, Helen thận trọng luồn tay vào bên trong. ‘Em đãchờ cho đến lúc chúng ta có thể cùng mở ra xem cái này.’ Mẹ lôi ra một tập giấymỏng đầy những dòng chữ đánh máy sít rịt bên nhau. Rồi chúng ta cùng đọc, trongyên lặng, những dòng nhật ký đau đớn của thầy Rossi. Lúc đọc xong, không aithốt lên được lời nào, dù cả hai bố mẹ đều giàn giụa nước mắt. Sau cùng, mẹ lạigói cuốn sách trong chiếc khăn tay và thận trọng giấu nó trở lại vào chỗ cũtrong người.
"Turgut mỉm cười khi cha kể xong phiên bản ít chi tiết hơncủa câu chuyện này. ‘Nhưng có một điều khác quan trọng hơn mà tôi phải nói vớiông,’ cha nói. Cha mô tả cái hình phạt ngục tù kinh khủng của thầy Rossi trongthư viện. Bọn họ lắng nghe với gương mặt bất động, vẻ nghiêm trọng, và khi chakể đến chi tiết Dracula biết sự tồn tại tiếp nối của một đội vệ binh được Quốcvương Mehmed thành lập để truy sát hắn, Turgut hít một hơi thật sâu. ‘Tôi xinlỗi,’ cha kết thúc.
"Turgut dịch ngay cho Selim, anh chàng này cúi đầu và khẽnói gì đó. Turgut gật đầu. ‘Anh đã nói lên điều tôi cảm thấy rõ nhất. Tin kinhkhủng này chỉ có nghĩa là chúng tôi sẽ phải nỗ lực hơn trong việc truy đuổi KẻXiên Người, cũng như không để hắn ảnh hưởng đến thành phố chúng tôi. Nếu cònsống thì hẳn Người Chinh phục cũng sẽ lãnh đạo chúng tôi đi chính con đườngnày. Đó là sự thật. Thế khi trở về quê hương, các bạn sẽ làm gì với cuốn sách?’
" ‘Tôi quen một vài người có quan hệ với một hãng đấu giá,’cha trả lời. ‘Lẽ tất nhiên là chúng tôi sẽ rất thận trọng, và sẽ chờ đợi mộtthời gian trước khi thực hiện bất kỳ việc gì. Tôi cho là, trước sau gì cũng sẽcó một viện bảo tàng mua nó.’
" ‘Còn tiền thì sao?’ Turgut lắc đầu. ‘Các bạn sẽ làm gì vớiquá nhiều tiền như vậy?’
" ‘Chúng tôi đang suy nghĩ,’ cha trả lời. ‘Một việc gì đó cóích. Chúng tôi cũng chưa xác định đó là việc gì.’
"Chuyến bay của chúng ta trở về New York khởi hành lúc nămgiờ, Turgut bắt đầu nhìn đồng hồ ngay khi chúng ta kết thúc bữa ăn trưa thịnhsoạn cuối cùng trên bộ trường kỷ. Đáng buồn là ông ta có một lớp dạy buổichiều, nhưng Aksoy sẽ tiễn chúng ta ra phi trường, bằng xe taxi. Khi chúng tađứng dậy để chuẩn bị đi, bà Bora mang ra và quấn vào cổ Helen một khăn quànglụa thượng hạng màu kem xinh xắn, thêu chỉ bạc. Chiếc khăn che đi phần nào cáicổ áo bẩn và vẻ tuềnh toàng chiếc áo khoác của cô, khiến tất cả chúng ta - ítnhất là cha, nhưng không thể chỉ một mình cha được - đều há hốc miệng vì kinhngạc. Gương mặt của Helen trên chiếc khăn quàng là hình ảnh của một nữ hoàng.‘Dành cho ngày cưới của các bạn,’ bà Bora nói rồi nhón chân lên hôn từ biệtHelen.
"Turgut hôn lên tay Helen. ‘Của mẹ tôi đấy,’ ông chỉ nóingắn gọn, Helen không thốt nên lời. Cha phải lên tiếng đáp lại, thay cho cả haichúng ta, rồi bắt tay họ. Chúng ta sẽ thư cho họ, sẽ nhớ đến họ. Cuộc đời còndài, rồi chúng ta sẽ lại gặp nhau."
"Phần cuối câu chuyện của cha có lẽ là phần khó kể nhất, bởibất chấp mọi điều, nó đã khởi đầu với vô vàn hạnh phúc. Chúng ta yên lặng trởvề trường đại học và tiếp tục trở lại công việc của mình. Cha bị cảnh sát thẩmvấn một lần nữa, nhưng bọn họ có vẻ đã hài lòng với cái kết luận là chuyến đinước ngoài của cha chỉ liên quan đến công việc nghiên cứu chứ không phải vớiviệc biến mất của thầy Rossi. Rồi thì các tờ báo cũng nắm được tin ông ấy mấttích và đã thêu dệt thành một câu chuyện hình sự đầy bí ẩn, mà trường đại họccố lờ đi như không biết đến. Lẽ dĩ nhiên hiệu trưởng cũng tra vấn cha, và dĩnhiên cha không tiết lộ điều gì và chỉ nói là cũng như bất kỳ người nào kháccha rất đau lòng về thầy Rossi. Mùa thu đó, Helen và cha tổ chức lễ cưới tạinhà thờ tại nơi ông bà nội con sinh sống - ngay cả giữa buổi lễ, cha vẫn khôngthể không cảm thấy hôn lễ thật đơn giản và tuềnh toàng khi thiếu đi thứ trầmhương thơm ngát.
"Lẽ dĩ nhiên, ông bà nội con khá ngạc nhiên về tất cả mọichuyện, nhưng rốt cuộc cả hai không thể nào không yêu mến Helen. Mẹ không baogiờ để lộ bản tính ưa cáu gắt và châm chọc khi ở bên họ, trong thời gian chúngta đến thăm ông bà nội ở Boston cha thường nghe Helen cười nói cùng với bà nộitrong nhà bếp, chỉ cho bà nấu các món đặc sản của người Hungary, hoặc bàn luậnvới ông nội về nhân học trong phòng làm việc chật hẹp của ông. Về phần cha, mặcdù cảm thấy khổ tâm về cái chết của thầy Rossi và dường như cái chết đó cũnggây ra cho Helen nỗi bi thương không thể nguôi ngoai, nhưng dù sao với cha nămđầu tiên đó cũng ngập đầy niềm vui. Cha hoàn thành luận án tiến sĩ với một giáosư hướng dẫn khác, người không để lại trong cha một ấn tượng rõ rệt nào trongsuốt quá trình làm việc chung. Không phải vì cha vẫn còn quan tâm đến chủ đềcác thương nhân Hà Lan; cha chỉ muốn hoàn tất việc học của mình để có thể ổnđịnh cuộc sống ở một nơi nào đó. Helen đã công bố một bài báo dài về những điềumê tín dị đoan trong các làng mạc vùng Wallachia, bài báo rất được tán thưởng,mẹ đã bắt đầu luận án tiến sĩ có chủ đề về những tàn dư của phong tục tập quánvùng Transylvania ở Hungary.
"Chúng ta còn viết một thứ khác nữa, ngay khi về đến Mỹ: mộtlá thư gửi cho mẹ Helen, nhờ bác Éva chuyển. Helen không dám viết gì nhiềutrong lá thư đó, chỉ vắn tắt vài dòng là thầy Rossi đã mất rồi, trước sau ôngvẫn nhớ và thương yêu bà. Mẹ dán lá thư lại với vẻ mặt đầy tuyệt vọng. ‘Mộtngày nào đó em sẽ kể với mẹ em mọi chuyện sau,’ Helen nói, giọng buồn bã, ‘khiem có thể thì thầm vào tai bà.’ Chúng ta không biết chắc lá thư đó có đến đượcđịa chỉ hay không, bởi cả bác Éva lẫn mẹ Helen không ai hồi âm, và trong năm đóquân đội Liên Xô đã tràn vào Hungary.
"Cha hoàn toàn có ý định sẽ sống một cuộc sống hạnh phúc lâudài, chẳng bao lâu sau đám cưới, cha đã nói với Helen là cha hy vọng chúng tasẽ sớm có con. Thoạt tiên, mẹ lắc đầu, đưa những ngón tay mềm mại sờ lên vếtsẹo trên cổ. Cha hiểu mẹ có ý gì. Nhưng triệu chứng nhiễm của mẹ rất nhẹ, chaphân tích rõ điều đó, mẹ vẫn khỏe mạnh và không bệnh tật gì. Càng lúc có vẻ nhưtình trạng bình phục hoàn toàn càng khiến mẹ yên tâm, cha nhìn ra ánh mắt thèmthuồng của mẹ như dán vào những chiếc xe đẩy trẻ con khi chúng ta đi trên phố.
"Helen nhận học vị tiến sĩ nhân học vào mùa xuân sau khichúng ta cưới. Tốc độ viết luận án của Helen làm cha thấy xấu hổ; suốt năm đócha thường thức giấc vào lúc năm giờ sáng và thấy mẹ đã rời giường từ lúc nào,đang ngồi ở bàn làm việc. Trông mẹ xanh xao và mỏi mệt, và hôm sau ngày mẹ bảovệ luận án tiến sĩ, cha thức dậy và nhìn thấy máu dính trên chăn mền, Helen nằmkế bên, đã lả đi vì đau đớn: sẩy thai. Mẹ đã chờ đợi để làm cha ngạc nhiên vớimột tin tốt lành. Sau đó mẹ ốm nhiều tuần lễ, nhưng vẫn im lặng. Bản luận ántiến sĩ được đánh giá cao, nhưng mẹ chẳng hề nhắc đến điều đó.
"Mẹ thúc giục cha nhận công việc giảng dạy đầu tiên ở NewYork, và chúng ta đã chuyển đến đó. Chúng ta cư ngụ ở khu vực Brooklyn Heights,trong một căn sang trọng dễ chịu nhưng đã có phần xuống cấp. Chúng ta thường đidạo dọc theo bến tàu nhìn ngắm những chiếc tàu kéo ngược xuôi trong bến cảng vànhững tàu chở khách khổng lồ cuối cùng nhổ neo trong cuộc đua hướng về châu Âu.Helen dạy tại một trường đại học cũng tuyệt vời như trường của cha, đám sinhviên ở đó rất ngưỡng mộ mẹ; tại New York chúng ta đã đạt được một sự cân bằngtuyệt diệu trong cuộc sống, kiếm sống được bằng công việc chúng ta yêu thíchnhất.
"Thỉnh thoảng, chúng ta đem cuốn Cuộc đời của Thánh Georgera chậm rãi nghiền ngẫm lại từng trang, và rồi cũng đến cái ngày mang nó đếnmột hãng đấu giá không công khai, và đến cuối buổi, tay người Anh tổ chức cuộcđấu giá gần như ngất xỉu. Sau một cuộc mua bán kín đáo, quyển sách đã trở vềvới tu viện Cloisters khu Thượng Manhattan, và một số tiền lớn được chuyển vàotài khoản mà chúng ta mở sẵn. Cũng giống như cha, Helen không thích cuộc sốngcầu kỳ, nên ngoài việc cố gắng gửi vài món tiền nhỏ cho những người bà con ởHungary, tạm thời chúng ta vẫn chưa đụng gì đến món tiền kia cả.
"Lần sẩy thai thứ hai của Helen nghiêm trọng và nguy hiểmhơn lần đầu, một ngày kia, cha trở về nhà và nhìn thấy những dấu chân vấy đầymáu trên mặt sàn gỗ phòng sảnh. Mẹ đã xoay xở tự gọi xe cứu thương và lúc chađến được bệnh viện thì mẹ hầu như đã qua cơn nguy hiểm. Từ lúc đó, ký ức vềnhững dấu chân vấy máu kia đã nhiều lần làm cha thức giấc giữa đêm khuya. Chabắt đầu lo ngại chúng ta sẽ chẳng bao giờ có một đứa con khỏe mạnh và thầm bănkhoăn tự hỏi thực tế đó sẽ ảnh hưởng như thế nào, đặc biệt với Helen. Nhưng rồimẹ lại có thai, và những tháng dài đầy lo âu tiếp nối nhau trôi qua mà không cógì bất thường. Đôi mắt Helen trở nên hiền dịu chẳng khác gì bức tượng Đức Mẹ,bụng mẹ dần tròn lẳn dưới bộ váy áo len xanh, mẹ đi lại đã hơi khó khăn. Helenluôn miệng mỉm cười; đứa con này là đứa con chúng ta sẽ giữ được.
"Con sinh ra trong một bệnh viện nhìn xuống dòng sôngHudson. Khi nhìn thấy làn da ngăm đen và gương mặt của con sáng láng giống hệtmẹ, hoàn hảo như một đồng xu mới, mẹ đã giàn giụa nước mắt vì vui sướng lẫn đauđớn, cha bồng con lên cao trong lớp tã lót quấn chặt như để con có thể nhìnthoáng qua những chiếc tàu bên dưới dòng sông. Đó cũng là cách cha che giấunhững giọt nước mắt của mình. Chúng ta đã đặt tên con theo tên bà ngoại củacon.
"Mẹ con mê mẩn con; cha muốn con biết điều đó hơn bất cứđiều nào khác về cuộc sống của chúng ta. Mẹ con đã nghỉ dạy trong thời kỳ mangthai và có vẻ như sẵn sàng bỏ hàng giờ để chơi đùa với những ngón tay ngón châncon, mẹ con nói với một nụ cười tinh quái rằng chúng đặc sệt chất Transylvania,hoặc ngồi đu đưa con trong chiếc ghế bành cha mua cho mẹ. Con biết cười rất sớmvà đã biết đưa mắt dõi theo cha mẹ khắp nơi. Đôi lúc cha bất thần rời khỏiphòng làm việc của mình để trở về nhà, để chắc chắn cả con và mẹ con - những côgái có mái tóc huyền của cha - vẫn còn nằm ngủ yên lành trên chiếc trường kỷkia.
"Một ngày kia, cha trở về nhà sớm, vào lúc bốn giờ, mangtheo một vài hộp thức ăn Tàu và vài bông hoa cho con ngắm. Không có ai trongphòng khách, cha thấy Helen đang cúi xuống chiếc giường cũi, con thì đang ngủ.Gương mặt con khi ngủ trông vô cùng thanh thản, nhưng mẹ thì đầm đìa nước mắtvà có vẻ như chưa nhận ra sự có mặt của cha ngay. Cha ôm mẹ vào lòng và cảmthấy, cùng một cơn ớn lạnh, rằng phần nào đó trong mẹ đáp lại vòng tay cha quáchậm chạp. Mẹ không thổ lộ với cha những gì đang khiến mẹ lo lắng, sau một vàilần thăm dò hỏi han không có kết quả cha cũng không dám hỏi nhiều hơn. Tối hômđó, Helen đã tỏ ra vui vẻ với những bông cẩm chướng và đồ ăn cha mang về, nhưngtuần kế tiếp cha phát hiện mẹ lại giàn giụa nước mắt và lại câm lặng không chịuđáp lời, chỉ đọc lướt một trong các cuốn sách mà thầy Rossi đã ký tặng cha lúcchúng ta bắt đầu làm việc chung với nhau. Đó là một cuốn đồ sộ về nền văn minhMinoan, cuốn sách đang nằm trên lòng Helen, và mở đến một trang có tấm hình dochính thầy Rossi chụp một bệ thờ dùng trong các lễ hiến tế ở đảo Crete. ‘Conđâu em?’ cha hỏi.
"Helen chậm chạp ngẩng đầu lên, nhìn cha đăm đăm, tựa nhưvừa nhớ lại thực tại. ‘Nó đang ngủ.’
"Cha nhận thấy mình, một cách kỳ lạ, đang cưỡng lại cái thôithúc muốn đi vào phòng ngủ để xem con thế nào. ‘Em yêu, có chuyện gì vậy?’ Chacất cuốn sách đi và ôm lấy mẹ, nhưng mẹ cũng chỉ lắc đầu, không nói gì. Saucùng, cha đi vào đúng lúc con vừa thức giấc, cùng với nụ cười dễ thương, lẫyngười xuống, cố ngỏng lên nhìn cha.
"Chẳng bao lâu sau, Helen hầu như im lặng suốt mọi buổi sángvà khóc lúc đêm về mà chẳng vì nguyên do rõ rệt nào. Bởi Helen không chịu nóigì với cha nên cha đã cố ép mẹ đến gặp một bác sĩ và sau đó là một chuyên giatâm lý. Vị bác sĩ cho biết là không tìm thấy bệnh tật gì ở Helen, phụ nữ đôikhi thường có tâm trạng chán nản trong vài tháng đầu thời kỳ sau sinh, Helen sẽbình thường trở lại khi đã quen với vai trò làm mẹ. Đến tận khi một người bạncủa chúng ta tình cờ gặp Helen ở Thư viện Công cộng New York, cha mới phát hiệnra mẹ đã không hề đến điều trị ở chỗ chuyên gia tâm lý. Khi cha hỏi thẳng chuyệnđó, mẹ trả lời là một vài công việc nghiên cứu nào đó sẽ làm cho mẹ vui hơn vàđã quyết định sử dụng thời gian gửi con đi nhà trẻ để thực hiện việc đó thay vìđến bác sĩ tâm lý. Nhưng vào một vài buổi tối, tâm trạng của mẹ rất nặng nề,cha đi đến kết luận là mẹ rất cần một sự thay đổi khung cảnh, môi trường sống.Vào đầu mùa xuân, cha đã rút một ít tiền dành dụm để mua vé máy bay đến Pháp.
"Helen chưa bao giờ đến Pháp mặc dù có lẽ cả đời đã đọc sáchvề nước Pháp và nói thạo tiếng Pháp như một người được học từ nhỏ. Mẹ trôngtươi cười trên phố Montmartre, bình luận bằng giọng châm biếm cố hữu là nhà thờSacré Coeur trông xấu thậm chí còn tệ hại hơn nhiều so với mức mẹ tưởng tượng.Helen thích đẩy chiếc xe nôi của con dạo trong chợ hoa và dọc theo sông Seine, chúngta cũng thường nán lại ở đó, len lỏi giữa những kệ sách trong khi con ngồitrong chiếc xe đẩy màu đỏ mềm mại, mải mê nhìn xuống dòng nước. Con đã là mộtkhách du lịch tuyệt vời từ lúc mới chín tháng tuổi và mẹ thì thầm với con đóchỉ mới là sự khởi đầu.
"Bà lao công của khách sạn nhỏ nơi chúng ta ở hóa ra đã làmbà của nhiều đứa bé, nên bố mẹ nhờ luôn bà trông hộ con lúc con đang ngủ, cònmình thì la cà vào một quán rượu làm vài ly hoặc vẫn mang găng tay ngồi ngoàitrời uống cà phê. Mẹ - cả con nữa, với đôi mắt ngời sáng - thích nhất là máivòm vút cao của nhà thờ Đức Bà. Sau cùng chúng ta đã lang thang xa hơn xuốngphía Nam thăm viếng những thắng cảnh có các công trình chạm trổ điêu khắc khác- giáo đường Chartres với những ô cửa kính rực rỡ; nhà thờ- pháo đài Albi kỳ dịrực một màu đỏ, nơi phát sinh của những dòng ngoại đạo; những đại sảnh của giáođường Carcassone.
"Helen muốn đến thăm tu viện Thánh Matthieu cổ ởPyrénées- Orientales, chúng ta quyết định sẽ đến đó một hoặc hai ngày trước khitrở về Paris và bay về nhà. Cha nghĩ đã nhìn thấy gương mặt mẹ rạng rỡ hơn khánhiều trong chuyến đi, cha yêu thích cái cách mẹ nằm ườn thoải mái trên chiếcgiường khách sạn ở Perpignan, lật từng trang cuốn sách về lịch sử kiến trúcPháp mà cha mua ở Paris. Tu viện này được xây dựng từ năm 1000, Helen nói, dùbiết cha đã đọc xong cuốn đó. Đó là mẫu kiến trúc phong cách Roman cổ xưa nhấtcòn tồn tại ở châu Âu. ‘Cũng cổ xưa gần như cuốn Cuộc đời của Thánh George,’cha thì thầm, nhưng ngay lúc đó mẹ gấp sách lại, mặt xịu xuống, vẫn nằm đó nhìncon, lúc đó đang chơi đùa trên giường bên cạnh, bằng ánh mắt trừng trừng khaokhát.
"Helen cứ khăng khăng đòi chúng ta phải đi bộ lên tu viện,như những người hành hương. Từ thị trấn Les Bains, chúng ta leo lên con đườngdốc vào một buổi sáng mùa xuân lành lạnh, cột áo len dài tay quanh thắt lưngkhi cảm thấy người đã nóng lên. Helen để con trong một cái địu ở trước ngực,khi mẹ mệt thì đến lượt cha bồng con. Con đường mùa này rất vắng, chỉ có mộtngười nông dân tóc đen, im lặng cưỡi ngựa vượt qua mặt chúng ta, cũng hướng lêntrên. Cha bảo Helen hãy hỏi ông ta đi nhờ ngựa một đoạn, nhưng mẹ không trảlời; sáng hôm đó sự trầm uất đã trở lại với mẹ, cha lo âu và chán nản khi để ýthấy thỉnh thoảng những giọt nước mắt lại ứa đầy đôi mắt mẹ. Cha biết nếu chalên tiếng hỏi han này nọ mẹ sẽ lại lắc đầu, gạt ngang, vì vậy cha đành bằnglòng vừa đi lên vừa bồng giữ con trong tay, âu yếm trỏ cho con thấy cảnh vậtxung quanh mỗi khi đến một khúc quanh nào đó, những dải làng mạc và cánh đồng bụimờ trải dài phía dưới. Ở đỉnh núi, con đường mở rộng thành một bãi đất rộng,vài chiếc xe cũ kỹ đang đậu ở đó, và chú ngựa của người nông dân - dường nhưvậy - được cột vào một gốc cây, dù không trông thấy anh ta đâu. Tu viện đứngsừng sững trên khu vực này, những bức tường đá nặng nề chạy đến tận đỉnh, chúngta đi lên, băng qua cổng vào khuôn viên tu viện.
"Thời đó, tu viện Thánh Matthieu hoạt động khá sôi động sovới bây giờ, và có lẽ cái cộng đồng mười hai hoặc mười ba con người ở đó đangtiếp tục cuộc sống như các bậc tiền nhân của họ từ một ngàn năm trước, có khácchăng là thỉnh thoảng họ phải đón tiếp các du khách và có xe riêng đậu ở bênngoài. Hai tu sĩ dẫn chúng ta đi quanh những dãy hành lang cực kỳ tinh tế - chavẫn còn nhớ mình đã sững sờ ra sao khi bước vào khoảng không gian thênh thang ởcuối khoảnh sân trong và nhìn thấy cái vực thẳm thẳng đứng lô nhô đá trồi ra,một vách đá sừng sững, bên dưới là những cánh đồng. Những ngọn núi xung quanhthậm chí còn cao hơn đỉnh núi mà tu viện tọa lạc, và trên những sườn núi xa xacha có thể trông thấy những bức màn trắng xóa mà một lúc sau mới nhận ra chínhlà những dòng thác.
"Chúng ta ngồi một lát trên chiếc ghế dài gần vách núi, conngồi ở giữa, trông ra bầu trời buổi trưa bao la và nghe tiếng nước róc ráchtrong bể nước khắc chạm bằng cẩm thạch đỏ ở giữa sân - chỉ có trời mới biết từnhiều thế kỷ trước người ta đã vận chuyển bể nước kia lên đến đây bằng cáchnào. Helen có vẻ vui vẻ trở lại, cha cũng vui khi nhận ra vẻ thanh thản trêngương mặt mẹ. Dù đôi lúc mẹ vẫn tỏ vẻ u sầu, nhưng chuyến đi này cũng đáng đồngtiền bát gạo.
"Sau cùng, Helen tỏ ý muốn thăm viếng tu viện kỹ hơn. Chúngta lại cho con vào địu và bắt đầu rảo quanh đến tận gian bếp và nhà ăn dài nơicác tu sĩ vẫn đang dùng bữa, khu nhà ngủ tập thể với những chiếc giường xếpdành cho khách hành hương, và phòng viết - một trong những phần lâu đời nhấtcủa quần thể, chắc hẳn đó là nơi nhiều bản thảo tuyệt vời đã được sao chép vàgiải mã. Có một bản thảo được trưng bày dưới lớp kính, một cuốn kinh Phúc âmMatthew mở ra đến một trang viền dọc hai bên bằng hình những con quỷ sứ nhỏ xíulô nhô đẩy nhau xuống phía dưới. Helen mỉm cười trước cảnh đó. Nhà nguyện ở kếbên - nhỏ nhắn như tất cả mọi thứ trong tu viện, nhưng cân đối hài hòa, chìmhẳn vào trong đá; cha chưa bao nhờ nhìn thấy một công trình kiến trúc phongcách Roman nào thú vị và dễ chịu như vậy. Cuốn cẩm nang hướng dẫn cho biết phầnvành cung bên ngoài của khu tụng niệm chính là khoảnh khắc hiện thân đầu tiêncủa phong cách kiến trúc Roman, ban đầu chỉ là một ứng biến để lấy ánh sáng chobệ thờ. Trong các khung cửa sổ hẹp vẫn còn một số tấm kính có niên đại từ thếkỷ mười bốn, bệ thờ được trang trí chủ yếu bằng hai màu trắng đỏ, cùng nhữnggiá nến bằng vàng. Chúng ta yên lặng rời khỏi đó.
"Sau cùng, vị tu sĩ trẻ hướng dẫn cho biết chúng ta đã thămviếng mọi nơi ngoại trừ khu hầm mộ, Helen và cha bước theo anh ta xuống đó. Đólà một cái hố nhỏ ẩm thấp nặng nề âm khí, tách biệt với khu hành lang, kiếntrúc thật thú vị với một mái vòm xây kiểu Roman sơ khai được chống đỡ trênnhững cây cột thấp, to bè, và một cỗ quan tài đồ sộ bằng đá chạm trổ có từ thếkỷ đầu tiên, từ ngày có tu viện - là nơi an nghỉ của cha tu viện trưởng đầutiên, vị tu sĩ hướng dẫn cho biết. Ngồi kế bên cỗ quan tài đá là một tu sĩ lớntuổi đang chìm trong trầm tư mặc tưởng; khi chúng ta bước vào, ông ngẩng nhìnlên, ánh mắt hiền hậu và có phần bối rối, ông chỉ ngồi yên trên ghế và gật đầuchào chúng ta. ‘Đã nhiều thế kỷ qua, ở đây chúng tôi có truyền thống là mộtngười trong chúng tôi phải ngồi với cha tu viện trưởng,’ vị tu sĩ hướng dẫngiải thích. ‘Thông thường, chỉ một vị tu sĩ cao niên có được vinh dự này.’
" ‘Kỳ lạ thật,’ cha nhận xét, nhưng ở nơi này có điều gì đó, có lẽ là sự lạnh lẽo, khiến con ọ ẹ khóc và vùng vẫy trước ngực mẹ. Nhận thấy mẹ có vẻ mệt nên cha đã đề nghị bồng con lên chỗ không khí thoáng mát bên trên. Cha bước ra khỏi cái hầm đầy âm khí nặng nề đó với cảm giác nhẹ nhõm và đưa con đến nhìn ngắm đài phun ngoài hành lang.
"Cha cứ ngỡ Helen sẽ bước theo ngay, nhưng mẹ cứ nhẩn nha ở dưới khu hầm mộ, và khi xuất hiện trở lại, khuôn mặt mẹ đã thay đổi đến độ cha cảm thấy dậy lên trong lòng một nỗi sợ hãi. Helen trông có vẻ phấn khích - phải, gương mặt sinh động hơn hẳn những tháng vừa qua - nhưng đồng thời cũng xanh xao hơn và đôi mắt mở to, như dự định một điều gì đó mà cha không nhận ra. Cha bước về hướng mẹ và cố làm ra vẻ thản nhiên rồi hỏi dưới đó có gì khác đáng quan tâm không. ‘Có thể,’ Helen trả lời, nhưng như thể mẹ không nghe thấy cha hỏi gì vì trong lòng mẹ đang rộn lên quá nhiều suy nghĩ. Rồi mẹ đột ngột quay sang giằng lấy con từ tay cha, ôm chặt và thiết tha hôn lên đầu lên má con. ‘Con ổn chứ? Nó có sợ không?’
" ‘Con khỏe mà,’ cha trả lời. ‘Có thể hơi đói một chút.’ Helen ngồi xuống một chiếc ghế dài, lấy ra một bình thức ăn trẻ con và bắt đầu cho con ăn, ngân nga một bài hát ru ngắn mà cha không hiểu - tiếng Hungary hay tiếng Rumani? - trong lúc con bú bình. ‘Chỗ này đẹp quá,’ một lúc sau mẹ nói, giọng nhẹ nhàng. ‘Mình ở lại đây vài hôm, anh nhé.’
" ‘Chúng ta phải trở về Paris vào tối thứ Năm,’ cha phản đối.
" ‘Ồ, đâu có gì khác nhau giữa việc qua đêm tại đây và ở dưới thị trấn Les Bain đâu,’ mẹ điềm đạm đáp lại. ‘Ngày mai chúng ta có thể đi bộ xuống và đón xe buýt, nếu anh nghĩ chúng ta cần phải đi sớm.’
"Cha đã đồng ý, bởi mẹ trông có vẻ rất kỳ lạ, nhưng đến tận khi cha đi bàn chuyện đó với vị tu sĩ hướng dẫn cha vẫn cảm thấy phần nào lưỡng lự. Tu sĩ hướng dẫn báo lại với cha bề trên của mình và cha bề trên đã cho phép chúng ta ở lại khu nhà ở tập thể đang còn trống. Khoảng giữa bữa trưa đạm bạc và bữa tối còn đạm bạc hơn lúc họ dọn cho chúng ta trong một phòng cách biệt với nhà bếp, chúng ta lang thang trong những vườn hồng, tản bộ trong vườn cây ăn quả trên triền dốc bên ngoài những bức tường tu viện và ra sau nhà nguyện nghe các tu sĩ ngân nga hát thánh ca trong lúc con ngủ vùi trong lòng mẹ. Một tu sĩ sửa soạn nơi ngủ cho chúng ta: giường xếp cùng chăn mền giản dị sạch sẽ. Sau khi con ngủ say trên một giường, với hai chiếc giường của chúng ta đẩy sát lại hai bên để con khỏi lăn té ra ngoài, cha nằm xuống và vờ như không nhìn qua mẹ. Mẹ con vẫn ngồi ở mép giường, trong bộ váy áo màu đen, nhìn ra bên ngoài về phía bóng đêm. Ơn trời rèm cửa đã buông xuống, nhưng rốt cuộc mẹ cũng đứng dậy, vén rèm lên, đứng nhìn đăm đăm ra bầu trời đêm. ‘Ngoài đó hẳn phải tối lắm nhỉ,’ cha nói, ‘và chẳng có thị trấn nào gần.’
"Helen gật đầu. ‘Tối om om, nhưng ở đây bao giờ cũng vậy, anh không nghĩ thế sao?’
" ‘Sao em không vào giường ngủ đi?’ cha với tay về phía con và vỗ vỗ lên giường mẹ.
" ‘Được thôi,’ mẹ đáp, không tỏ dấu hiệu gì phản đối. Thực ra mẹ còn mỉm cười, cúi xuống hôn cha trước khi nằm xuống giường. Cha đã ôm mẹ một lúc, cảm nhận sức lực của đôi bờ vai, làn da cổ mịn màng của mẹ. Rồi mẹ duỗi người, kéo chăn đắp và có vẻ như chìm vào giấc ngủ rất lâu trước khi cha đọc hết chương sách và thổi tắt ngọn đèn lồng.
"Cha tỉnh dậy vào lúc trời hừng sáng, cảm thấy một cơn gió hiu hiu thổi qua phòng. Không gian rất yên tĩnh; con nằm thở đều đều bên cạnh cha, dưới tấm chăn len trẻ con, nhưng giường của Helen trống trơn. Cha yên lặng ngồi dậy, mang giày và áo khoác vào. Dãy hành lang phía ngoài tối lờ mờ, khu sân trong một màu xám xịt, đài phun nước là một khối mờ mờ ảo ảo. Cha chợt nghĩ chắc hẳn còn lâu ánh mặt trời mới chiếu đến nơi này, bởi trước tiên nó phải vượt qua những đỉnh núi khổng lồ ở hướng Đông kia. Cha nhìn quanh tìm mẹ, nhưng không gọi to vì biết mẹ con ưa dậy sớm và có thể đang ngồi suy tư trên một chiếc ghế dài nào đó, chờ bình minh lên. Không có dấu vết gì của mẹ, tuy nhiên, khi bầu trời sáng lên một chút, cha bắt đầu sục sạo nôn nóng hơn, một lần nữa đến chỗ chiếc ghế dài mà chúng ta đã ngồi ngày hôm qua và một lần nữa đến ngôi nhà nguyện im lìm sặc sụa mùi hương khói.
"Cuối cùng, cha cũng bắt đầu lên tiếng gọi mẹ, ban đầu là khe khẽ, sau đó là to hơn, và rồi là hoảng hốt. Một vài phút sau, một tu sĩ xuất hiện từ phòng ăn, chắc hẳn họ đang yên lặng dùng bữa ăn đầu tiên trong ngày ở đó, và hỏi cha liệu ông ta có thể giúp được điều gì không. Cha giải thích là vợ mình đã đi đâu không thấy, ông bắt đầu sục sạo cùng cha. ‘Có lẽ bà nhà đi dạo chăng?’ Nhưng cũng không có dấu vết nào của Helen trong khu vườn cây ăn quả, hoặc khu vực đậu xe, cả trong khu hầm mộ tăm tối cũng không. Khi mặt trời vượt qua đỉnh núi thì chúng ta đã lùng sục khắp mọi nơi, vị tu sĩ kia đã đến gặp một vài tu sĩ khác, một người trong số họ nói sẽ lái xe xuống thị trấn Les Bains để trình báo. Cha khẩn khoản yêu cầu ông ấy mời cảnh sát về theo. Sau đó cha vội trở về trong căn nhà ngủ tập thể vì nghe tiếng con khóc, sợ con lăn ra khỏi giường. Cha nhanh chóng cho con ăn và bồng con trong tay trong khi chúng ta lùng sục mọi nơi một lần nữa.
"Sau cùng, cha yêu cầu tập họp tất cả mọi tu sĩ để hỏi lại. Cha tu viện trưởng bằng lòng và đã gọi mọi người tụ tập trong khu vực hành lang. Không ai nhìn thấy Helen sau khi chúng ta rời khỏi nhà bếp vào tối hôm qua. Mọi người đều tỏ ra lo lắng - ‘La pauvre - Ôi, tội nghiệp cô ấy,’ một tu sĩ buột miệng, câu nói đó bất chợt khiến cha nổi cáu. Cha gặng hỏi, ngày hôm qua liệu có người nào đã nói chuyện với Helen, hoặc chú ý nhận thấy có điều gì bất thường không. ‘Chúng tôi không tiếp chuyện với phụ nữ, đó là quy tắc chung,’ cha tu viện trưởng nhẹ nhàng trả lời.
"Nhưng một tu sĩ bước lên phía trước, cha nhận ra ngay đó là vị tu sĩ già có nhiệm vụ ngồi trong hầm mộ. Trong tâm trạng khá hoang mang cha vẫn chú ý nhận thấy dưới ánh đèn lồng gương mặt ông vẫn nhân hậu và trầm tĩnh như ngày hôm qua. ‘Cô ấy đã dừng lại để hỏi tôi,’ ông ta nói. ‘Tôi không muốn phạm luật, nhưng cô ấy tỏ ra rất điềm tĩnh và lịch thiệp, vì vậy tôi đã trả lời.’
" ‘Cô ấy hỏi ông điều gì?’ Tim cha vốn đã thình thịch trong lồng ngực bây giờ lại bắt sang một nhịp điệu dồn dập khốn khổ.
" ‘Cô ấy hỏi ai được chôn ở đấy, tôi đã trả lời đó là một trong các cha tu viện trưởng đầu tiên, và chúng tôi có nghi thức tưởng nhớ đến ông. Cô lại hỏi cha tu viện trưởng đó đã thực hiện được những việc lớn lao nào, tôi đã giải thích là chúng tôi có một truyền thuyết’ - đến đây ông liếc nhìn cha tu viện trưởng, ông này gật đầu để ra hiệu ông ta tiếp tục - ‘chúng tôi có một truyền thuyết kể rằng ông ấy đã sống một cuộc đời thánh thiện nhưng lại bất hạnh vướng phải một lời nguyền sau khi chết, vì vậy đêm nào ông ấy cũng ra khỏi quan tài để hãm hại các tu sĩ khác, và do vậy thi hài ông ấy phải được tẩy uế. Lúc đã được tẩy uế, một bông hồng trắng sẽ mọc lên từ tim ông ấy, tượng trưng cho sự tha thứ của Đức Mẹ Thiêng Liêng.’
" ‘Và đó là lý do vì sao phải có người ngồi canh chừng ông ấy?’ cha xẵng giọng hỏi.
"Cha tu viện trưởng nhún vai. ‘Đơn giản đó chỉ là truyền thống của chúng tôi, để tưởng nhớ ông ấy.’
"Cha quay sang ông thầy tu già, cố kìm nén cái ước muốn được bóp cổ ông ta và nhìn thấy gương mặt hiền từ kia tái tím đi. ‘Có phải đó là câu chuyện ông kể cho vợ tôi nghe?’
" ‘Cô ấy hỏi tôi về câu chuyện của chúng tôi. Tôi không thấy có gì sai trái trong việc trả lời các câu hỏi của cô ấy.’
" ‘Và cô ấy nói gì sau khi ông trả lời?’
"Ông thầy tu già mỉm cười. ‘Cô ấy cảm ơn tôi bằng một giọng rất dịu dàng và hỏi tên tôi, tôi đã xưng mình là Frère Kiril.’ Ông lão trả lời, chắp hai tay ngang thắt lưng.
"Phải mất một lúc cha mới hiểu ý nghĩa của những tiếng đó, cái tên trở nên xa lạ vì cái cách nhấn trọng âm vào âm tiết thứ hai đặc Pháp, vì cái từ vô thưởng vô phạt frère 1 kia. Cha ôm con chặt hơn như thể sợ làm rơi con xuống. ‘Có phải ông đã nói tên ông là Kiril? Có phải ông đã nói như vậy? Ông có thể đánh vần cái tên đó được chứ?’
"Ông thầy tu ngạc nhiên, miễn cưỡng làm theo yêu cầu của cha.
" ‘Cái tên này xuất phát từ đâu?’ cha hỏi, không thể giữ cho giọng nói của mình đừng run run. ‘Có phải đó là tên thật của ông? Ông là ai?’
"Cha tu viện trưởng xen vào, có lẽ vì ông thấy vị thầy tu già có vẻ lúng túng thực sự. ‘Đó không phải là tên thật của ông ấy,’ ông ta giải thích. ‘Khi thề nguyện tất cả chúng tôi đều nhận một tên mới. Bao giờ cũng có một người tên là Kiril - luôn như vậy - và một sư huynh mang tên Michel - như Sư huynh này...’
" ‘Ý ông muốn nói,’ cha hỏi, ôm con còn chặt hơn, ‘có một Sư huynh Kiril trước ông này, và một ông khác trước ông đó nữa?’
"Ồ, đúng vậy,’ cha tu viện trưởng trả lời, rõ ràng cũng bối rối vì sự tra vấn gay gắt của cha. ‘Theo như truyền thống của chúng tôi mà ai cũng biết. Chúng tôi hãnh diện về những truyền thống của mình - chúng tôi không ưa chuộng những lề thói mới.’
" ‘Vậy thì truyền thống này xuất phát từ đâu?’ cha gần như hét lên.
" ‘Điều đó thì chúng tôi không biết,’ cha tu viện trưởng trả lời, giọng kiên nhẫn. ‘Từ bao lâu nay ở đây vẫn vậy.’
"Cha bước sát đến, gần như gí sát mũi mình vào mũi ông ta. ‘Tôi muốn ông mở cỗ quan tài đá trong khu hầm mộ ra,’ cha gằn giọng.
"Ông ta lui lại, vẻ kinh hoàng. ‘Anh nói cái gì vậy? Chúng tôi không thể làm việc đó.’
" ‘Hãy đi với tôi. Đây…’ Cha trao con cho vị tu sĩ trẻ, người đã hướng dẫn chúng ta rảo quanh đây đó ngày hôm qua. ‘Xin giữ hộ con gái tôi.’ Anh ta bồng con, đu đưa con trong tay, không vụng về lúng túng như cha nghĩ. Con bắt đầu khóc. ‘Đi nào,’ cha nói với cha tu viện trưởng. Cha kéo ông ta về hướng khu hầm mộ, ông ra dấu bảo các tu sĩ khác hãy ở yên tại chỗ. Chúng ta nhanh chóng xuống các bậc cấp. Trong cái hầm lạnh lẽo đó, vẫn còn leo lắt hai cây nến do Sư huynh Kiril để lại, cha quay qua ông tu viện trưởng. ‘Ông không phải kể với ai về việc này, nhưng tôi phải nhìn xem bên trong cỗ quan tài đá kia.’ Cha dừng lại để nhấn mạnh. ‘Nếu ông không giúp tôi, bắt buộc tôi phải nhờ đến pháp luật để đối phó với tu viện các ông.’
"Ông ta ném vào cha một cái nhìn - sợ hãi? căm giận? thương hại? - rồi không nói một lời, đi thẳng đến một đầu cỗ quan tài. Chúng ta cùng hợp lực đẩy nắp quan tài qua một bên, vừa đủ rộng để có thể nhìn vào bên trong. Cha đưa cao cây nến. Cỗ quan tài trống rỗng. Cha tu viện trưởng trợn trừng mắt và vội đẩy mạnh nắp hòm trở lại. Chúng ta nhìn nhau. Ông ta có một gương mặt đặc trưng của người Pháp - thanh tú, lanh lợi - mà hẳn cha sẽ rất mến trong một tình huống khác. ‘Xin ông đừng tiết lộ với các sư huynh khác điều này,’ ông ta trầm giọng nói nhỏ, rồi quay người leo lên khỏi hầm mộ.
"Cha bước theo, cố suy nghĩ xem nên làm gì tiếp theo. Cha quyết định sẽ đưa con quay xuống thị trấn Les Bains ngay tức khắc và chắc chắn là cảnh sát đã được báo động. Có thể Helen đã quyết định về Paris trước chúng ta - tại sao, cha chưa thể hình dung được - hoặc thậm chí bay về nhà trước. Cha cảm thấy như bị một cú đấm trời giáng vào mang tai, tim như nghẹn lại trong cuống họng, máu muốn trào ra miệng.
"Khi cha bước vào lại hành lang, ánh mặt trời đã tràn ngập chỗ đài phun, chiếu lấp lánh trên mặt sân lát đá, lũ chim ríu rít líu lo và cha đã biết chuyện gì xảy ra. Cha cố gắng, một cách khó khăn, trong cả giờ đồng hồ để đừng nghĩ đến điều đó, nhưng giờ thì hầu như cha không cần biết cái tin mà hai tu sĩ vừa chạy về hướng cha tu viện trưởng vừa hét toáng lên thông báo ấy nữa. Đó là hai tu sĩ được phân công tìm kiếm khu vực bên ngoài các bức tường tu viện: vườn cây ăn quả, trong vườn rau, khu rừng nhỏ đầy những cây khô, những tảng đá nhô ra ở bên dưới triền dốc đứng. Họ vừa trở về từ dưới đó - một trong hai người trỏ vào rìa hành lang mà hôm qua Helen, con và cha đã ngồi trên một chiếc ghế dài nhìn xuống cái vực sâu thăm thẳm ấy. ‘Thưa cha tu viện trưởng!’ một trong hai người thét lên, tựa như ông ta không thể gọi cha trực tiếp. ‘Cha tu viện trưởng, có máu trên các tảng đá! Ở dưới kia, dưới kia kìa!’
"Không có lời nào có thể tả lại những khoảnh khắc như vậy. Cha chạy đến các rìa hành lang, địu con trên lưng, cảm nhận cái má mượt mà như một cánh hoa của con áp vào cổ mình. Những giọt nước mắt đầu tiên trào dâng trong mắt cha, nóng bỏng và cay đắng hơn bất kỳ những gì mà cha đã từng trải nghiệm. Cha nhìn qua bức tường thấp. Trên một tảng đá nhô ra cách khoảng năm mét phía dưới là một vệt màu đỏ tươi - không lớn, nhưng có thể nhận ra rõ ràng trong ánh nắng ban mai. Dưới đó nữa là cái vực sâu đang há miệng toang hoác, sương mù cuồn cuộn, lũ đại bàng đang bay lượn săn mồi, vách núi đổ xuống hun hút đến tận cùng chân chúng. Cha chạy về phía cổng chính, loạng choạng bước quanh những bức tường phía bên ngoài. Vách đá đó quá dựng đứng, ngay cả nếu không phải bồng con cha cũng không thể an toàn leo xuống chỗ hòn đá nhô ra kia được. Cha chỉ biết đứng nhìn làn sóng mất mát tràn qua không gian thánh thiện ấy, qua buổi ban mai tươi đẹp ấy, ập xuống đầu mình. Rồi nỗi khổ đau chạm đến cha, cháy bỏng như một ngọn lửa mà không một lời nào có thể tả được.
Chú thích
1 Thần thoại Hy Lạp: Plato đánh mất một nửa con người mình và suốt dời lang thang đi tìm một nửa bị đánh mất đó.
Chương trước
Mục lục
Chương sau
Truy Tìm Dracula
Elizabeth Kostova
Truy Tìm Dracula - Elizabeth Kostova
https://isach.info/story.php?story=truy_tim_dracula__elizabeth_kostova