Chương 26 -Tết Mậu Thân
rong giai đoạn thời tiết chuyển mùa từ thu năm 1967 sang đông thì tôi vẫn tiếp tục lượng định những chiều hướng của Hoa Kỳ về chiến cuộc Việt Nam ở Hoa Thịnh Đốn. Tôi cố theo dõi những cuộc vận động của Tổng Thống Johnson. Những cố gắng của tổng thống Johnson lúc này nhằm mục đích giữ vững sự ủng hộ của dân chúng Hoa Kỳ đối với chiến tranh ở Việt Nam. Trong lúc tôi đang cố gắng quan sát xem các cuộc thuyết phục của Tổng Thống Johnson ảnh hưởng dân chúng Hoa Kỳ ra sao thì ở Sài Gòn cuộc bầu cử Tổng Thống của Việt Nam đã kết thúc. Sài Gòn đang bắt đầu thiết lập chính phủ. Ông Thiệu đã giữ đúng lời hứa. Ông đồng ý để ông Kỳ chọn thủ tướng và sau đó hoàn toàn nhường quyền thiết lập chánh phủ lại cho ông Kỳ. Vì đã có thực quyền trong tay, ông Thiệu đã trở nên phần nào dễ dãi.
Kết quả là sau cuộc bầu cử, ông Kỳ cùng vị tân Thủ Tướng đã bận rộn tiếp xúc với nhiều đoàn thể chính trị và tôn giáo vì sự tham gia của các đoàn thể này vào chính phủ mới là một việc vô cùng cần thiết. Tôi được triệu hồi về nước vào tháng 9 cũng chính là để góp phần vào việc này.
Khi đang ở Sài Gòn thì vào ngày 17-10-1967, tôi nhận được một bức điện từ Hoa Thịnh Đốn báo rằng nhà tôi hạ sinh con trai ở bệnh viện của trường đại học George Washington. Ngày hôm sau tôi lên đường về Hoa Thịnh Đốn. Khi về Hoa Thịnh Đốn tôi lại tiếp tục những buổi nói chuyện. Tôi cũng suy nghĩ thêm về việc từ chức của Tổng Trưởng McNamara và cảm thấy lo lắng nhiều hơn khi thấy cuộc chiến ngày càng dữ dội. Từ trước đến nay, trong chiến cuộc Việt Nam, Tết không những chỉ là ngày nghỉ mà còn là giai đoạn tượng trưng cho hòa bình và hy vọng. Tết thường là những giai đoạn làm mốc để đánh dấu những thay đổi mới. Đã nhiều năm, Tết là một một dịp đình chiến được cả hai miền Nam, Bắc cùng chấp thuận. Tết là những dịp binh sĩ có thể về thăm gia đình và tề tựu cùng những người thân trong họ. Tết chính là giai đoạn nghỉ ngơi hiếm hoi cho cả hai chánh phủ giữa lúc giao tranh. Tôi đã nghĩ rằng Tết năm 1967 sẽ là một cơ hội tốt để gia đình tôi có thể quây quần, tạm quên mọi sự.
Vì vậy, nhân một mùa nghỉ ngắn, tôi và gia đình đã quyết định cùng đi trượt tuyết ở vùng Camelback, tiểu bang Pennsylvania. Camelback tuy không xa Hoa Thịnh Đốn là mấy nhưng cũng đủ xa để chúng tôi có thể thoát được sự căng thẳng của những vấn đề hàng ngày. Ngày đầu tiên ngay lúc đang còn trượt tuyết ở những con dốc, tôi đã nghe loa phóng thanh gọi tôi và thông báo rằng tôi phải về lập tức vì có điện thoại của tòa đại sứ. Khi tôi liên lạc được với tòa đại sứ thì những nhân viên ở tòa đại sứ cho tôi biết Sài Gòn đang bị các lực lượng Cộng Sản tấn công và chính quyền Hoa Kỳ đang cần gặp tôi gấp. Trong vòng một tiếng đồng hồ, tôi tụ họp gia đình, sửa soạn đồ đạc và lên xe hối hả trở về Hoa Thịnh Đốn.
Khi tôi về đến Tòa Đại Sứ thì trời vào khoảng 6,7 giờ tối. Tôi còn nhớ hôm đó là ngày 31 tháng giêng. Khi tôi về đến sứ quán thì những nhân viên ở tòa đại sứ đã có đầy đủ những báo cáo thâu được từ những nguồn tin của Ngũ Giác Đài và Bộ Ngoại Giao. Theo những Bản Báo Cáo thì hiển nhiên Việt Cộng đã phát động một cuộc tổng tấn công lớn vào Sài Gòn. Cuộc tấn công dữ dội cho đến mức đã có những đơn vị Cộng quân xâm nhập vào những một vài nơi cư trú ngay cạnh tòa đại sứ. Tuy chưa vào được tòa đại sứ nhưng những đơn vị Việt Cộng đã có lúc chiếm giữ được cả đài phát thanh. Đây quả là một cuộc tổng tấn công phối hợp với các cuộc nổi dậy ở tất cả các vùng. Cuộc tổng tấn công hoàn toàn bất ngờ cho cả Hoa Kỳ lẫn Việt Nam. Cả tòa Bạch Ốc đều sửng sốt vào lúc đầu. Cơn bàng hoàng sợ hãi kéo dài. Đến ngay cả khi Hoa Kỳ đã biết đại sứ Bunker hoàn toàn vô sự mà ông Rostow, ông Bill Jorden và các nhân viên tòa Bạch Ốc cũng chưa dám quả quyết liệu Việt Nam có thể chống giữ được hay không?
Lúc cuộc tấn công phát động thì ông Thiệu đang thăm viếng quê ngoại ở vùng đồng bằng Cửu Long nhưng ông Kỳ vẫn ở Sài Gòn để điều động mọi việc. Tôi đã cố gắng liên lạc với ông Kỳ bằng điện thoại. Lúc tôi liên lạc được với ông Kỳ thì tình hình đã khá ổn định. Ông Kỳ cho biết rằng chánh phủ Việt Nam đã làm chủ tình hình. Những đơn vị Việt Cộng gần tòa đại sứ Hoa Kỳ đã bị quét sạch. Hơn nữa, sự tiên liệu đề phòng an ninh của chính phủ ở đài phát thanh đã ngăn ngừa được mọi mưu toan của Việt Cộng trong việc lợi dụng đài phát thanh để kêu gọi cuộc tổng nổi dậy. Ông Kỳ nói thêm rằng có lẽ phải thêm một thời gian nữa quân đội Việt Nam mới có thể đẩy lui được toàn thể địch quân nhưng rõ ràng là cuộc tổng tấn công đã thất bại hoàn toàn. Mặc dầu có sự bất ngờ, tình thế đã được ổn định và địch quân đã bị tổn thất nặng nề.
Đang khi tôi hãy còn tổng kết vấn đề thì màn ảnh truyền hình Hoa Kỳ đã loan báo tin tức về các biến cố ở Sài Gòn. Những cuốn phim hình được chiếu vào lúc này tường trình những cảnh thật là kinh khiếp. Đài truyền hình chiếu cảnh đại sứ Bunker đang xem xét lại tòa đại sứ khi những xác chết Việt Cộng vẫn còn ngổn ngang trên mặt đất, cảnh Việt Cộng và binh lính Hoa Kỳ đang đánh xáp lá cà. Trong những cuốn phim chiếu có cả tiếng các viên sĩ quan chỉ huy hò hét ra lệnh vang lên ầm ỹ bên cạnh các phóng viên đang đổ xô vào nhau núp ngay gần sát cạnh chỗ giao tranh. Đến cả những người chuyên xem phim chiến tranh cũng chưa hề được mục kích những cảnh tương tự bao giờ.
Hai ngày sau đó, những nhân viên sứ quán cùng những tùy viên báo chí và quân sự của chúng tôi làm việc liên tục suốt hai mươi bốn giờ. Tôi tổng kết tất cả những bản báo cáo cùng những nguồn tin của cả Tòa Bạch Ốc lẫn Sài Gòn và đã có thể phác họa được khá đúng tình hình. Những lực lượng Việt Cộng đã phát động cuộc tấn công mở rộng ở khắp mọi nơi nhằm mục đích chiếm lấy thành phố và bắt đầu một cuộc tổng nổi dậy nhằm gây hoang mang cho những trung tâm dân cư và kêu gọi binh lính Việt Nam gia tăng đào ngũ.
Cuộc tấn công đã được Việt Cộng tổ chức bằng cách lợi dụng tất cả những yếu tố bất ngờ của ngày Tết. Cuộc giao tranh bắt đầu theo những tiếng pháo Tết. Vì thông lệ đốt pháo vào những dịp tết, đầu tiên chưa ai nhận rõ được rằng giao tranh đã xảy ra giữa hai phe. Hơn nữa, chiến thuật tấn công vào thẳng thành phố giữa ngay trung tâm hỏa lực của Việt Nam và Hoa Kỳ táo bạo đến độ những chuyên viên tình báo đã xem những tin tức thâu lượm được chẳng khác nào một chuyện đùa chơi. Tuy thế sự thể cho thấy đây hoàn toàn không phải một trò đùa. Trước khi cuộc tổng tấn công phát động Việt Cộng đã xâm nhập và chuyển vận được những vũ khí nặng vào các thành phố lớn. Mượn cơ hội hiếm có nhờ những ngày bận rộn của không khí trước Tết lúc mọi người đang sửa soạn cho ngày lễ lớn nhất năm, Việt Cộng đã chuyển các đơn vị vào thành phố bằng nhiều cách ngụy trang khéo léo. Vào lúc sau này, dân chúng nhớ lại rằng trước ngày Tết bỗng có những đám ma đông đảo khác thường len lỏi qua đường phố Sài Gòn. Những cuộc thẩm vấn tù nhân về sau cho thấy đã có rất nhiều đám ma giả: Những người đưa tang là du kích Việt Cộng trá hình và những quan tài họ khiêng chứa đầy vũ khí cùng chất nổ.
Vào đêm 31 tháng 1, Cộng Sản ra lệnh tấn công vào các mục tiêu đã chọn trong thành phố. Những mục tiêu họ chọn bao gồm: Dinh Độc Lập, những Bộ Tư Lệnh của cảnh sát và hải quân, Bộ Tổng Tham Mưu và Tòa Đại Sứ Hoa Kỳ. Vào lúc rạng đông, những cuộc tấn công phối hợp này được quân đội chính qui Bắc Việt tăng cường tấn công yểm trợ ở các khu vực ngoại ô phía Bắc và phía Nam thành phố. Kết quả của những kế hoạch do Việt Cộng sắp xếp thật là ác liệt. Một thành phố từ trước tới nay vẫn được coi là bất khả xâm phạm trong cuộc chiến tranh bỗng nhiên chìm trong hỗn loạn giao tranh ở khắp các nẻo đường. Địch quân đã chọc thủng được phòng tuyến ở nhiều nơi nhưng lại không giữ được những vị trí đã chiếm. Vào lúc tảng sáng những đơn vị Việt Cộng tấn công vào tòa đại sứ đã bị tiêu diệt. Đến giữa trưa thì viên lính du kích cuối cùng bị triệt hạ.
Tuy những chỉ huy cao cấp của Việt Cộng đã lợi dụng được yếu tố bất ngờ nhưng Tướng Nguyễn Ngọc Loan đã huy động quân cảnh Sài Gòn phản ứng kịch liệt và ngăn chận kịp thời tất cả những tai họa lớn lao. Sau đó, những binh lính tăng cường của cả quân đội Việt Nam lẫn Hoa Kỳ đã tập trung và chặn đứng các cuộc tấn công của quân đội chính qui Việt Cộng, buộc Cộng Sản phải rút lui.
Sài Gòn cũng là trường hợp điển hình cho các tỉnh khác. Ở những nơi như Cần Thơ, Bến Tre, Vĩnh Long, Châu Đốc, Mỹ Tho và các thành phố khác, những thành công đầu tiên của Việt Cộng lập tức tiêu tan. Những đơn vị cộng sản đã chịu nhiều thiệt hại nặng nề do những hỏa lực tập trung của Hoa Kỳ và Việt Nam.
Chỉ có một nơi khung cảnh hoàn toàn khác hẳn là Huế. Tại đây địch quân chiếm giữ phần lớn thành phố và chiếm đóng suốt ba tuần. Những thương tổn của cả hai bên đều vô cùng trầm trọng. Khi bị buộc phải tháo lui khỏi những tỉnh lị khác, Cộng Sản đã quyết tâm giữ vững những tiền đồn ở cổ thành. Huế cũng chính là nơi những thương tổn dân sự lên cao hơn tất cả những nơi khác. Tại Huế, ngay sau khi cộng sản chiếm đóng thì Ủy Ban Nhân Dân và những đơn vị quân sự đặc biệt của cộng sản bắt đầu diệt trừ những thành phần mà họ cho là phản cách mạng. Khi giao tranh kết thúc, đã có gần 3000 người bị tàn sát kể cả những tu sĩ công giáo, những bác sĩ ngoại quốc, những ký giả và tất cả những người từ mọi tầng lớp vì lý do này hay lý do khác đã vô tình có tên trong sổ đen của cộng sản. Nhiều người bị đánh đập cho đến chết, nhiều người khác bị bắn và rất nhiều người khác nữa bị chôn sống. Đây là một trong những thí dụ điển hình về sự man rợ cùng tột của chính sách cộng sản. Nhưng được cái may là Huế lại là vùng duy nhất Việt Cộng chiếm đóng lâu được đến mức họ có thể áp dụng được uy quyền của họ.
Tuy những tin tức ông Kỳ cho tôi biết thật là khả quan và đây là những tin tức trong vòng 36 giờ đầu nhưng những tin tức của các giới báo chí, truyền thông Hoa Kỳ loan báo về Tết Mậu Thân lại hoàn toàn khác hẳn. Nhất là trên đài truyền hình, những cảnh tượng được chọn lựa nhằm gây cho người xem ấn tượng rằng Việt Nam đang phải đối phó với một hiểm họa có tầm vóc sinh tử. Các phóng viên đã bị những khung cảnh ác liệt của các cuộc giao tranh ám ảnh. Hàng đêm ống kính của họ trình bày những trận đánh nảy lửa khiến người xem chẳng thể quyết định rõ rệt bên nào đang thắng thế. Ngay cả những khi những bình luận gia đã nhìn vấn đề hoàn toàn chính xác mà họ vẫn tỏ ra nghi ngờ khả năng chiến đấu của quân đội Việt Nam.
Mặc dù tòa đại sứ Việt Nam chẳng thể làm cách nào để lấn át được những tin tức của giới truyền thông Hoa Kỳ, chúng tôi vẫn thu thập tài liệu để soạn thảo các chương trình nói chuyện với báo chí và với những nhân viên trong các ủy ban của quốc hội có nhiệm vụ lượng định tình hình chiến cuộc Việt Nam. Trong dịp này, tôi thường tổ chức những bữa cơm trưa và mời đại diện các báo tới tới dùng bữa trưa để có dịp thảo luận chi tiết và làm sáng tỏ phần nào các tin tức và giúp mọi người hiểu rõ hơn về cuộc tấn công. Tôi nhấn mạnh rằng tình thế chiến cuộc hoàn toàn khả quan, Việt Cộng đang bị tổn thất nặng nề. Sau đó tôi đưa ý kiến với các ký giả báo chí rằng vấn đề chính chẳng phải nằm ở câu hỏi liệu cuộc tấn công có thành công hay không mà thực sự là ở câu hỏi liệu cuộc tấn công có ảnh hưởng gì đến chiều hướng chính sách của Hoa Kỳ hay không?
Cuộc tấn công Mậu Thân sẽ ảnh hưởng dân chúng Hoa Kỳ ra sao? Đây là một câu hỏi làm tôi lo lắng không cùng. Dĩ nhiên vào lúc đầu tôi cũng bàng hoàng chẳng khác nào những nhân viên khác ở Tòa Bạch Ốc, nhưng ngay cả khi đã biết rõ rằng cuộc tấn công là một thất bại rõ rệt của Cộng Sản, những nỗi lo âu của tôi vẫn không hề suy giảm. Tôi hiểu rõ tầm ảnh hưởng tai hại của những tin tức và hình ảnh mà giới báo chí đã đưa ra. Những bức hình chụp, chẳng hạn như bức hình của ký giả Eddie Adams khi chụp tướng Loan bắn vào đầu một tên Việt Cộng thật là một cảnh tượng hãi hùng. Những bức hình này tuy phác họa thật khốc liệt những sắc thái man rợ nhất của chiến cuộc nhưng lại chẳng thể phơi bày được nội dung những cảnh chụp. Chẳng hạn như nếu chỉ nhìn vào bức hình thì không ai lại có thể biết được tên Việt Cộng bị Tướng Loan bắn chính là một tên sát nhân trong đội ám sát của Việt Cộng và chính hắn vừa mới hạ sát vô số thân nhân của các nhân viên cảnh sát. Hậu quả là khi khán giả vừa trông thấy bức hình, họ đã có ngay ấn tượng rằng đây là một cuộc chiến man rợ, đã hoàn toàn vượt qua giới hạn của những lý luận bình thường hoặc suy luận sâu xa. Tuy chẳng ai có thể định rõ tầm ảnh hưởng của giới báo chí khi họ trình bày những tin tức và hình ảnh chẳng hạn như tấm hình của Eddie Adams nhưng đây vẫn là một trong những điều khiến tôi lo ngại.
Ngay sau khi cuộc tấn công Tết Mậu Thân chấm dứt, quốc hội và chánh phủ Hoa Kỳ vẫn chưa bị ảnh hưởng gì nhiều. Những người có trách nhiệm vẫn tỏ vẻ lạc quan và tin tưởng. Việt Nam đã đánh bại một kế hoạch do Bắc Việt hoạch định cẩn mật và đẩy lui được những cuộc tấn công bất ngờ ở khắp mọi nơi trong nước. Không những chỉ đẩy lui mà Việt Nam còn đè bẹp cả cuộc tổng tấn công. Khi những tổn thất được tổng kết, con số thiệt hại của Bắc Việt lên từ khoảng 35,000 cho đến 40,000 binh lính. Đây là phân nửa binh lực của toàn thể quân đội Bắc Việt. Mặc dầu địch quân đã gọi cuộc tấn công Tết Mậu Thân là một cuộc "Tổng Tấn Công, Tổng Nổi Dậy" kỳ thật thì vẫn chưa hề có một cuộc nổi dậy nào cả. Tất cả những gì Cộng Sản huênh hoang gọi là "tình cảm cách mạng chứa chất trong tim người dân Miền Nam" chỉ là những điều hoàn toàn bịa đặt. Hy vọng khuấy rối và gây loạn bên trong quân đội Việt Nam cũng hoàn toàn thất bại. Ngược lại quân đội Việt Nam đã chứng tỏ rõ rệt khả năng phản công thật nhanh chóng và hiệu lực.
Tuy những thắng lợi quân sự quả hoàn toàn rõ rệt là thế mà những giới báo chí lại trình bày tin tức dưới một khía cạnh khác. Những ảnh hưởng tai hại của giới báo chí đã biến cuộc tấn công thất bại của Bắc Việt thành một biến cố làm mất uy tín của Việt Nam và Hoa Kỳ. Nói một cách chi tiết thì khi đối chiếu các phong trào vận động của Tổng Thống Johnson và khả năng thực sự của Bắc Việt thì những mâu thuẫn đã khiến dân chúng Hoa Kỳ dao động và không còn tin tưởng vào uy tín của chánh quyền Johnson nữa. Tuy mới đây, trong chuyến trở lại thăm viếng Hoa Kỳ cả Tướng Westmoreland lẫn đại sứ Bunker đều lạc quan mà lúc này ở Hoa Kỳ gần như tất cả đều mất hết lạc quan. Nghi vấn đã làm cả Quốc Hội lẫn giới báo chí sôi sục: Tại sao tình báo Hoa Kỳ lại có thể tiên đoán sự kiện sai lệch đến mức như vậy? Tại sao ngay giữa trung tâm hỏa lực, nơi cả nửa triệu quân Hoa Kỳ đang trấn đóng mà địch quân vẫn có thể tiến vào những thành phố và bao vây cả tòa đại sứ?
Các biến cố cho thấy rằng bất kể kết quả quân sự ra sao, cuộc tấn công đã ăn mòn dần uy tín của chánh phủ Johnson về mặt tinh thần. Cuộc tấn công đã khiến nhân dân Hoa Kỳ nghi ngờ uy tín của chánh quyền Johnson. Rồi từ đó, người dân Hoa Kỳ đã bắt đầu nghi ngờ cả toàn thể cuộc chiến Việt Nam.
Vào lúc ban đầu thì vẫn chưa có bất kỳ sự thay đổi chính thức nào quan trọng trên phương diện chính sách. Ít ra thì cũng chưa có thay đổi nào trầm trọng ở các cơ quan hành pháp. Ngược lại, trong những tuần lễ sau Tết, Tổng Thống Johnson lại tuyên bố rõ rệt rằng chánh quyền Hoa Kỳ hết lòng ủng hộ Việt Nam. Tuy thế, tôi đã bắt đầu nghe phong phanh nhiều điều đồn đại từ nhiều phía khác nhau. Có tin đồn rằng Bộ Trưởng Quốc Phòng Clark Clifford, người thay thế Bộ Trưởng McNamara, cố vấn thân tín nhất của Tổng Thống Johnson không còn ủng hộ cuộc chiến nữa. Những bạn bè của tôi trong giới quân sự Hoa Kỳ đã bảo tôi rằng vào lúc này, những phụ tá của Bộ Trưởng McNamara còn tại chức chẳng hạn như các nhân viên Paul Warnke, Leslie Gelb, Morton Halperin và nhiều nhân viên khác cũng có ý ủng hộ chính sách rút lui tuy họ vẫn chưa chánh thức tuyên bố công khai.
Tuy nhiên việc làm tôi lo lắng nhất là đề tài của một câu chuyện giữa tôi và phóng viên Hedrick Smith, một phóng viên của tờ New York Times. Vào khoảng cuối tháng 2, lúc phóng viên Hedrick Smith đang phụ trách một mục báo viết về lời yêu cầu đổ thêm quân của tướng Westmoreland thì ông có nhờ tôi dùng những liên lạc riêng để xác định xem liệu những mục tiêu trong lời yêu cầu của tướng Westmoreland có thiết thực hay không? Tôi đã thú thật với phóng viên Hedrick rằng tôi thật sự chẳng giúp đỡ được gì nhiều vì những viên chức Việt Nam rất hiếm khi được biết rõ ngọn ngành những kế hoạch của Hoa Kỳ, nhất là về những vấn đề như vấn đề quân số.
Nhưng câu chuyện chưa kết thúc tại đây. Câu hỏi của ông Smith đã khiến tôi linh cảm sẽ có việc khác thường xảy ra. Chẳng bao lâu sau tôi lại được tin rằng những lời yêu cầu của Tướng Westmoreland đã khiến hai phe bồ câu lẫn diều hâu của Hoa Kỳ tranh luận sôi nổi trong cả quốc hội lẫn chánh phủ. Đây quả là một biến chuyển đáng ngại. Lúc này uy tín chánh phủ Johnson đang bị sút giảm và cuộc tấn công Tết Mậu Thân cũng vừa mới xảy ra. Hơn nữa, chỉ còn vài tuần nữa là đến giai đoạn đầu của cuộc bầu cử Tổng Thống Hoa Kỳ. Những cuộc vận động sơ khởi để sửa soạn cho cuộc bầu cử lại sắp diễn ra ở tiểu bang New Hampshire. Tôi có linh cảm rằng yêu cầu đổ quân sẽ khơi sâu thêm các mâu thuẫn và ảnh hưởng đến các chính sách điều động chiến cuộc của Tổng Thống Johnson. Nếu đứng trên phương diện tâm lý và chính trị mà luận thì lời yêu cầu đổ thêm quân của Tướng Westmoreland đến vào một thời điểm thật là bất lợi.
Riêng đối với tôi thì vào giai đoạn này tôi vẫn thường tự hỏi: Phải chăng những biến chuyển ở Hoa Thịnh Đốn đã khiến Việt Nam bước qua một bước ngoặt giai đoạn? Câu hỏi này đã khiến tôi khắc khoải không cùng. Tôi cố hết sức thăm dò cho chính xác những biến chuyển bên trong chánh phủ Hoa Kỳ và báo cáo chi tiết về Việt Nam. Sau đó tôi bắt đầu vận động bằng cách ngỏ lời xin ông Thiệu và ông Kỳ gọi tôi về để tham khảo. Sau khi đã gửi điện yêu cầu được gọi về, tôi lại viện vào lý do sắp về Sài Gòn để yêu cầu được gặp Ngoại Trưởng Rusk, Bộ Trưởng Clark Clifford và nhiều nhân viên khác trong cả chánh phủ lẫn quốc hội Hoa Kỳ. Giữa lúc tôi còn đang trong giai đoạn gặp gỡ đầu tiên thì bản tin của phóng viên Hedrick được tờ New York Times đăng tải. Đề mục hiện rõ ngay trên trang đầu của tờ báo ngày 10 tháng 3 với hàng tít 8 cột to lớn: "Tướng Westmoreland yêu cầu gửi thêm 206,000 quân sang Việt Nam."
Quả nhiên phản ứng đối với lời yêu cầu tăng viện quân đến vừa nhanh chóng, vừa dữ dội thật chẳng khác gì những điều tôi linh cảm. Tại Quốc Hội, các Thượng Nghị Sĩ Fullbright, Mansfield, Robert Kennedy, cùng hàng loạt thượng nghị sĩ khác ở ngay trong đảng của Tổng Thống Johnson đồng nhất loạt lên tiếng chỉ trích. Ngoại Trưởng Rusk bị gọi đến để điều trần trước Ủy Ban Ngoại Giao Thượng Viện. Buổi điều trần được trực tiếp truyền hình trên các đài Ti Vi. Cảnh tượng điều trần cho thấy một sự bất đồng ý kiến rõ rệt về chính sách giữa quốc hội và chánh phủ Hoa Kỳ.
Vào đúng lúc mọi việc đang xảy ra thì cuộc bầu cử sơ khởi ở New Hampshire lại bắt đầu. Trong cuộc bầu cử sơ khởi nhân lúc quốc hội đang chỉ trích chính phủ, Thượng Nghị Sĩ Eugene McCarthy đã mượn luôn diễn đàn báo chí và truyền hình để công kích kịch liệt các chính sách của chính phủ Johnson. Khi cuộc bầu cử sơ khởi kết thúc thì kết quả được đăng tải vào ngày 14 tháng 3. Tổng số phiếu cho thấy Thượng Nghị Sĩ McCarthy chỉ thiếu vẻn vẹn có 300 phiếu nữa là có thể thắng được Tổng Thống Johnson.
Giữa khi Hoa Thịnh Đốn đang xôn xao vì các diễn biến thì tôi vẫn tiếp tục cố gắng lượng định tình hình quốc hội. Đầu tiên tôi đến gặp một người bạn đang phục vụ ở quốc hội là Thượng Nghị Sĩ Aiken. Ông Aiken nguyên vừa là người hiểu biết, có nhận định hết sức chính xác và lại vừa hiểu rõ tình cảnh của tôi. Vào một sáng lạnh lẽo đầu tháng 3, tôi cùng dùng điểm tâm với Thượng Nghị Sĩ Aiken ở phòng ăn quốc hội để được nghe lời ông nghị luận. Nhận định của Thượng Nghị Sĩ Aiken còn làm tôi lo lắng thêm. Tôi có ghi lại nhận định đã được nghe trong buổi điểm tâm hôm đó: "Tuy Tổng Thống Johnson vẫn tin tưởng mãnh liệt vào các chính sách đã đề ra, ông ta không còn được những đảng viên khác trong đảng ủng hộ. Tôi không những chỉ nói đến các nghị viên phản chiến, hẳn ông cũng đã hiểu rõ ý kiến của họ! Ý tôi muốn nói những người từ trước đến nay vẫn ủng hộ TT Johnson, chẳng hạn như ông Stennis và ông Jackson. Lúc này Tổng Thống cũng chẳng còn được họ ủng hộ. Vài năm trước ông có thể đề cập đến "sự đồng thuận" của Hoa Kỳ về chiến cuộc Việt Nam, nhưng giờ đây việc đã hoàn toàn khác hẳn. "Sự đồng thuận" không còn nữa. Vả lại, nếu có còn sự đồng thuận chăng nữa thì sự đồng thuận cũng đang tan rã." Ngưng một chút ông nói thêm: "Tôi đoán rằng Thượng Nghị Sĩ Robert Kennedy cũng sắp ra ứng cử tổng thống. Lúc đó thì việc còn rõ ràng hơn."
Từ trước đến nay tôi thấy những nhận định của ông Aiken lúc nào cũng rất thành thật và chánh xác. Chắc chắn những nhận định của ông lần này cũng chuẩn xác chẳng khác gì những lần trước. Sau khi đã tiếp xúc với ông Aiken, tôi cho rằng có lẽ chẳng còn tin tức gì cần tìm hiểu thêm ở quốc hội nữa. Vì vậy tôi lại xoay sang tìm tin tức ở Tòa Bạch Ốc. Cuối cùng, khi duyệt lại tất cả những cuộc thảo luận với cả ông Aiken lẫn những nhân viên ở Tòa Bạch Ốc tôi kết luận rằng có lẽ trong giai đoạn khủng hoảng của các chánh sách Hoa Kỳ lúc này tôi nên gặp thẳng Tổng Thống Johnson, Ngoại Trưởng Rusk và Bộ Trưởng Quốc Phòng Clark Clifford. Tôi không hề nghĩ gì đến chuyện có thể ảnh hưởng tổng thống Johnson, nhưng tôi cho rằng nếu có cơ hội gặp riêng với ông, biết đâu tôi chẳng hiểu được phần nào những điều ông suy nghĩ. Vì suy nghĩ như thế nên khi đến gặp các ông Walt Rostow và Bill Jorden tôi đã hỏi họ chẳng hiểu tôi có thể gặp riêng tổng thống Johnson hay không. Cả hai đều trả lời rằng được. Thế là vào sáng ngày 18 tháng 3, ông Jorden gọi điện thoại báo cho tôi biết rằng tôi có thể gặp Tổng Thống Johnson tối đó.
Chiều đó tôi đến gặp ông Jorden để đánh lạc hướng giới báo chí. Rồi chúng tôi cùng đi bộ sang Tòa Bạch Ốc. Khi chúng tôi đến nơi thì Tổng Thống Johnson vẫn tiếp tôi thật là niềm nở chẳng khác gì những lần gặp trước. Lúc ngồi xuống, đối diện với tổng thống Johnson, tôi thấy dường như mình đang nhìn vào một người nào đó khác hẳn. Trông ông thật là mệt mỏi và tiều tụy. Người ông toát ra một vẻ ưu tư và trầm lặng khác hẳn trước đây. Dường như gánh nặng chiến cuộc Việt Nam đang vượt quá sức chịu đựng của ông. Có lẽ đây chẳng phải là lần thứ nhất tôi cảm thấy thông cảm với nỗi khổ tâm của ông.
Tôi mở đầu buổi họp bằng cách trình bày sơ lược quan điểm và những nhận định của Việt Nam. Tôi nói rằng dĩ nhiên ở Việt Nam lúc này vẫn còn rất nhiều khó khăn nhưng chúng tôi tin là Việt Nam đang nắm phần chủ động khi phải đối phó với những thử thách vừa qua trong Tết Mậu Thân. Bắc Việt đã phải chịu nhiều tổn thất và Việt Nam đang cố ổn định lại cuộc sống bình thường ở các vùng thôn quê để gây thêm tin tưởng cho dân chúng. Chiến thắng Mậu Thân đã khiến người dân Việt Nam thấy rõ rằng quân đội Miền Nam Việt Nam có thể đánh bại Cộng Sản và nhờ vào những niềm lạc quan đó, Việt Nam đã bắt đầu một cuộc tổng động viên tuyển mộ tất cả những thanh niên 18 tuổi. Đây là một cuộc tổng động viên mà trước đây Việt Nam vẫn cho rằng chẳng thể nào có thể thực hiện được. Riêng về vấn đề quân sự thì tôi nói rằng Việt Nam sẵn sàng nhận thêm những trách nhiệm mới. Nhưng quân đội Việt Nam vẫn còn đang thiếu khí giới, nhất là các súng ống có thể dùng vào cuộc tấn công. Chẳng có bao nhiêu đơn vị của Việt Nam được trang bị súng M-16, trong khi đó thì Bắc Việt lại được trang bị bằng những khẩu AK-47 tối tân của Trung Hoa.
Tổng Thống Johnson lấy làm ngạc nhiên khi tôi đưa ra điểm khác biệt về khí giới giữa quân đội Việt Nam và Bắc Việt. Ông quay sang nhờ ông Jorden ghi nhận điểm này. Ngoại trừ việc nhờ ông Jorden ghi nhận, Tổng Thống Johnson chỉ ngồi yên lặng trong suốt buổi họp, tay ông chống cằm, thỉnh thoảng ông lại rướn mắt nhìn qua vòng viền của chiếc tách như thể cố nhìn tôi cho rõ hơn. Tôi có cảm tưởng rằng phần lớn những điều tôi nói ông đều không nghe. Ông ngồi yên thả hồn theo những suy tưởng riêng.
Khi tôi dứt lời Tổng Thống Johnson ngồi yên khoảng một hoặc hai phút và phát biểu thật từ tốn: "Nếu chúng ta không thắng thì rắc rối to. Tôi đã cố hết sức rồi mà vẫn không nổi." Tôi phải cố nén ngạc nhiên mà lòng vẫn chưa thể tin được rằng đây là sự thật. Tôi không ngờ một người như Tổng Thống Johnson mà lại có thể thú nhận rằng ông không đủ sức. Tôi thầm suy nghĩ lời nói của ông và rồi kết luận rằng có lẽ ông chưa nói thẳng với tôi nhưng ông muốn tôi trình bày với ông Thiệu và ông Kỳ rằng ông không thể giữ được những lời ông đã cam kết với Việt Nam. Tuy vậy Tổng Thổng Johnson lại chẳng nói gì chi tiết thêm mà lại đổi sang đề tài cần trang bị M-16 cho các đơn vị Việt Nam. Ông nói rằng ông sẽ xem xét cẩn thận vấn đề này.
Trong suốt buổi họp hôm đó tôi chỉ ngồi với Tổng Thống Johnson có 40 phút. Tuy thế sau cuộc họp tôi đã biết rằng Hoa Kỳ đã quyết định thay đổi chính sách. Trong khi hai phía bồ câu và diều hâu tranh luận thì lần này phía bồ câu đã ảnh hưởng được tổng thống Johnson thay đổi chính sách về một chiều hướng mới. Tôi rời tòa Bạch Ốc vào lúc cuối ngày. Khung cảnh ban công ở Tòa Bạch Ốc vào lúc hoàng hôn vắng lặng chẳng khác nào một nơi bỏ hoang. Tôi bước đi mà lòng đầy ắp những suy tư, lo lắng. Đầu óc tôi quay cuồng vì những viễn ảnh tương lai mù mịt của Việt Nam.
Hai ngày sau tôi đến gặp ông Clark Clifford ở Ngũ Giác Đài. Trước đây tôi đã có gặp ông Clifford trong những buổi họp ở Sài Gòn. Bộ Trưởng Quốc Phòng Clifford nguyên vừa là bạn thân, lại vừa là người lúc nào cũng ủng hộ chính sách của tổng thống Johnson. Ở những buổi họp tôi gặp ông lúc trước ông Clifford thường trình bày vấn đề rất mạch lạc. Lời lẽ của ông đã chu đáo, khéo léo lại gọn ghẽ và chính xác chẳng khác nào ngôn ngữ của một luật sư quốc tế. Tôi vẫn nghĩ rằng cách ông diễn tả tư tưởng có lẽ còn khéo léo hơn cả những nhà ngoại giao chuyên nghiệp.
Đó là những ấn tượng của tôi về ông trong quá khứ, nhưng khi tôi gặp ông vào ngày 20-3-67 thì ông Clifford lại là một con người khác hẳn. Ông đã chẳng dùng những lời lẽ khéo léo hoa mỹ mà lại còn có vẻ thiếu kiên nhẫn trông thấy. Ông bảo tôi rằng ông đã được Tổng Thống Johnson cho biết chúng tôi yêu cầu Hoa Kỳ trang bị M-16 cho các đơn vị Việt Nam và ông sẽ cố gắng hết sức về việc này. Sau đó ông trực tiếp trình bày vấn đề thay đổi chính sách của chính phủ Hoa Kỳ: "Chúng tôi không còn thời giờ để nói chuyện ngoại giao nữa." Rồi ông lại ngầm ám chỉ những loạt tranh chấp triền miên giữa ông Thiệu và ông Kỳ: "Chúng tôi đã ngán nghe những chuyện xích mích đến tận cổ rồi. Dân chúng Hoa Kỳ đã chán chường lắm rồi và sức ủng hộ của chúng tôi cũng chỉ có giới hạn thôi." Khi chúng tôi chấm dứt buổi họp khó chịu đó, ông Clifford còn phát biểu một câu thất vọng gần giống như lời Tổng Thống Johnson khi trước: "Chúng ta phải tìm ra một giải pháp nào đó, nếu không thì rắc rối to!"
Cuối cùng, tôi đến gặp Ngoại Trưởng Rusk trước khi lên đường về Sài Gòn. Khi nói chuyện với ông Rusk tôi có cảm tưởng rằng cả ba nhân vật Hoa Kỳ -Tổng Thống Johnson, Ngoại Trưởng Rusk và Bộ Trưởng Quốc Phòng Clifford- đều đang cố nói rõ lập trường của Hoa Kỳ cho tôi biết. Mới chỉ một năm trước đây, ông Rusk đã từng nói: "Nếu người Hoa Kỳ quyết định làm việc gì thì chắc chắn họ sẽ làm được việc đó", vậy mà giờ đây ông lại nói rằng: "Chúng tôi không còn đường chọn lựa. Mục tiêu của chúng tôi giờ đây không phải là thắng lợi quân sự mà là Hòa Bình trong danh dự." Đây là lần đầu tiên tôi được nghe một danh từ đặc biệt như vậy. Trên chuyến bay về Sài Gòn năm 1968, tôi đã suy nghĩ rất nhiều về câu "Hòa Bình trong danh dự" của ông Rusk. Lúc đó, tôi vẫn chưa biết được rằng sau này, vào tháng 10, năm 1972 tôi còn có dịp được nghe lại danh từ đặc biệt này một lần nữa khi ông Kissinger tuyên bố Hoa Kỳ đã đạt được "Hòa Bình trong danh dự" qua hiệp định Ba Lê.
Trong Gọng Kèm Lịch Sử Trong Gọng Kèm Lịch Sử - Bùi Diễm Trong Gọng Kèm Lịch Sử