Chương 20 -Bước Thứ Hai
ào lúc hội nghị Honolulu kết thúc, chúng tôi còn hân hoan hơn vì được biết Tổng Thống Johnson sẽ cử Phó Tổng Thống Hubert Humphrey sang Việt Nam cùng lúc phái đoàn Việt Nam trở về. Tuy Phó Tổng Thống Humphrey không đến dự hội nghị Honolulu, Tổng Thống Johnson vẫn cho rằng nếu gửi ông sang Việt Nam thì Hoa Kỳ có thể tiếp tục nâng cao được tinh thần chính phủ Việt Nam. Vì vậy Phó Tổng Thống Humphrey đã được ủy nhiệm sang Á Châu. Ông dự định đến Sài Gòn trước tiên và sau đó sẽ ghé thăm những nước lân cận. Tuy Việt Nam lúc này đang ở vào giai đoạn chiến tranh, vị Phó Tổng Thống Hoa Kỳ vẫn nhìn tình hình với đôi mắt khả quan. Chẳng những thế, quan niệm cấp tiến của ông Humphrey lại còn trùng đúng với chủ trương nhấn mạnh cải cách xã hội, kinh tế của Tổng Thống Johnson. Sự hiện diện của Phó Tổng Thống Hoa Kỳ trên chuyến bay trở về đã khiến phái đoàn chúng tôi vô cùng phấn khởi. Những tin tưởng khởi xuất từ cuộc họp thượng đỉnh lại càng vững vàng thêm.
Khổ thay, cả những uy tín của cuộc họp thượng đỉnh cũng vẫn chưa đủ để ông Thiệu và ông Kỳ thoát khỏi được tất cả những khủng hoảng nội bộ đã nhiều phen lật đổ các chánh quyền Việt Nam trước đây. Ít nhất thì cũng là một lần nữa, những phong trào đảo chánh của đời sống chính trị Việt Nam lúc đó lại khiến hai tướng lãnh phải dùng đến áp lực quân sự. Vào tháng 3 năm 1966, chỉ mới chưa tròn một tháng sau cuộc họp Honolulu thì những âm mưu đảo chánh lại được phát động. Lần này mưu toan đảo chánh lại do các đoàn thể Phật Giáo. Họ đã hợp tác cùng với một tư lệnh quân đội có nhiều thế lực và tham vọng đang trấn ở quân đoàn I giáp giới Miền Bắc là tướng Nguyễn Chánh Thi.
Sự thật thì cuộc đụng độ đã ngấm ngầm từ nhiều tháng trước. Tướng Thi là một người háo động đã tham gia rất nhiều vụ dấy động trong suốt cuộc đời binh nghiệp, kể cả những vụ đảo chánh lẫn chống đảo chánh. Ông chính là một trong những người đã cầm đầu cuộc đảo chánh hụt ông Diệm lần đầu vào năm 1960. Cuộc đảo chánh đầu tiên của tướng Thi đã mở màn cho những ý tưởng đảo chánh về sau này. Năm 1964, ông hỗ trợ Tướng Nguyễn Khánh truất phế những tướng tá đã lật đổ ông Diệm. Rồi ông lại liên kết với nhóm Tướng Trẻ để trục xuất tướng Khánh năm 1965. Thành tích quá khứ và oai quyền lãnh chúa Miền Bắc đã khiến tướng Thi tự coi mình thừa khả năng điều hành chính phủ. Hoặc giả ít nhất ông cũng cho rằng nếu đem so sánh với ông Thiệu và ông Kỳ thì khả năng của ông cũng chẳng kém gì.
Thủ đô của vùng một là Huế, nguyên là một thành phố thuộc vùng tướng Thi cai quản và cũng là nơi lãnh tụ Phật Giáo Thích Trí Quang cùng các lãnh tụ Phật Giáo khác cư ngụ. Tuy kể từ khi ông Thiệu và ông Kỳ nắm quyền, các phái đoàn Phật Giáo đã khá im lặng, họ vẫn chưa thực sự hài lòng. Vì các đoàn thể Phật Giáo vẫn không có chỗ đứng nào trong chánh phủ nên giờ đây thái độ chống quân nhân của họ còn mãnh liệt hơn. Ông Thiệu là người công giáo. Ông Kỳ tuy là người Phật Giáo nhưng vẫn không đủ kiên nhẫn để xoa dịu những đoàn thể Phật Giáo.
Vào đầu tháng 3-1966, hai nguyên nhân chính gây ra cuộc khủng hoảng nội bộ của Việt Nam là nỗi bất bình của Tướng Thi và những thất vọng chánh trị của các đoàn thể Phật Giáo. Cuộc khủng hoảng bắt đầu trong một chuyến ông Kỳ đến Huế. Khi ông Kỳ đến Huế, một lãnh chúa tại đây đã quay lại hỏi thuộc hạ: "Ê, anh chàng này đến làm gì ở đây vậy?" Trong cơn phẫn nộ, ông Kỳ không chỉ xem đây là một sự nhục mạ cá nhân. Ông lên án hành động của vị tư lệnh miền Trung là một hành động thách thức chánh quyền. Ít nhất thì đây cũng là nguyên nhân của mọi việc hỗn loạn vào lúc ban đầu. Cũng có thể ông Kỳ đã cố tình tìm dịp đương đầu trực tiếp với tướng Thi để giải quyết cho xong vấn đề của một vị tướng hay la lối ầm ỹ. Dù thế nào đi nữa thì khi quay về Sài Gòn, tất cả những người trong giới lãnh đạo ở Sài Gòn cũng hoan nghênh việc ông Kỳ đã đứng ra đương đầu trực tiếp với tướng Thi. Chính những hành động của ông Kỳ với tướng Thi đã khiến các đoàn thể Phật Giáo ở Huế khởi đầu những cuộc biểu tình đòi hỏi chánh phủ quân nhân phải từ chức. Đây là những cuộc biểu tình quái dị do những ám ảnh đảo chánh điên cuồng thôi thúc.
Vào ngày 26 tháng 3 năm 1966, những chuyện xung đột cá nhân mở đầu đã chuyển thành một cuộc nổi loạn toàn bộ ở miền Trung. Những đoàn biểu tình và các chánh quyền địa phương đã chiếm giữ những đài truyền thanh ở Huế và Đà Nẵng. Họ tuyên bố trung lập, không về phe nào cả. Nếu ông Kỳ không gửi đại diện đến để hứa rõ với những đoàn thể Phật Giáo rằng chánh quyền sẽ tổ chức một quốc hội lập hiến và sẽ thiết lập một chánh phủ dân sự vào cuối năm thì có lẽ đã có một cuộc đụng độ quân sự.
Mặc dầu ông Kỳ đã thành công trong việc xoa dịu nổi loạn, những cuộc biểu tình còn sót lại vẫn chỉ bớt dần ở một mức độ rất chậm. Đã vậy, việc đại sứ Lodge ủng hộ ông Kỳ lúc cuộc khủng hoảng phát động đã khiến sự phẫn nộ của Phật Giáo chuyển hướng thẳng vào Hoa Kỳ. Vào ngày 4 tháng 5, màn cuối của tấn kịch bắt đầu do một lời tuyên bố thiếu cân nhắc điển hình của ông Kỳ. Khi được hỏi về thủ tục của cuộc họp quốc hội mà ông đã hứa với các đoàn thể Phật Giáo, ông Kỳ trả lời rằng: Tuy cuộc họp sẽ tiến hành như ông hứa, nhưng chánh quyền sẽ tiếp tục nắm chánh quyền cho đến khi hiến pháp chánh thức được đưa ra. Trong khi chưa ai biết rõ chi tiết những điều ông Kỳ đã hứa trước đây thì các lãnh tụ Phật Giáo bỗng công khai lên án ông Kỳ đã nuốt lời hứa. Những biến cố xuống đường lại phát động.
Lần này thì xô sát quân sự là việc khó thể tránh khỏi. Ở Đà Nẵng, ông Kỳ đã lẹ làng chuyển những tiểu đoàn Thủy Quân Lục Chiến để đàn áp. Sau nhiều ngày chiến đấu, đa số Phật Tử và những quân nhân chống đối đã bị đè bẹp. Tuy thế, một tình trạng nguy hiểm đã diễn ra khi tướng Lewis chống đối cách dùng Không Quân oanh tạc những toán nổi loạn. Ông dọa sẽ bắn hạ những máy bay đàn áp nếu ông Kỳ phát động oanh tạc. Cuối cùng ông Kỳ đồng ý nhượng bộ và hứa sẽ chỉ dùng Bộ Binh để dẹp những cuộc xuống đường mà thôi. Sau một tuần lễ nghiêm trọng, tình hình Đà Nẵng trở lại bình thường.
Mặc dầu vậy, Huế lại là một câu chuyện khác hẳn. Tại đây những cuộc đụng độ vẫn tiếp tục dâng cao khi một nhóm phật tử xuống đường thiêu hủy tòa thư viện vào ngày 26 tháng 5 và rồi đã thiêu hủy cả tòa lãnh sự Hoa Kỳ vào ngày 30 tháng 5. Trước đây đã có đôi lúc những cuộc biểu tình bắt đầu với những giọng điệu chống Mỹ nên việc hai tòa Bin-Đinh của Hoa Kỳ bị thiêu hủy cũng chẳng có gì ngạc nhiên. Tuy sau biến cố Đà Nẵng những nhóm xuống đường không còn hy vọng gì thành công, cho mãi tận đến tháng 7, những sôi sục ở Huế mới tạm ổn định. Khi mọi sự đã qua thì người gây ra mọi sự là tướng Thi đã bị buộc phải rời khỏi Việt Nam, tưởng cũng không cần phải nói thêm rằng ông bị trục xuất sang Hoa Kỳ.
Tuy cuộc nổi loạn ở Huế quả có kéo dài với nhiều cường độ khác nhau trong hơn ba tháng, nhưng sau khi những biến động nổi loạn đã qua thì giai đoạn có thể gọi nôm na là giai đoạn bạo động của Việt Nam đã thật sự kết liễu. Trong suốt ba năm kể từ sau khi ông Diệm bị đảo chánh thì nội bộ Việt Nam càng ngày càng lũng đoạn. Sự suy sụp của chánh phủ Việt Nam lúc này phát xuất là do hậu hoạn của một thập niên độc tài và đàn áp di lại. Tuy vậy, khi những giai đoạn khủng hoảng Phật Giáo kết liễu thì một giai đoạn ổn định mở đầu và đã kéo dài cho đến những ngày cuối của chánh quyền Sài Gòn vào tháng 4 năm 1975. Dĩ nhiên vào lúc này, chưa ai biết rõ rằng đây là điểm khởi đầu của một giai đoạn mới. Ngược lại tất cả đều cho rằng đây là một giai đoạn cần phải cố gắng nỗ lực mà không được quyền đòi hỏi gì ở tương lai. Cũng vào thời gian này, các biến chuyển phức tạp khác lại xuất phát ngoài chiến trường.
Lúc này, quân đội Việt Nam đã có dịp mục kích cách Hoa Kỳ điều hành quân đội. Chẳng hơn gì dân chúng, các quân nhân Việt Nam cũng thấy rõ những số lượng quân nhu đang được chuyển vào để phục vụ các quân nhân Hoa Kỳ. Họ nhìn thấy những kho hàng PX khổng lồ với hàng dẫy đồ lạ lùng, nhằm xoa dịu những nỗi khốn khó của các binh lính viễn chinh Hoa Kỳ đang ở 10,000 dặm xa rời quê hương. Những quân nhân Việt Nam đã mục kích một giòng quân nhu vô tận được chuyển tới các đội quân Hoa Kỳ. Họ biết Hoa Kỳ đang sử dụng những số lượng mìn và bom khổng lồ. Chẳng những thế, họ còn biết Hoa Kỳ đang sử dụng một cách phí phạm. Cách phí phạm đạn dược của Hoa Kỳ gây cho họ nhiều ấn tượng đặc biệt. Một mặt họ lấy làm tức giận, mặt khác họ lại bắt đầu tin rằng đây có thể là một phương pháp hữu hiệu để dẫn đến thắng lợi. Chỉ ít lâu sau họ đã quen ngay. Chính thói quen này là một thói quen chết người về sau, khi Hoa Kỳ thình lình rút bỏ viện trợ.
Hơn nữa, khi quân đội Hoa Kỳ ráo riết phát động chiến thuật truy kích và tiểu trừ (Search and Destroy Operation), họ đã gây ra nhiều khó khăn ở miền quê. Thường thì nguyên tắc của quân đội Hoa Kỳ là "dùng đạn dược để giảm thiểu tổn thất cho binh sĩ." Một trong những thí dụ điển hình là tất cả các cuộc hành quân bất kể lớn nhỏ, đều được các đội pháo binh hoặc thủy quân dùng B-52 hoặc những loại yểm trợ tương tự để "bắn dọn đường." Một hậu quả tai hại của chiến thuật này là yếu tố bất ngờ gần như mất hẳn. Những cuộc hành quân lớn thường chỉ đụng độ với một vài toán bắn tẻ của địch quân hoặc tấn công vào những căn cứ địa tàn dư còn sót lại. Quan trọng hơn nữa là vấn đề lãng phí đạn dược còn gây ra tổn thất lớn lao cho dân quê và các nông dân trú ngụ trong phạm vi của các cuộc hành quân.
Đã đành rằng trong bất kỳ cuộc chiến nào cũng phải có những tổn thất dân sự nhưng có lẽ chiến thuật của Hoa Kỳ đã làm tăng thêm tầm mức thương vong. Đầu tiên thì chiến thuật của Tướng Westmoreland là tìm cách di chuyển lực lượng về những vùng cao nguyên hẻo lánh hoặc dọc theo biên giới Lào và Cam Bốt. quân đội Hoa Kỳ cũng có soạn thảo chi tiết những luật lệ chiến đấu (ROEs - Regulation Of Engagement) cùng chánh quyền Việt Nam để có thể giảm thiểu những tổn thất tài vật và nhân mạng cho dân chúng.
Tuy những nỗ lực của Tướng Westmoreland cũng có ích nhưng trên thực tế, vấn đề áp dụng những nguyên tắc được đề ra quả là nan giải. Việc phải truy kích địch quân lẩn trốn trong các làng mạc không phải là việc dễ dàng. Một trong những chiến thuật chính của quân đội du kích là trà trộn chung vào với dân quê để ẩn nấp. Biết được tật thường xuyên dội pháo mỗi khi đụng trận của Hoa Kỳ, du kích Bắc Việt cố chuyển hướng pháo hoặc oanh tạc vào dân chúng để vận động lòng căm phẫn của họ đối với binh lính Hoa Kỳ. Đã vậy, tuy trên mặt thủ tục tất cả những cuộc oanh tạc của Hoa Kỳ đều cần phải có các chức trách địa phương cho phép mà trên mặt thực tế vấn đề lại hoàn toàn khác hẳn. Những nhà chức trách quân sự của cả Hoa Kỳ lẫn Việt Nam đều ít để ý đến các nơi dân chúng địa phương trú ngụ. Hậu quả là những cuộc dội bom lệch lạc và không phân biệt đã gây ra vô số thương tổn đáng tiếc.
Đối với một cuộc chiến như cuộc chiến Việt Nam, vì không phân biệt rõ ràng được ranh giới và hơn nữa, vì du kích Bắc Việt lại cố ý trà trộn vào với thường dân nên những tư lệnh quân sự khó thể ngăn ngừa những tổn thất đáng tiếc. Tôi và nhiều người khác đã gặp tướng Westmoreland nhiều lần để trình bày các vấn đề khó khăn của tình hình. Chúng tôi biết rằng hậu quả của tấn bi kịch thương vong dân sự thật vô cùng lớn lao và những ảnh hưởng xấu đang lan tràn trong dư luận thế giới, nhưng chúng tôi đang tham gia một cuộc chiến mà cả chiến địa lẫn cường độ đều do địch quân định đoạt. Tình cảnh quả thật mâu thuẫn đến độ khó tưởng: Tuy Việt Cộng và Miền Bắc đang lãnh đạo cái mà họ gọi là Chiến Tranh Nhân Dân, nhưng khi chiến cuộc lôi kéo dân chúng vào vòng máu lửa thì mọi trách nhiệm lại bị đổ hất lên đầu Hoa Kỳ và Việt Nam Việt Nam. Đây là một gánh nặng mà chúng tôi đã phải mang trong suốt khoảng thời gian còn lại của chiến cuộc.
Vào năm 1966 những tổn thất dân sự và những hủy hoại ở miền quê đã khiến dư luận thế giới ngày càng chống đối Hoa Kỳ. Kể từ trước tháng 7, chỉ có những chỉ trích nhẹ nhàng nhưng trong tháng 7, những các đồng minh Âu Châu bỗng nhiên chỉ trích dữ dội, nhất là sau khi máy bay Hoa Kỳ dội bom tấn công vào những khu vực kỹ nghệ và các khu vực xăng gần Hà Nội và Hải Phòng. Thủ tướng Harold Wilson tuyên bố: Người dân Anh Quốc "không ủng hộ" các chiến dịch oanh tạc và Tổng Thống Pháp Charles de Gaulle lên án những cuộc dội bom là "một cuộc leo thang thiếu suy xét trong chiến tranh ở Việt Nam."
Rồi đây, trong nhiều năm tới, khi đề tài dư luận bắt đầu đặt câu hỏi "đúng", "sai", khi các cuộc dội bon về sau này thường hướng thẳng vào những vùng đông dân cư và khi dân chúng bị buộc phải tản cư trong những chuyến tản cư đầy bi thảm thì thế giới lên án gắt gao hơn. Dĩ nhiên khi phải trực diện với những hậu quả kinh hoàng và tình cảnh khốn khổ của dân chúng các ký giả khó thể hiểu rằng chiến thuật và chiến lược của Cộng Sản được đặt căn bản trên những lý thuyết sắt máu của bạo động cách mạng. Dĩ nhiên họ chẳng thể hiểu được rằng đây là một phương sách chủ trương lợi dụng yếu tố nhân sự để làm bàn đạp tiến đến thắng lợi chiến cuộc. Nếu những phóng viên và ký giả đã không nhìn thấy điểm này thì những độc giả và khán thính giả của họ còn mù mịt hơn. Hậu quả là giữa năm 1966, những cuộc tranh luận khốc liệt, và những chỉ trích có tính cách đạo đức một chiều của những người phản chiến ở Hoa Kỳ đã bắt đầu có tiếng vang.
Trong năm 1966, những khuyết điểm điển hình của chiến cuộc Việt Nam đã bắt đầu lộ rõ. (Chẳng hạn như những tổn thất đáng tiếc xảy ra khi Hoa Kỳ áp dụng chiến thuật truy kích và tiêu diệt, những chỉ trích ngày càng nhiều của thế giới khi Hoa Kỳ dội bom vào những vùng đông dân cư). Tuy thế, nếu nhìn từ một khía cạnh khác thì vẫn có những biến chuyển khả quan. Đã đành rằng lúc này quân đội Hoa Kỳ vẫn chưa tiêu diệt hết được Việt Cộng nhưng tình hình quân sự tạm được ổn định và vào tháng 7, khi khủng hoảng Phật Giáo kết liễu, chánh phủ Việt Nam đã có thể tiến hành việc bầu cử quốc hội lập hiến như đã hứa vào lúc trước.
Có lẽ đối với các quốc gia có truyền thống dân chủ từ lâu thì bầu cử chỉ là một vấn đề hết sức đơn giản nhưng đối với Việt Nam thì đây quả là một ý niệm hãy còn rất mới mẻ. Vì vậy, vấn đề đầu tiên cần được thảo luận là làm thế nào để phổ biến quan niệm bầu cử và cho dân chúng thấy đây là một vấn đề quan trọng. Để vận động bầu cử, chánh phủ đã huy động sự đóng góp của các nhà văn nghệ sĩ ở Sài Gòn cũng như ở nhiều địa phương khác. Ý kiến bầu cử được phổ biến khéo léo vào những bài hát để cổ động dân chúng đi bầu. Đài truyền thanh lúc nào cũng đầy những chương trình nhạc cùng những chương trình phác họa đại cương những chủ đề liên quan đến vấn đề bầu cử. Những đoàn kịch nghệ và những gánh hát đã đi khắp các vùng quê, vừa dựng kịch, vừa lập những chương trình văn nghệ nhằm cổ động bỏ phiếu. Theo tôi thì những nỗ lực này vừa vui lại vừa có hiệu quả. Theo lời điệp khúc của một bài hát mà ai cũng đã nghe đi nghe lại thì: "Tương lai chúng ta tùy thuộc vào nền dân chủ." Trong nhiều tháng ròng rã lời nhắn nhủ bầu cử đã lan ra khắp cả Việt Nam.
Vào lúc các chiến dịch vận động bầu cử đang phát động mãnh liệt thì một Ủy Ban đặc biệt lo việc soạn thảo các luật lệ bầu cử đã được lựa chọn từ nhiều đoàn thể chính trị và tôn giáo khác biệt. Chẳng bao lâu sau, Ủy Ban đã bắt đầu thảo luận dữ dội về vấn đề xác định những tiêu chuẩn cho các ứng cử viên. Tuy vấn đề loại trừ hoàn toàn các thành phần Cộng Sản là vấn đề không có gì rắc rối, nhưng lại có cả những ứng cử viên có khuynh hướng "trung lập." Sau cùng thì cán cân ngả về phía những người mang lập trường cứng rắn: Bất cứ ai công khai ủng hộ "giải pháp thiên cộng" đều không đủ tiêu chuẩn làm ứng cử viên. Đây là một cách giải quyết vấn đề thật đơn giản, nhưng tôi hoàn toàn chẳng để tâm vì thật ra cũng chẳng có khó khăn gì nhiều liên quan đến vấn đề này. Đây chỉ là một quốc hội tạm thời được ùy nhiệm soạn thảo hiến pháp. Sau khi hiến pháp hoàn tất, tất cả quốc hội lập hiến sẽ tự động giải tán. Cuối cùng những ứng cử viên tự nguyện đã tụ tập thành một cử tri đoàn đông đảo. Họ bao gồm luật sư, giáo sư, nông gia, các cựu quân nhân, và các nhà báo cùng với những chính trị gia và đại biểu của các đoàn thể tôn giáo.
Ngày 11 tháng 9 năm 1966 là ngày bầu cử Quốc Hội Lập Hiến. Mặc dù Việt Cộng đe dọa sẽ có bạo động và các đoàn thể Phật Giáo cảnh cáo rằng cuộc bầu cử có thể bị tẩy chay, dân chúng vẫn hưởng ứng vô cùng nhiệt liệt. Họ đi lũ lượt hàng đoàn đến nơi bỏ phiếu, phần đông đều mặc quần áo thanh lịch như thể quần áo dùng vào mỗi dịp hội hè. Trong một cuộc bầu cử với 630 ứng cử viên và 7 triệu người đăng ký đi bầu, đã có hơn 5 triệu người bỏ phiếu và 117 ứng cử viên đắc cử được tuyển làm đại biểu cho quốc hội lập hiến. Tuy vẫn có một vài trường hợp bất hợp lệ nhưng nói chung thì cuộc bầu cử vẫn là một thành công đáng kể. Đối với một quốc gia đang lúc chiến tranh và chưa hề có truyền thống bầu cử thì đây đúng là một biến cố lớn lao có ảnh hưởng quan trọng đến tương lai về sau. Theo lời một người Hoa Kỳ bạn tôi thì: "Quang cảnh [của người Việt Nam] vui vẻ, hội hè vững tin vào tương lai tỏa ra khắp nơi đã mang cho chúng tôi [những người Hoa Kỳ] rất nhiều hy vọng."
Quang cảnh bầu cử cũng đã khiến tôi vô cùng phấn khởi. Một khi tiến trình dân chủ đã bắt đầu thì đà cải tiến thường một ngày một tăng. Khi mọi người đã biết họ có thể đóng góp tiếng nói của mình vào chánh phủ, khi họ đã thấy rằng những chính trị gia bị buộc phải chú tâm đến họ thì việc họ tự tạo một guồng máy chính quyền dân chủ là việc không thể nào tránh khỏi. Những nhu cầu cần thiết sẽ khiến quần chúng lấy ý kiến chung làm khuôn mẫu áp dụng. Chính trị sẽ chuyển hướng thành những cuộc tranh luận công khai để cùng tìm giải pháp thay vì chỉ là những vận động áp dụng bạo lực và thủ đoạn dùng vào việc theo đuổi những tham vọng cá nhân.
Cuộc bầu cử là một trong những bước khởi đầu của tiến trình dân chủ đó. Tuy đây chỉ là một quốc hội lập hiến và chánh phủ quân nhân vẫn giữ quyền thỏa thuận hoặc bác bỏ hiến pháp vào lúc chót, nhưng ông Thiệu và ông Kỳ không dễ gì bác bỏ được các tiến trình dân chủ. Những tiến trình này đã bắt đầu và rồi đây chánh phủ quân nhân sẽ chẳng còn đường nào chọn lựa. * * * * *
Vào mùa thu năm 1966 Sài Gòn đã thực sự tiến được một bước dài. Đây là lần đầu tiên trong rất nhiều năm đất nước có được một chánh phủ hoàn toàn không phải lo lắng sợ sệt vì những cuộc đảo chánh sắp tới hoặc vì những cuộc nổi loạn phe nhóm. Đây là lần đầu tiên đất nước có được một chánh phủ có thể hoạt động bình thường trong công việc quản trị cũng như trong công việc điều hành chiến cuộc. Chúng tôi đã đi qua giai đoạn đầu của những tiến trình nhằm chuyển đổi chính phủ Việt Nam thành một chính phủ dân chủ hợp hiến.
Qua nhiều năm cơ cực và thất vọng, giờ đây những thành quả dân chủ đã được cả Hoa Thịnh Đốn lẫn Sài Gòn nhiệt liệt hoan nghênh. Tổng Thống Lyndon Johnson đã quyết định lợi dụng tình thế để làm giảm bớt ảnh hưởng của các phong trào phản chiến ở Hoa Kỳ và Âu Châu đang ngày càng gia tăng.
Trong những tháng trước, những nhà ngoại giao Hoa Kỳ đã thành công trong nỗ lực tạo dựng một khối liên minh gồm nhiều nước ở Á Châu và Thái Bình Dương. Tất cả các quốc gia trong khối liên minh này đều đồng ý cùng tham gia tiếp trợ Việt Nam chung với Hoa Kỳ. Thái Lan, Phi Luật Tân, Nam Hàn, Úc và Tân Tây Lan đã gửi cả binh lính hoặc những đơn vị tiếp trợ giúp đỡ Việt Nam. Thành quả Ngoại Giao của Hoa Kỳ đã đến đúng vào lúc tinh thần dân chúng Việt Nam đang phấn khởi. Những niềm phấn khởi phát sinh là do những cuộc bầu cử quốc hội lập hiến vừa xong. Tuy chiến cuộc vẫn chưa hoàn toàn đến hồi ngã ngũ, Tổng Thống Johnson đã nhận thấy đây là một cơ hội tốt để tỏ cho thế giới rõ Hoa Kỳ đã có đồng minh trong cuộc chiến. Hơn nữa, ông muốn nhấn mạnh rằng công cuộc bảo vệ độc lập của Việt Nam đang mang lại thành quả và Hoa Kỳ không phải là quốc gia duy nhất ủng hộ Việt Nam.
Trước sự thúc đẩy của tổng thống Johnson, Tổng Thống Phi Luật Tân là Ferdinand Marcos đã đồng ý đứng ra tổ chức một hội nghị thượng đỉnh ở Manila vào cuối tháng 10. Tại đó hầu hết các giới lãnh đạo của các quốc gia có gửi binh sĩ sang Việt Nam đều được mời tham dự. Sự thực, trong nỗ lực gom góp thêm viện trợ, Tổng Thống Johnson còn sửa soạn chương trình thăm viếng các quốc gia này. Do một sự tình cờ, Manila lại rơi đúng vào vị trí trung tâm của cuộc hành trình dài 17 ngày mà Tổng Thống Johnson đã dự định. Manila vì vậy đã trở thành một nơi hội họp thuận tiện nhất.
Mặc dầu cuộc hội họp thượng đỉnh của 7 quốc gia ở Manila rõ ràng là một trong vận động nằm trong một chánh sách thuyết phục dân chúng lớn lao hơn của Tổng Thống Johnson, đối với chúng tôi đây cũng là một công việc tự nó không kém phần quan trọng và chúng tôi hoan nghênh cổ võ hết mình cho buổi họp. Vì là một quốc gia đang bị uy hiếp ở tầm mức sinh tử, Việt Nam cần được quốc tế công nhận và bảo đảm. Tình trạng ổn định mới mẻ ở Sài Gòn và những tiến triển gần đây về vấn đề tự do bầu phiếu đã khiến chúng tôi cho rằng lúc này đúng là lúc để mở màn giai đoạn nâng cao uy tín trên lãnh vực ngoại giao cho chánh phủ Việt Nam. Chúng tôi cũng muốn nhấn mạnh tính cách quốc tế của chiến cuộc Việt Nam. Vì bị buộc phải chấp nhận để cho các đơn vị người ngoại quốc đóng quân ở Việt Nam, chúng tôi cảm thấy rằng một lực lượng quốc tế sẽ được xem là ít đe dọa đối với chủ quyền và tự ái của chúng tôi hơn là quân đội của chỉ một quốc gia. Chúng tôi nhận xét rằng: Nếu phải để cho quân đội ngoại quốc đóng quân ở Việt Nam thì chính phủ Việt Nam vẫn có thể giữ được nhiều uy tín hơn nếu những lực lượng trấn đóng là những lực lượng quốc tế. Đã đành rằng dù chọn cách nào thì vấn đề chọn lựa của chúng tôi chẳng qua cũng chỉ là những sự chọn lựa bất đắc dĩ, nhưng giữa hai điều bắt buộc phải chọn chúng tôi cho rằng cho phép một lực lượng quốc tế đóng quân ở Việt Nam vẫn là một điều dễ chấp nhận hơn.
Kể từ sau ngày hội nghị Honolulu trở đi thì càng ngày tôi càng đi sâu vào các quyết định ngoại giao. Vào thời gian này nội các lại cải tổ và tôi được bổ nhiệm làm Phụ Tá Ngoại Trưởng kiêm Phụ Tá Đặc Biệt của Thủ Tướng. Việc thay đổi là do những sự xung đột giữa hai phe quân nhân và dân sự trong chánh phủ của hai ông Thiệu-Kỳ. Một trong những nhân viên dân sự là Ngoại Trưởng Trần Văn Đỗ người mà lúc nào tôi cũng kính trọng và coi như bậc đàn anh của tôi. Cụ Đỗ là một người ôn hòa và ít đồng ý với những ý kiến táo bạo của giới quân nhân. Nhiều phần tử trong giới quân nhân lại cho là cụ ôn hòa quá. Vào tháng ba, nhân có dịp cải tổ chánh phủ, nhiều quân nhân không ưa cụ đã vận động để thay thế cụ.
Tuy thế, ông Phillip Habib (cố vấn Bộ Trưởng ở tòa đại sứ Hoa Kỳ lúc bấy giờ) lại rất trọng cụ Đỗ. Khi nghe dư luận Sài Gòn đồn đãi về việc chính phủ dự định thay thế cụ Đỗ, ông Phillip Habib chạy đến văn phòng tôi để tìm hiểu thêm. Tôi nói với ông Phillip Habib rằng ông Kỳ và những người trong nhóm quân nhân có dò hỏi tôi xem tôi có thể thay thế cụ Đỗ không nhưng tôi đã trả lời là không thể được.
Khi cả hai chúng tôi bàn luận chi tiết thêm thì ông Habib lại còn lo lắng hơn. Cụ Đỗ là người được các giới ngoại giao kính trọng và tôi là một người có tiếng đã hợp tác chung với Hoa Kỳ nhiều năm. Nếu cả hai chúng tôi đều không chịu nhận trách nhiệm ở Bộ Ngoại Giao thì còn ai có thể làm việc được? Biết đâu nhân vật mới chẳng là một nhân vật hội đủ tiêu chuẩn cần thiết của các quân nhân nhưng sẽ khiến tòa đại sứ Hoa Kỳ phải gặp nhiều khó khăn? Ông Habib có vẻ chống đối việc cải cách. Cuối cùng thì tất cả những người tham gia đề xướng cải cách đều thỏa thuận như sau: Ông Đỗ vẫn là Ngoại Trưởng nhưng tôi sẽ là Phụ Tá Ngoại Trưởng Đặc Trách những vấn đề đặc biệt. Tuy những tướng lãnh mang lập trường cứng rắn vẫn không hoàn toàn hài lòng nhưng vì tòa đại sứ đã bằng lòng nên họ vẫn phải gật đầu chấp nhận. Đối với tôi thì đây là một thắng lợi đáng kể. Trong cuộc tranh chấp với các thành phần quân nhân, lần này tôi đã giữ thêm được một đồng nghiệp cùng đồng quan điểm với tôi mà lại có tầm hiểu biết thấu đáo về những chính sách ngoại giao. Ảnh hưởng của tôi trong việc thiết lập chánh sách lại gia tăng thêm. Đây quả là một thắng lợi quý giá trong những cố gắng tiến dần đến để thiết lập một chánh phủ hợp hiến.
Kể từ ngày sau cuộc họp thượng đỉnh ở Honolulu trở đi, tôi đã làm việc ở Bộ Ngoại Giao, cố gắng cải tiến mối bang giao với các quốc gia khác trong vùng Đông Nam Á và tìm cách nâng cao hình ảnh Việt Nam trên thế giới. Vì thế, việc chuẩn bị cho cuộc họp ở Manila lại chất chồng lên vai tôi cũng là chuyện tự nhiên.
Ngoài mặt thì 4 vấn đề chính của chương trình nghị sự ở Manila là: Nhận xét tổng quát về tình hình chiến sự, duyệt lại những đề nghị hòa bình từ trước tới nay, nhận định những chiến lược nhằm kết thúc chiến cuộc và soạn thảo chương trình an ninh cho các vùng. Nhưng chẳng bao lâu sau, khi sửa soạn cho cuộc hội nghị tôi đã thấy rõ ràng những vấn đề ưu tiên của 7 quốc gia hoàn toàn khác biệt và những vấn đề quan trọng lại quá nhiều, không thể sắp xếp tất cả mọi vấn đề vào hai ngày hội nghị được. Những vấn đề tiệc tùng, nghi lễ, thủ tục hội họp và những thủ tục khác đã choán hết phần lớn thì giờ. Khoảng thời gian còn sót lại chỉ vừa đủ để 7 quốc gia có thể bày tỏ tinh thần đoàn kết. Thật sự thì chỉ riêng sự có mặt của 7 vị nguyên thủ quốc gia cùng ngồi lại với nhau để cứu xét các vấn đề khó khăn cũng đủ khiến cuộc họp biến thành quan trọng.
Cuộc họp thượng đỉnh ở Manila cũng chẳng khác gì các cuộc họp thượng đỉnh những lần trước đây, nhân vật nổi bật nhất vẫn là tổng thống Johnson. Ông bàn luận hăng say về chánh sách của Hoa Kỳ ở Á Châu, về vấn đề kêu gọi hòa bình và việc cần phải thể hiện quyết tâm chống lại sự xâm lăng của cộng sản. Tổng thống Johnson tuyên bố: "Đối với những người ủng hộ tự do, đối với những người có trách nhiệm, đối với những người có lương tâm, ngoài cách phải đứng lên chống lại những hành động xâm lược có lẽ chẳng còn cách nào khác." Tuy không phải tất cả các vị nguyên thủ quốc gia đều là những người có tài hùng biện trôi chảy, nhưng tất cả đều đồng ý với tổng thống Johnson. Trong cuộc họp vị thống chế đầu bạc Kittikachorn của Thái Lan rất ít khi lên tiếng. Tổng thống Phác Chánh Hy của Nam Hàn lại còn im lặng hơn nữa. Nhưng cả Thủ Tướng Úc Đại Lợi Harold Holt (Thủ Tướng Harold Holt đã có tiếng là người ủng hộ lập trường của Tổng Thống Johnson.) lẫn Thủ Tướng Tân Tây Lan Keith Holyoake đều mạnh dạn phát biểu ý kiến rằng hai quốc gia Úc Đại Lợi và Tân Tây Lan sẽ dốc lòng ủng hộ. Về phần Tổng Thống Ferdinand Marcos thì vui mừng trông thấy trong vai trò chủ tọa. Ông lăng xăng chạy từ vị lãnh đạo này sang vị lãnh đạo khác, cố làm cho sự hiện diện của mình được mọi người chú ý.
Sau hai ngày hội họp, tất cả những vị nguyên thủ tham dự đều ký kết vào một bản tuyên ngôn. Có lẽ đã có nhiều nhân vật phản chiến cho rằng bản tuyên ngôn chỉ chứa đầy những ngôn từ rỗng tuếch và khiếm khuyết những chất liệu thực tiễn, nhưng riêng chúng tôi vẫn lấy làm hài lòng, ít nhất thì cũng là hài lòng do cả những khẳng định hậu thuẫn mới mẻ lẫn những lời hứa rút lui của Hoa Kỳ và các lực lượng đồng minh một khi Cộng Sản Bắc Việt chấm dứt xâm lược.
Tiếp theo nghi lễ ký kết là một cuộc diễn hành từ khách sạn Manila tới Phủ Tổng Thống là Malacan Palace. Đây là một nghi lễ long trọng. Dẫn đầu là các vị quốc trưởng đi chung một hàng. Khổ người của Tổng Thống Johnson cao vượt hẳn lồ lộ trong hàng quốc trưởng. Sau lưng các quốc trưởng là các Bộ Trưởng và sau chót là những nhân viên tùy tùng của các phái đoàn. Xung quanh là những đám đông hoan hô. Hàng trăm ký giả, nhiếp ảnh gia tới lui nhộn nhịp biến đoàn người thành một cuộc diễn hành của 7 quốc trưởng. Hiển nhiên phía Hoa Kỳ đã vô cùng hân hoan. Thật ra cũng chẳng có vị quốc trưởng nào tỏ ý than phiền về việc dư luận quốc tế đã chú ý quá nhiều đến họ trong buổi diễn hành.
Trong buổi tiệc tối đó, gần như tất cả mọi người đều vui vẻ hòa mình trong bầu không khí hội hè thoải mái. Tuy thế riêng tôi lại hoàn toàn khác hẳn. Ngày hôm trước, những chuyện lủng củng dai dẳng giữa tôi và những tướng lãnh Việt Nam đã diễn ra trong một khung cảnh căng thẳng không mấy tốt đẹp. Chuyện xảy ra khi ông Thiệu, ông Kỳ và tôi đang dùng bữa tối cùng Tướng Nguyễn Hữu Có và tướng Cao Văn Viên. Tướng Có, nguyên là một trong những người có lập trường quân sự cứng rắn trước đây đã vận động để thay thế cụ Trần Văn Đỗ. Trong một phút đùa cợt ông Có đã nói: "Lần này khi về Sài Gòn chúng ta phải cắt gân Bùi Diễm mới được." Tôi đã giận dữ trả lời đại khái rằng: "Tôi đang làm việc cho quốc gia, tôi không thích nghe những lời chỉ trích vô lối cho dù rằng những lời chỉ trích đó chỉ là đùa cợt." Nghe tôi trả lời, Tổng Tham Mưu Trưởng Cao Văn Viên đã nửa đùa nửa thật: "Phải rồi, thằng nào mà đụng đến anh thì tôi dùng Dù tôi đánh bỏ mẹ nó đi." Tướng Có đã nhượng bộ và nói nhỏ rằng đây chỉ là chuyện nói giỡn cho vui. Tuy thế, hành động của Tướng Có vẫn khiến tôi cảm thấy buồn bã. Lời ông đùa bỡn là một dấu hiệu rõ rệt cho thấy những áp lực của giới quân nhân mà tôi đã mơ hồ cảm thấy vào lúc trước chẳng phải hoàn toàn do ảo tưởng.
Khi buổi tiệc tối sắp kết thúc, tất cả những người khác trong phái đoàn Việt Nam cũng cảm thấy căng thẳng chẳng kém gì tôi nhưng lý do khiến họ căng thẳng lại hoàn toàn khác hẳn.
Sáng sớm ngày đó, ông Phil Habib đã sang chỗ trú ngụ của chúng tôi xin phép được nói chuyện với riêng hai ông Thiệu và Kỳ. Ông Habib cho biết Tổng Thống Johnson đã quyết định đích thân đến thăm căn cứ của Hoa Kỳ ở vịnh Cam Ranh ngay sau cuộc họp. Nhưng vì lý do an ninh, ông sẽ không ghé Sài Gòn.
Chúng tôi đã hiểu những lý do an ninh quá rõ: Chỉ riêng những diễn biến khủng bố thường xuyên ở Sài Gòn cũng đã đủ lý do khiến Hoa Kỳ phải đề cao cảnh giác. Tuy thế, chúng tôi vẫn cảm thấy nhục nhã vì việc này. Quyết định bất ngờ của Tổng Thống Johnson đã khiến chúng tôi không có đủ cả thời giờ để chuẩn bị cuộc tiếp đón cho đúng nghi lễ tiếp tân. Bởi vậy, vào ngay cả những khi buổi tiệc của tổng thống Marcos đang đến hồi vui nhộn nhất, chúng tôi vẫn lo lắng triền miên về chuyện phải cố gắng trở về để kịp thời sắp đặt những nghi lễ tiếp tân tối thiểu cho Tổng Thống Johnson vào ngày hôm sau.
Mặc dầu chúng tôi đã cố giữ thể diện mà chuyến viếng thăm Cam Ranh của Tổng Thống Johnson vẫn làm cho chúng tôi phải bẽ mặt. Vị Tổng Thống Hoa Kỳ đã có thời giờ thăm viếng cả 6 thủ đô Á Châu mà lại không hề bước chân đến Sài Gòn, thủ đô của một đồng minh nơi hơn 300,000 binh lính Hoa Kỳ đang chiến đấu. Dĩ nhiên chúng tôi hiểu rằng lúc này đang giữa lúc chiến tranh và Hoa Kỳ không thể để bất kỳ sơ hở nào có thể ảnh hưởng đến việc an nguy của vị Tổng Thống của họ. Nhưng việc Hoa Kỳ công khai ngờ vực khả năng bảo vệ của chúng tôi thật quả đã làm chúng tôi mất mặt. Những người lãnh đạo Việt Nam đã phải cố gắng âm thầm nuốt liều thuốc đắng. Họ vẫn không hề hay biết rằng rồi đây trong những năm tới sẽ còn có những liều thuốc khác đắng hơn đang đợi chờ họ. Đây là một phần của cái giá Việt Nam phải trả cho sự lệ thuộc vượt mức của Việt Nam vào Hoa Kỳ.
Tổng Thống Johnson đã đến Cam Ranh vào ngày 26, tháng 10-1966. Ông chỉ ghé đây khoảng nửa ngày. Khi nói chuyện với những binh lính tụ họp để hoan hô ông, ông đã tuyên bố: "Chúng tôi xin hứa sẽ không bao giờ để các anh, các chiến hữu của các anh, 15 triệu dân Việt Nam và hàng trăm triệu người Á Châu khác đang tin tưởng vào Hoa Kỳ phải thất vọng. Chúng ta phải chứng minh rằng ngay tại nơi này -tại Miền Nam Việt Nam- ý đồ xâm lược của cộng sản chắc chắn không thể thành tựu."
Trong Gọng Kèm Lịch Sử Trong Gọng Kèm Lịch Sử - Bùi Diễm Trong Gọng Kèm Lịch Sử