Đăng Nhập
Đăng nhập iSach
Đăng nhập = Facebook
Đăng nhập = Google
Quên Mật Khẩu
Đăng ký
Trang chủ
Đăng nhập
Đăng nhập iSach
Đăng nhập = Facebook
Đăng nhập = Google
Đăng ký
Tùy chỉnh (beta)
Nhật kỳ....
Ai đang online
Ai đang download gì?
Top đọc nhiều
Top download nhiều
Top mới cập nhật
Top truyện chưa có ảnh bìa
Truyện chưa đầy đủ
Danh sách phú ông
Danh sách phú ông trẻ
Trợ giúp
Download ebook mẫu
Đăng ký / Đăng nhập
Các vấn đề về gạo
Hướng dẫn download ebook
Hướng dẫn tải ebook về iPhone
Hướng dẫn tải ebook về Kindle
Hướng dẫn upload ảnh bìa
Quy định ảnh bìa chuẩn
Hướng dẫn sửa nội dung sai
Quy định quyền đọc & download
Cách sử dụng QR Code
Truyện
Truyện Ngẫu Nhiên
Giới Thiệu Truyện Tiêu Biểu
Truyện Đọc Nhiều
Danh Mục Truyện
Kiếm Hiệp
Tiên Hiệp
Tuổi Học Trò
Cổ Tích
Truyện Ngắn
Truyện Cười
Kinh Dị
Tiểu Thuyết
Ngôn Tình
Trinh Thám
Trung Hoa
Nghệ Thuật Sống
Phong Tục Việt Nam
Việc Làm
Kỹ Năng Sống
Khoa Học
Tùy Bút
English Stories
Danh Mục Tác Giả
Kim Dung
Nguyễn Nhật Ánh
Hoàng Thu Dung
Nguyễn Ngọc Tư
Quỳnh Dao
Hồ Biểu Chánh
Cổ Long
Ngọa Long Sinh
Ngã Cật Tây Hồng Thị
Aziz Nesin
Trần Thanh Vân
Sidney Sheldon
Arthur Conan Doyle
Truyện Tranh
Sách Nói
Danh Mục Sách Nói
Đọc truyện đêm khuya
Tiểu Thuyết
Lịch Sử
Tuổi Học Trò
Đắc Nhân Tâm
Giáo Dục
Hồi Ký
Kiếm Hiệp
Lịch Sử
Tùy Bút
Tập Truyện Ngắn
Giáo Dục
Trung Nghị
Thu Hiền
Bá Trung
Mạnh Linh
Bạch Lý
Hướng Dương
Dương Liễu
Ngô Hồng
Ngọc Hân
Phương Minh
Shep O’Neal
Thơ
Thơ Ngẫu Nhiên
Danh Mục Thơ
Danh Mục Tác Giả
Nguyễn Bính
Hồ Xuân Hương
TTKH
Trần Đăng Khoa
Phùng Quán
Xuân Diệu
Lưu Trọng Lư
Tố Hữu
Xuân Quỳnh
Nguyễn Khoa Điềm
Vũ Hoàng Chương
Hàn Mặc Tử
Huy Cận
Bùi Giáng
Hồ Dzếnh
Trần Quốc Hoàn
Bùi Chí Vinh
Lưu Quang Vũ
Bảo Cường
Nguyên Sa
Tế Hanh
Hữu Thỉnh
Thế Lữ
Hoàng Cầm
Đỗ Trung Quân
Chế Lan Viên
Lời Nhạc
Trịnh Công Sơn
Quốc Bảo
Phạm Duy
Anh Bằng
Võ Tá Hân
Hoàng Trọng
Trầm Tử Thiêng
Lương Bằng Quang
Song Ngọc
Hoàng Thi Thơ
Trần Thiện Thanh
Thái Thịnh
Phương Uyên
Danh Mục Ca Sĩ
Khánh Ly
Cẩm Ly
Hương Lan
Như Quỳnh
Đan Trường
Lam Trường
Đàm Vĩnh Hưng
Minh Tuyết
Tuấn Ngọc
Trường Vũ
Quang Dũng
Mỹ Tâm
Bảo Yến
Nirvana
Michael Learns to Rock
Michael Jackson
M2M
Madonna
Shakira
Spice Girls
The Beatles
Elvis Presley
Elton John
Led Zeppelin
Pink Floyd
Queen
Sưu Tầm
Toán Học
Tiếng Anh
Tin Học
Âm Nhạc
Lịch Sử
Non-Fiction
Download ebook?
Chat
Trong Gọng Kèm Lịch Sử
ePub
A4
A5
A6
Chương trước
Mục lục
Chương sau
Chương 19 -Con Đường Dẫn Đến Hiến Pháp
N
gày 28 tháng 7, tổng thống Johnson mở cuộc họp báo. Đúng hai ngày sau thì Bộ Tổng Tham Mưu yêu cầu đổ quân với số quân 193,300. Con số yêu cầu vượt quá con số tổng thống đã đồng ý hồi tháng 4 gần 70,000. Chẳng bao lâu sau, lời yêu cầu này lại được chấp thuận. Thế là đà đổ quân ào ạt như thác tích tụ từ tháng 2 không còn chuyển hướng được nữa. Kể từ lúc này, tại Hoa Thịnh Đốn, cuộc xung đột dữ dội giữa phe chủ trương ôn hòa và phe chủ trương trực tiếp can thiệp đã bắt đầu ngã ngũ. Trong cuộc xung đột ý kiến đó, những người ủng hộ chính sách "hòa hoãn, trung dung" và "từng bước thận trọng" ở Hoa Thịnh Đốn đã hoàn toàn rớt vào thế hạ phong.
Khi nhìn lại vấn đề lúc đó thì quả thật những quyết định đổ quân của Hoa Kỳ cũng không lấy gì làm khó hiểu. Vào tháng 6, Hoa Kỳ đã bắt đầu thất vọng. Họ đã đầu tư rất nhiều vào Việt Nam và vào rồi khi những khó khăn chính trị vừa mới được giải quyết thì những khó khăn khác lại bùng ra. Chánh phủ mới của những "Tướng Trẻ" lại xuất hiện. Đây là một chánh phủ của những người không có gì bảo đảm cả. Sau này, ông Bill Bundy đã nhận xét rằng: "Tình thế thật là đen tối và ảm đạm. Nếu vấn đề [Việt Nam] lúc này đơn thuần chỉ là vấn đề bảo vệ một đồng minh mà thôi, thì tôi cam đoan Hoa Kỳ sẽ rút lui vì cho rằng họ 'đã chịu đựng hết sức rồi.'" Tuy thế những cân nhắc về vấn đề chiến lược đã loại bỏ cách lựa chọn này. Về sau Phụ Tá Bộ Trưởng Quốc Phòng McNaughton có cho tôi biết rằng khi Hoa Kỳ quyết định can thiệp vào Việt Nam thì 90% của quyết định đó được đặt căn bản trên vấn đề chiến lược. Nếu quả thật 90% của quyết định can thiệp được đặt trên vấn đề chiến lược của Hoa Kỳ thì rõ ràng là chiến cuộc Việt Nam đã chuyển thành một vấn đề của riêng Hoa Kỳ.
Vào tháng 7, chánh phủ Sài Gòn đã đóng một vai trò gần như thụ động trong những biến động đổ quân lớn lao. Hoa Kỳ mang quân ồ ạt vào Việt Nam như thể vào chỗ không người. (Vào lúc sau này ông Dean Rusk nói với tôi: "Hễ chúng tôi muốn làm điều gì, chắc chắn chúng tôi sẽ làm được điều đó!"), và Việt Nam đã để Hoa Kỳ mặc nhiên dìu dắt không một lời phản kháng. Đến sau tháng 7 năm 1965 thì những cuộc đổ quân của Hoa Kỳ đã ồ ạt và nhanh chóng đến mức chẳng ai còn đủ thời giờ để đặt vấn đề hoặc suy nghĩ sâu xa gì thêm.
Cuộc biểu dương lực lượng của một cường quốc lớn nhất thế giới quả là một khung cảnh đặc biệt gây nhiều ấn tượng cho người mục kích. Cảnh tượng đổ quân đã khiến Việt Nam hoàn toàn vững tâm. Mới vài tuần trước đây thì cuộc tấn công phối hợp của Việt Cộng và quân đội chính qui Bắc Việt vào lúc giao mùa Xuân Hạ vẫn còn đe dọa. Nhưng giờ đây, trước ấn tượng của cuộc đổ quân, những lo âu đó bỗng nhiên tan biến. Một cảm giác tự tin mới mẻ khác thường thình lình bùng ra và rồi đất nước lại chuyển mình để đối phó với những khó khăn khi phải tiếp nhận cuộc đổ quân đó.
Những trại lính thiết lập bằng lều cho quân nhân Hoa Kỳ mọc ra khắp nơi chẳng khác gì những khu phố nhỏ. Xung quanh những khu trại là những người Việt Nam trong giới kinh doanh và tiểu thương cạnh tranh lẫn nhau lập những dịch vụ thương mãi và lợi dụng hàng ngàn cơ hội do tình hình đưa đến. Công trình xây cất bùng ra khắp nơi. Dường như Hoa Kỳ muốn làm tất cả cùng một lúc. -Nhà kho, trại, đường, cầu, bãi đáp trực thăng, hải cảng, phi trường. Họ muốn thay đổi cả bộ mặt Việt Nam. Các công ty thầu khoán Hoa Kỳ đến Việt Nam giữa lúc quân đội Hoa Kỳ đổ quân đã tuyển mộ một lúc cả hàng ngàn nhân công, thu hút hết tất cả năng lực của giới lao động. Xe cộ lũ lượt như thắt nút trên đường phố, đĩ điếm tràn ngập ở khắp mọi nơi. Phi cơ vận tải và phản lực cơ chiến đấu rầm rĩ đáp xuống phi trường với một nhịp độ đinh tai nhức óc.
Mâu thuẫn thay, nếu tất cả những hoạt động náo nhiệt đã làm phấn khởi toàn dân Sài Gòn thì chính những hành động này cũng là những hành động đã chuyển hướng nhìn của họ ra khỏi khung cảnh chiến cuộc. Ngoại trừ những tiếng phản lực tại phi trường Tân Sơn Nhất và những binh lính mang đồng phục xanh ngoài đường phố, không còn dấu hiệu nào khác có thể chứng tỏ rằng Việt Nam đang giữa lúc chiến tranh. Sài Gòn lúc này giống như một thành phố đang tràn ngập các vật dụng trợ cấp và đang mất phần chủ động. Những dự trình xây cất liên tục còn được tăng cường thêm bằng những chuyến hàng hóa ồ ạt, trong số có nhiều thứ mà người dân Sài Gòn chưa hề thấy qua bao giờ. Họ nhìn những kho hàng PX khổng lồ chứa đầy những vật liệu mà họ chưa hiểu cả cách dùng và rồi tự hỏi không hiểu đây là những quân đội thế nào mà lại có thể kéo theo những thứ xa hoa đến vậy? Dĩ nhiên người dân vẫn được nhắc nhở về chiến cuộc. -Bằng những bảng cáo phó đóng khung viền đen đăng tải thường xuyên trên báo chí và bằng những đám tang thỉnh thoảng lại diễn hành quanh co trên những nẻo đường lưu thông của phố thị. Nhưng chẳng hiểu bằng cách nào đó, người ta vẫn có cảm tưởng rằng chẳng có sự liên hệ nào giữa những cuộc đụng độ dữ dội ở nông thôn và những đời sống thịnh vượng tại thủ đô thành thị.
Trong khung cảnh đó, có lẽ chánh phủ Sài Gòn đã được hưởng lợi lộc nhiều nhất. Cả ông Thiệu lẫn ông Kỳ đều cảm thấy vững tâm ẩn sau tấm khiên chống đỡ của Hoa Kỳ. Khi nhìn thấy tương lai trước mặt, họ cảm thấy phấn khởi và vô cùng tự tin. Đây là lần đầu tiên họ cảm thấy chánh phủ của họ thật là vững chãi. Ông Thiệu và ông Kỳ nguyên là những nhân vật lãnh đaọ đứng trong một chính thể bấp bênh. Trong vòng chỉ mới hai năm chính thể này đã sáu lần thay đổi chính phủ. Thế mà giờ đây họ lại biến thành những người lãnh đạo đã giải tỏa được những khó khăn quân sự và có uy tín đối với quốc tế. Bỗng dưng họ trở nên có uy tín đối với quốc dân, bỗng dưng họ trở thành những người có thể nhìn thấy tương lai Việt Nam qua những cuộc viện trợ binh nhu của Hoa Kỳ.
Nhờ vào những thời gian rảnh tay hiện tại, khi các lực lượng quân sự của Việt Cộng đang bị đẩy lui, ông Thiệu và ông Kỳ bắt đầu bắt tay vào một chương trình tăng cường và cải tổ các lực lượng quân đội Việt Nam. Những viện trợ về khí cụ và tài chánh đã đưa đến việc thiết lập những trung tâm đào tạo khổng lồ tại Nha Trang và Vũng Tàu. Những trung tâm này đã tuyển mộ hàng ngàn người để huấn luyện. Quân đội Việt Nam bắt đầu tiến tới một quân số gần bằng quân số Bắc Việt.
Trong khi đó, Hoa Kỳ tự đảm nhận lấy tất cả các trách nhiệm điều hành trận chiến. Họ tuần tự đổ quân và phối trí các lực lượng, tấn công vào các lực lượng chính qui của Cộng Sản và dành cho quân đội Việt Nam nhiệm vụ bình định và xây dựng lại nông thôn. Trong nhiều trận đụng độ lớn, các lực lượng Hoa Kỳ đã cắt tỉa các lực lượng Việt Cộng, buộc đối phương phải chuyển đổi chiến lược và rút lui về quanh biên giới Cam Bốt và những vùng rừng già rậm rạp, hiểm trở. Tướng Westmoreland, tổng tư lệnh chiến trường Hoa Kỳ đã soạn thảo một chiến thuật gồm ba điểm "truy nã, tiểu trừ" rồi "quét sạch, giữ vững" và cuối cùng là "bình định nông thôn," nhằm mục đích dành cho quân đội Sài Gòn cơ hội thiết lập chánh quyền địa phương cho những khu vực an toàn.
Nếu đứng trên quan điểm chiến thuật mà luận thì gần như mọi hoạt động trong giai đoạn đầu do những vị tư lệnh cao cấp Hoa Kỳ chủ trương có thể được coi là chiến thắng. Họ đụng độ, gây thương vong và buộc địch quân phải rút lui về căn cứ. Tuy nhiên những thành công này vẫn chưa phải toàn diện. Thường thường, những đội quân chính qui của địch quân vẫn tránh né được những cuộc đụng độ và ngay cả khi phải thực sự đụng độ, những đội quân Bắc Việt vẫn có một khả năng lẩn tránh hữu hiệu. Hơn nữa, vì chính sách của Hoa Kỳ không cho phép quân đội Hoa Kỳ hoạt động ngoài ranh giới Việt Nam nên quân đội của tướng Westmoreland bị cấm không được phép truy kích vào những căn cứ của quân đội Bắc Việt tại Lào và Cam Bốt. Đây là những nơi các đội quân Bắc Việt có thể nghỉ ngơi, tụ họp lại và nhận thêm tăng cường từ Miền Bắc.
Vì vậy, tính cách lưu động và hỏa lực khổng lồ của quân đội Hoa Kỳ chưa bao giờ nắm phần quyết định chủ chốt. Vì quân đội Bắc Việt vẫn có thể vượt khỏi tầm phát hiện, vẫn có thể tản mác vào rừng rậm, vẫn còn có những căn cứ bất khả xâm phạm dọc theo biên giới nên chính họ -chứ không phải là những người Hoa Kỳ- mới là những người có khả năng điều khiển nhịp độ và cường độ của những cuộc chiến tranh. Đối với Cộng Sản thì cả bán đảo Đông Dương đều là chiến trận, trong khi các lực lượng bộ binh Hoa Kỳ chỉ được phép loay hoay trong phạm vi Miền Nam Việt Nam.
Nhược điểm lớn lao và tự tạo của Hoa Kỳ đã cho phép kẻ thù giữ thế tiên cơ chiến lược. Nhìn lại 20 năm vừa qua, những chiến lược gia Hoa Kỳ hiện thời cho rằng vào năm 1965 quân đội Hoa Kỳ không nên đổ hàng trăm ngàn quân vào Việt Nam để chiếm lấy chiến trường. Thay vào đó, theo ý những người như đại tá Harry Summers, tác giả quyển Chiến Lược Luận (On Strategy), một tác phẩm được xem như một công trình nghiên cứu chiến tranh thì những lực lượng Hoa Kỳ nên giới hạn tầm hoạt động của họ trong phạm vi giúp đỡ Việt Nam trước hết trong việc ổn định quân sự và rồi sau đó trong việc thiết lập một hàng rào hữu hiệu để cắt đứt những cuộc đổ quân và khí cụ từ Miền Bắc vào.
Những cách làm việc quyết đoán của Hoa Kỳ đã khiến các tư lệnh cao cấp Việt Nam vô cùng hoài nghi. Nhưng trên lãnh vực này, cũng hệt như trên mặt trận chính trị, người Việt Nam hoàn toàn chẳng làm gì cả, hoặc nói đúng hơn thì chẳng thể làm gì cả. Riêng về phía Việt Nam thì tướng Cao Văn Viên, Tổng Tham Mưu Trưởng, là một trong những người độc nhất ủng hộ việc chặt đứt đường mòn Hồ Chí Minh. Vốn là người có kinh nghiệm đã tham gia các hoạt động tại Lào trong chiến tranh Pháp, ông đã hiểu tường tận các lực lượng Cộng Sản có thể lợi dụng những căn cứ địa hữu hiệu đến mức độ nào. Sau cuộc chiến tôi hỏi tướng Viên tại sao những viên chức quân sự Việt Nam không đẩy mạnh quan điểm của họ với Hoa Kỳ? Câu trả lời của ông đã phản ảnh rõ rệt sự suy nghĩ của các tư lệnh Việt Nam lúc đó. Tướng Viên trả lời rằng: "Chúng tôi không đủ sức mạnh để có thể tự mình quét sạch các căn cứ địa và lời nói của chúng tôi dĩ nhiên chẳng hề có chút ảnh hưởng nào vào việc điều động các lực lượng Hoa Kỳ." Đã vậy, chúng tôi còn lệ thuộc nặng nề vào Hoa Kỳ trên mọi phương diện. Ý kiến của chúng tôi đối với Hoa Kỳ gần như không đáng kể."
Thật ra thì mặc dù cuộc chiến là cuộc chiến của chính chúng tôi và đất nước là đất nước của chính chúng tôi mà khi đất nước lâm vào vòng nguy hiểm thì chúng tôi chỉ được phép đóng một vai trò thụ động nhỏ nhoi đến nỗi tiếng nói của chúng tôi hoàn toàn vô hiệu lực. Dĩ nhiên, một trong những lý do khiến vấn đề này có thể xảy ra là do mặc cảm của chúng tôi với đồng minh. Một lý do khác nữa là do chúng tôi đã tin tưởng vào Hoa Kỳ một cách mù quáng. Lúc nào chúng tôi cũng cho rằng dù chánh sách của Hoa Kỳ có thế nào chăng nữa thì khi nhìn từ phương vị toàn cuộc, những kế hoạch thực thi nhất định cũng sẽ ăn khớp khít khao. Đối với chúng tôi thì Hoa Kỳ nắm giữ những tài nguyên và uy quyền to lớn đến mức họ có thể làm bất cứ điều gì họ muốn. Bất chấp mọi sự, chúng tôi tin rằng họ sẽ thành công.
Sự thật thì tuy chiến thuật của tướng Westmoreland có bị hoài nghi, nhưng chiến thuật đó vẫn mang lại chút ít thành công. Cứ mỗi khi bị buộc phải đụng trận, địch quân lại bị tổn thất nặng nề và bị buộc phải tháo lui. Diễn biến này cho phép chúng tôi có được những giây phút quý giá để tăng cường các lực lượng và mở rộng ảnh hưởng của chánh phủ Việt Nam vào những vùng ngoài tầm với trước đây. Tầm mức hiệu quả tuy không lớn lao nhưng thật là đều đặn. Và khi tình hình quân sự đã khả quan hơn thì tình hình chính trị cũng chuyển hướng khả quan theo. Đúng vào giữa lúc tình hình khả quan và đã có một vài thành công rõ rệt thì Tổng Thống Johnson quyết định mời các tướng Thiệu, Kỳ đến tham dự một cuộc họp thượng đỉnh ở Honolulu. Đây là cuộc họp đầu tiên giữa những vị lãnh đạo Hoa Kỳ và Việt Nam. Lúc đó các cơ quan ngôn luận và giới báo chí đã tỏ vẻ nghi ngờ thiện chí của chánh phủ Hoa Kỳ. Nhiều cơ quan ngôn luận Hoa Kỳ cho rằng cuộc họp thượng đỉnh chỉ là một ngón đòn của tổng thống Johnson nhằm đánh lạc hướng và khiến dân chúng ít chú tâm đến cuộc hội thảo sắp được truyền hình của Ủy Ban Ngoại Giao ở Thượng viện Hoa Kỳ. Ủy Ban Ngoại Giao nguyên là một ủy ban có tầm ảnh hưởng rất rộng lớn do Thượng Nghị Sĩ phản chiến William Fullbright lãnh đạo. Những thông báo về cuộc họp thượng đỉnh được chánh phủ Johnson đưa ra chỉ vẻn vẹn một tuần trước khi buổi hội thảo bắt đầu đã cho thấy đây là một sự ngẫu nhiên đáng ngờ. Nhưng dù là do động lực nào thúc đẩy đi chăng nữa thì đối với chánh quyền Sài Gòn và nhất là đối với hai ông Thiệu, Kỳ có lẽ thời điểm của cuộc họp thượng đỉnh chẳng thể đến vào một thời điểm nào khác tốt hơn được.
Vào tháng 2, năm 1966, ông Nguyễn Văn Thiệu và ông Nguyễn Cao Kỳ chỉ mới nắm quyền có 6 tháng. Trước sáu tháng này vẫn chưa ai biết rõ về họ. Họ nguyên là những lãnh đạo của nhóm Tướng Trẻ và là những người đã đóng góp một phần vào việc đẩy tướng Nguyễn Khánh ra khỏi chính trường. Rồi sau đó họ lại là người thừa hưởng chính quyền từ chính phủ dân sự của bác sĩ Phan Huy Quát. Mặc dù ông Thiệu và ông Kỳ đã có một số uy tín quân sự, nhưng họ vẫn chưa chứng tỏ được khả năng lãnh đạo chính trị. Vậy mà chỉ mới sau nửa năm nắm chính quyền, họ đã thành công đáng kể, nhất là trong việc củng cố vững mạnh quân đội và thiết lập những chương trình bình định nông thôn. Hơn nữa, vào lúc này tuy các đoàn thể chánh trị và tôn giáo vẫn chưa bỏ hẳn những ý định chống đối nhưng ít ra họ cũng không còn biểu tình ngoài đường phố hoặc tổ chức bạo động để chống chánh phủ. Đối với Việt Nam thì đây quả là một thành công đáng kể. Kết quả là sự nghiệp của ông Thiệu và ông Kỳ bỗng tiến sang một bước ngoặt mới. Họ là những tướng lãnh nhà binh đang trở thành những nhân vật lãnh đạo chính trị chánh thức. Bởi vậy, cuộc họp thượng đỉnh đối với họ thật sự là một biến cố quan trọng đặc biệt. Cuộc họp đã khiến hai ông Thiệu, Kỳ có cơ hội trực tiếp tìm hiểu ý muốn của Hoa Kỳ qua giới lãnh đạo cao nhất. Đây là một cơ hội hiếm hoi từ trước đến nay Việt Nam vẫn chưa bao giờ có được. Cuộc họp thượng đỉnh đã khiến cương vị của hai ông Thiệu, Kỳ trở nên vững vàng. Chính cuộc họp cũng đã góp phần tạo nên hình ảnh của họ như những nhân vật lãnh đạo của đất nước.
Dĩ nhiên, phản ứng của họ đối với biến chuyển này hoàn toàn khác biệt. Mặc dù từ trước đến nay, ông Thiệu và ông Kỳ vẫn là hai người thông minh và xuất sắc nhất trong nhóm các tướng trẻ, họ vẫn gần như hai nhân vật không có điểm gì chung. Vào năm 1966 thì ông Thiệu, người Nam, mới có 42 tuổi và ông Kỳ, người Bắc, mới có 35 tuổi. Họ đã không phải là bạn cùng học lại cũng chẳng phải là bạn thân thiết với nhau. Từ nhân cách, tính tình cho đến cách suy luận vấn đề, họ đều hoàn toàn khác biệt. Những người Việt Nam thường kháo nhau rằng: Nếu có thể bỏ hai ông Thiệu, Kỳ vào cái cối mà giã thì có lẽ chất hỗn hợp này sẽ hoàn hảo hơn tính tình riêng của hai người cộng lại rất nhiều.
Vì bị buộc phải đấu lưng hợp sức, chánh phủ của hai ông Thiệu, Kỳ và các tướng tá đồng nghiệp đã thiếu luật bầu cử mà lại cũng chẳng có hiến pháp. Trong chánh phủ thì ông Kỳ đóng một vai trò nổi bật. Ông là thủ tướng, người đứng đầu Ủy Ban Hành Pháp Trung Ương và là người điều hành công việc hàng ngày trong nước. Tuy vậy, quyền lực thật sự lại thuộc về một nhóm quân sự gọi là Ủy Ban Lãnh Đạo Quốc Gia do ông Thiệu làm chủ tịch.
Vốn là người trầm lặng và từng trải hơn ông Kỳ, ông Thiệu đã phục vụ lâu năm hơn và có nhiều kinh nghiệm chính trị hơn. Vì đã mục kích nhiều cuộc thay đổi chính phủ, ông Thiệu cảm thấy rõ ràng hơn ông Kỳ những nguy hiểm của một cương vị nổi bật quá sớm khi tình hình chưa được hoàn toàn ổn định. Ngược lại, ông Kỳ lại thiếu thận trọng. Ông không chút e dè khi thu hút tất cả những sự chú tâm về phía mình. Chẳng hạn như việc ông Kỳ đã đi làm bằng trực thăng, mặc dù chỉ sống cách Phủ Thủ Tướng có 3 ki-lô-mét. Mỗi sáng khi ông đến thì cả Phủ Thủ Tướng đều bị chấn động vì tiếng trực thăng. Đến nơi ông Kỳ lập tức nói chuyện ngay với bất kỳ nhà báo nào đang có mặt tại đó, không hề sửa soạn gì trước. Trong khi ông Kỳ điều hành chánh phủ và được đa số quần chúng chú tâm thì ông Thiệu lại vận động ở hậu trường, củng cố thực quyền và nỗ lực cố đem những ảnh hưởng của mình vào việc hoạch định chính sách. Việc liên minh giữa ông Thiệu và ông Kỳ đã hẳn chỉ là một việc liên minh tạm thời. Ngay từ lúc đầu, họ đã xem nhau như đối thủ và luôn luôn vận động để tranh đoạt ngôi thứ. Tuy vậy, khi tranh ngôi đoạt thứ, họ cũng ngấm ngầm đồng ý rằng ngày nào chiến cuộc còn khốc liệt thì ngày đó họ còn cần phải cùng nhau giữ vững chính phủ. Đối với cả hai nhân vật vừa mới bước chân vào cương vị lãnh đạo thì Honolulu là một biến cố trọng đại. Vào ngày nhận được giấy mời, họ đã huy động toàn thể chánh quyền để chuẩn bị cho cuộc họp. Bộ Tổng Tham Mưu được ủy nhiệm phân tích tình hình quân đội và liệt kê những nhu cầu cấp thiết cần viện trợ. Tướng Nguyễn Đức Thắng, Bộ Trưởng đặc trách xây dựng nông thôn, được lệnh thảo một bản báo cáo tường tận về những chương trình bình định nông thôn. Riêng tôi phải lao mình vào việc xếp đặt toàn thể chương trình. Khó khăn hơn nữa, tôi còn được ủy nhiệm thảo một bản diễn văn chánh thức để Thủ Tuớng Kỳ đọc tại hội nghị thượng đỉnh.
Trong một thời gian ngắn ngủi, và đang trong hoàn cảnh phải xếp đặt những việc cần phải làm khác thì việc soạn diễn văn cho ông Kỳ quả là một thử thách lớn lao. Tuy thế, tôi vẫn cho đây là một cơ hội. Lúc này, tôi đã hoàn toàn hòa mình vào làm việc với một chánh phủ quân nhân. Trong những tháng vừa qua, tôi đã nhận thấy ông Thiệu và ông Kỳ có lẽ là những người có thiện chí. Tuy có đố kỵ và theo đuổi những tham vọng cá nhân, họ vẫn chưa tệ đến nỗi quên cả chánh phủ. Hơn nữa, nhờ có Hoa Kỳ can thiệp, họ đang thành công rực rỡ. Lúc này, họ đang lợi dụng cơ hội. Nhất là những cơ hội để củng cố quân đội quốc gia.
Tuy nhiên, mặc dù đang có nhiều lợi điểm, chánh phủ vẫn thiếu một đường hướng chính trị rõ rệt. Họ vốn là những quân nhân chưa hề suy nghĩ sâu xa về các vấn đề chính trị hoặc xã hội. Nhưng theo tôi thấy thì họ cũng rất cởi mở và ít nhất là ở một mức độ nào đó, họ cũng là những người còn có thể sửa đổi được. Và về riêng phương diện này thì ông Kỳ có vẻ dễ dàng thay đổi hơn ông Thiệu. Thật sự thì tôi đã âm thầm bắt đầu làm những việc trong phạm vi khả năng để chuyển hướng chú ý của ông Kỳ vào những quan niệm cải cách xã hội, kinh tế và những vấn đề của một chánh phủ hợp hiến. Tôi đã cố xoay chuyển sự chú tâm của ông về những vấn đề liên quan đến hoài bão của bác sĩ Quát và hoài bão của những người trong nhóm chúng tôi trong suốt gần hai thập niên khi trước. Trong những bài diễn văn soạn thảo cho ông Kỳ, tôi đã nhấn mạnh những chủ đề như cố mang lại công bằng trong xã hội, cố tạo ra những cơ hội phát triển giáo dục, kinh tế, tự do tín ngưỡng và các quyền lợi bất khả xâm phạm của người dân. Tôi cũng đã mạnh dạn đưa ra vấn đề cần phải chuyển hướng chánh phủ để dẫn đến một chánh phủ dân chủ hợp hiến. Đứng vào cương vị của một người soạn thảo diễn văn, tôi đã cố không che đậy những sự thật ác nghiệt rằng chế độ Việt Nam lúc này là một chế độ chưa được gọi là dân chủ. Tôi đã cố không phủ nhận rằng cải cách đang ở một mức độ quá chậm và những căn bệnh quá khứ quả đã gần như nan y. Nhưng theo như một trong những lời viết của bài diễn văn thì tiền đề quan trọng hơn cả là: "[Chúng tôi đã] có một mục tiêu xứng đáng để tranh đấu không những chỉ để chống lại Cộng Sản mà còn để phát triển một quốc gia yêu chuộng tự do cá nhân và đang ở vào một tình trạng đang cần phải cải tiến."
Đối với tôi thì đây không phải chỉ là vấn đề ngôn từ mà chính là những mục tiêu thực thụ cần phải đạt được nếu Việt Nam muốn có những nỗ lực đoàn kết cần thiết để chống cự lại cuộc tàn sát của các kẻ thù hung hiểm giáo điều. Phần lớn ý kiến của tôi vẫn chưa được chuyển thành những chương trình có kế hoạch hẳn hòi, nhưng đây chẳng qua chỉ vì ông Thiệu và ông Kỳ cũng vừa mới bắt đầu chú tâm đến các vấn đề mà thôi.
Lạ lùng thay, ông Kỳ lại có vẻ hưởng ứng những cuộc thảo luận về vấn đề cải cách. Có lẽ ở một mức độ nào đó, ông đã bị những quan niệm dân chủ ảnh hưởng. Tầm mức ảnh hưởng có lẽ vừa đủ để ông có thể đề cập thẳng thắn và tự dấn thân dần vào việc. Mỗi lần ông đưa vấn đề ra trước công luận là mỗi bước ông xa rời cương vị độc đoán và tiến gần đến những mục tiêu dân chủ hơn. Những gì ông đưa ra trước công luận không phải là những điều có thể dễ dàng rút lại hoặc có thể dễ dàng xem thường.
Trong tình trạng vừa kể, tôi bắt đầu thảo bài diễn văn mà ông Kỳ sẽ đọc tại Honolulu. Mặc dù ông Kỳ rất cởi mở với những quan niệm cách mạng xã hội, cả tôi lẫn các cộng sự viên của tôi đều không rõ ông sẽ vui lòng tranh đấu đẩy mạnh việc thực thi những quan niệm đó đến mức độ nào với các tướng trẻ. Vả chăng nếu Việt Nam công khai hứa sẽ cải cách và công khai đưa ra một thời hạn nhất định với các nhà lãnh đạo Hoa Kỳ tại cuộc họp thượng đỉnh thì hẳn nhiên các biến chuyển về sau không dễ gì thay đổi được.
Vì trong tâm suy nghĩ như thế nên tôi đã thảo một bài diễn văn hết sức đầy đủ và thiết tha đưa vấn đề cải cách đi xa đến mức tột cùng cởi mở của ông Kỳ. Trong những vấn đề đưa ra, song song với vấn đề cần thiết phải đạt được chiến thắng trong chiến cuộc tôi cũng đề cập đến những lý tưởng xây dựng quốc gia, thiết lập hiến pháp và quay về với chánh phủ dân sự. Tôi đã hòa hợp rất khéo những điều tôi muốn nói và những điều ông Kỳ nghĩ là ông có thể sẽ theo. Bài diễn văn vừa đưa ra những khuynh hướng mạnh dạn của ông Kỳ, vừa nêu lên tầm mức cần thiết của những dự định đã được đưa ra. Trong khi đó tôi cũng tránh liên lạc với những người trong nhóm ông Thiệu, những người mà tôi biết sẽ quan niệm lệch lạc khi nhìn thấy những hoạt động của tôi vào lúc này.
Nỗ lực của tôi quả thật mong manh vô độ. Trước đây, ông Thiệu đã nhiều lần xem xét cẩn thận những bài diễn văn tôi soạn thảo cho ông Kỳ. Vốn là người thận trọng, ông Thiệu lúc nào cũng tránh những việc hứa hẹn. Trước đây, trong những bài diễn văn tôi soạn, ông đã không hài lòng với rất nhiều đoạn. Thường thường, phụ tá của ông gọi tôi để bàn luận nếu không về vấn đề này thì cũng về vấn đề khác. Họ nêu rõ cả những thay đổi và những đoạn cần phải cắt bỏ. Những lúc như vậy tôi thường tìm đến ông Kỳ, nhờ ông thảo luận lại với ông Thiệu để chúng tôi có thể giữ được những điểm chính. Đôi khi ông Kỳ chấp nhận, có lúc ông chối từ, và một khi ông Kỳ đã khước từ thì tôi đành phải nhượng bộ. Phần lớn những điều tôi đưa ra đều tùy thuộc vào những liên hệ phức tạp giữa ông Kỳ và ông Thiệu, vì thế kết quả thường rất khó đoán. Nhưng kết cục thì trong bài trình bày ở Honolulu, những vấn đề mấu chốt chẳng hạn như vấn đề kinh tế và vấn đề cần phải có một chánh phủ dân sự đã được giữ lại y nguyên.
Ngoài những bản diễn văn, tôi còn sửa soạn thêm một bản ghi chú và đã liệt kê tất cả những câu hỏi quan trọng mà tôi nghĩ ông Kỳ nên đưa ra khi nói chuyện với Tổng Thống Johnson. Tương tự như bản ghi chú tôi đã viết cho chuyến thăm viếng Bộ Trưởng McNamara trước đây, bản ghi chú tôi viết cho ông Kỳ lại nhấn mạnh một lần nữa vấn đề chúng tôi cần phải hiểu rõ những chiến lược trường kỳ cũng như phải hiểu rõ những vấn đề Hoa Kỳ cho là hệ trọng. Nói chung thì sau một tuần lễ tích cực chuẩn bị, tôi đã cảm thấy hài lòng và tự tin rằng những nỗ lực của chúng tôi sẽ giúp Việt Nam ứng đối trôi chảy trong cuộc họp sắp đến tại Honolulu. Tôi cũng hài lòng và hồi hộp vì trong cuộc hội thảo chung bàn luận về những diễn tiến của cuộc họp thượng đỉnh, tòa đại sứ Hoa Kỳ đã không làm áp lực gì mạnh với chúng tôi. Tôi đã cho cả hai người bạn thân tại tòa đại sứ là ông Edward Lansdale và vị cố vấn chính trị mới là ông Philip Habib rõ về nội dung của những bài diễn văn. Tuy cả hai đều rất hài lòng vì những hứa hẹn dự định dân chủ của chúng tôi, họ vẫn có vẻ chú tâm vào các chương trình bình định nông thôn. Họ khuyên rằng chúng tôi nên chuẩn bị kỹ lưỡng để đương đầu với các cơ quan báo chí quốc tế tại cuộc họp thượng đỉnh.
Giám đốc phòng thông tin Hoa Kỳ là ông Barry Zorthian đã bỏ ra rất nhiều thời giờ bàn luận với tôi về cách chuẩn bị trả lời những câu hỏi của các phóng viên báo chí. Ông nhấn mạnh sự bạo dạn của họ khi săn tin và nhắc nhở chúng tôi phải chuẩn bị. Vấn đề phải hội kiến với toàn thể các cơ quan báo chí tại cuộc họp thượng đỉnh là một trong những điều làm tôi hồi hộp. Ngoài những trường hợp tiếp xúc cá nhân với riêng từng ký giả, từ trước tới nay tôi chưa hề phải đương đầu với các ký giả của Hoa Kỳ. Tôi vẫn chưa tin tưởng hoàn toàn vào khả năng Anh Ngữ của mình. Khả năng Anh Ngữ của ông Kỳ lại còn tệ hơn. Tôi đã nhắc đi nhắc lại ông Kỳ rằng nếu bất cứ khi nào gặp khó khăn, ông nên hỏi để tôi có thể nhảy vào sửa chữa hoặc bổ sung chi tiết. Tuy thế, tôi biết ông Kỳ không hề sợ hãi. Nhất là đối với phóng viên báo chí thì lúc nào ông cũng phát biểu thẳng thừng.
Vào ngày 6 tháng 2, chúng tôi rời sân bay Tân Sơn Nhất trên chiếc máy bay đặc biệt của Tổng Thống Johnson. Tất cả chúng tôi đều cùng nửa hồi hộp, nửa hy vọng. Cùng đi với chúng tôi là đại sứ Henry Cabot Lodge và những nhân viên của tòa đại sứ. Chúng tôi cho đây là một cuộc hội kiến lịch sử. Vì là người mới bắt tay vào việc, tôi rất thán phục cách dự liệu kỹ lưỡng của Hoa Kỳ. Tôi còn hồi hộp hơn khi xem bản liệt kê danh sách những nhân vật trong phái đoàn Hoa Kỳ. Ngoài Tổng Thống Johnson, danh sách bao gồm cả Ngoại Trưởng Rusk, Bộ Trưởng McNamara, các ông Rostow, Harriman, Wheeler và những nhân vật lừng danh khác. Đây là một cuộc hội tụ của gần hết những người mà về sau ký giả David Halberstam đã gọi là: Những nhân vật kiệt xuất và lừng danh nhất (The Best and The Brightest). Khi đọc qua tên tuổi các đại biểu Hoa Kỳ, bạn thân của tôi là Ngoại Trưởng Trần văn Đỗ đã nửa đùa nửa thật nói rằng: "Tụi mình là những đám người tí hon đang phiêu lưu vào vùng đất Guilliver huyền thoại đây!"
Ấn tượng của chúng tôi còn mạnh hơn khi máy bay đáp xuống phi trường quân sự ở Honolulu. Ngay giữa con đường trải nhựa mênh mông là một khán đài chào mừng sừng sững cắm đầy quốc kỳ. Quang cảnh phía hông cho thấy vị Tổng Thống Hoa Kỳ khổ người to lớn vượt hẳn lên khỏi hai vị tướng Việt Nam đứng cạnh trông lồ lộ chẳng khác nào biểu tượng rõ rệt về vai trò thực thụ của hai chánh phủ. Nhưng nếu khổ người của tổng thống Johnson vượt khổ bao nhiêu thì diễn văn chào mừng của ông lại thân mật và hiền hòa bấy nhiêu. Chẳng những ông nói về "chiến thắng chống xâm lược" và ông còn nói đến "khắc phục đói kém, bệnh hoạn và thất vọng." Ông đề cập đến vấn đề "y tế, giáo dục, nông nghiệp và kinh tế," và về "một cuộc sống tốt đẹp hơn cho mọi người dân." Hẳn nhiên đây là một bài diễn văn chính trị, nhưng những cảm quan diễn tả dường như phát ra tự đáy lòng và lời lẽ bài diễn văn đã khích lệ tất cả những người mang tâm hoài bão việc tạo dựng một tương lai tốt đẹp cho Việt Nam sau chiến cuộc.
Thực sự thì vào lúc này tôi chẳng có bao nhiêu thời giờ để suy nghĩ sâu thêm. Vì là người giữ vai trò phối hợp phái đoàn, tôi phải xem xét kỹ lưỡng mọi vấn đề đâu vào đấy cho phiên họp ngày hôm sau. Trời mới vừa chớm tối tôi đã nhập bọn cùng những đồng nghiệp người Hoa Kỳ để cùng soạn thảo một bản thông cáo chung nhằm đưa ra khi cuộc họp thượng đỉnh kết thúc vào ngày hôm sau. Bất cứ ai đã là người tham gia vào những cuộc họp có tính chất quốc tế cũng đều biết việc soạn thảo là một công việc đã đòi hỏi rất nhiều công phu và lại chỉ mang lại những kết quả thật nhỏ nhoi. Tuy thế đây là việc những người tổ chức bắt buộc phải làm. Nhất là vì bản thông cáo phải được soạn ngay trước khi buổi họp bắt đầu, nhưng vì trước đây tôi chưa bao giờ có dịp tham gia những công việc soạn thảo tương tự nên lúc này chẳng những tôi đã lao hết mình vào cuộc với tất cả nhiệt huyết mà còn thực sự tin tưởng rằng tôi quả đang đóng góp vào việc tạo dựng lịch sử.
Không có điều gì trong bản tin có thể khiến tôi suy nghĩ khác hơn. Khi việc hoàn tất thì một bản thảo được gọi là bản tuyên ngôn Honolulu đã bao gồm rất nhiều điều tổng quát. Trong bản tuyên ngôn Hoa Kỳ và Việt Nam cùng cam kết "sẽ bảo vệ Việt Nam chống xâm lược, tranh đấu cải cách xã hội, tạo dựng một chánh phủ tự do, độc lập và xây dựng hòa bình." Đối với Việt Nam thì vấn đề khó nhất là vấn đề phải cam kết "soạn thảo một bản hiến pháp dân chủ vào những tháng sắp tới, đưa ra cho dân chúng Việt Nam thảo luận và bổ túc rồi hợp thức hóa bản hiến pháp đó bằng phương pháp bỏ phiếu kín và thiết lập chánh phủ dân chủ qua thể thức bầu cử." Việc phải mang bản soạn thảo về cho ông Thiệu và ông Kỳ ký kết đối với tôi quả là một việc ngại ngùng. Những phát biểu hỗn hợp Mỹ-Việt về việc bảo vệ đất nước thoát khỏi ách xâm lược và ngay cả những đề nghị cải cách xã hội có lẽ cũng chẳng gặp khó khăn gì, nhưng đòi hỏi ông Thiệu và ông Kỳ phải công khai hứa hẹn soạn thảo hiến pháp và chuẩn bị bầu cử lại là một vấn đề hoàn toàn khác hẳn.
Tuy thế thật là ngạc nhiên và sung sướng cho tôi, việc lại diễn ra khác hẳn như tôi dự liệu. Cả ông Thiệu lẫn ông Kỳ đều chẳng để ý gì đến nội dung của bản soạn thảo mặc dù lời lẽ các điều kiện trong bản soạn thảo thật là chi tiết. Họ đã quá hân hoan vì các biến cố trong ngày. Việc họ hứa rõ sẽ cải tổ trên giấy trắng mực đen trong một tài liệu quốc tế mà chính họ không thể nào từ bỏ được đã khiến tôi cảm thấy vui mừng vô hạn.
Cuộc họp chánh thức mở màn vào ngày kế tiếp, trong một hội trường tại nơi đặt bản doanh Tư Lệnh Thái Bình Dương. Hai phái đoàn tản ra quanh một chiếc bàn bầu dục khổng lồ, nhưng đối với những người trong phòng thì rõ ràng chỉ có một nhân vật đáng kể. Tổng thống Johnson hoàn toàn chế ngự buổi họp. Phong thái lãnh đạo rõ rệt của ông nổi bật qua khổ người to lớn và sự chú tâm nhất loạt của các cố vấn của ông. Mỗi lần ông nghiêng người về phía đối diện để nhấn mạnh những điều muốn nói là mỗi lần ông tạo ra những ấn tượng khó quên cho những đại biểu Việt Nam.
Tổng thống Johnson chú tâm lắng nghe bài diễn văn của ông Kỳ và rồi lại chú tâm nghe tướng Thắng trình bày các chương trình bình định nông thôn. Thỉnh thoảng ông lại ngắt lời tướng Thắng để đưa ra câu hỏi hoặc ra lệnh cho những phụ tá ngồi phía sau. Những lời ông nghị luận vừa mạch lạc lại vừa đi rất sát vấn đề. Đôi khi cũng có vài câu văn vẻ. Có lúc ông ngỏ ý "muốn xem Bộ Da Chồn treo trên tường." Đây là một thành ngữ mà cả phái đoàn đều mù mờ. Lúc đó, vì coi tôi như một chuyên viên Anh ngữ nên nhiều người đã quay lại hỏi tôi rằng: "Ông ấy nói cái gì thế?"
Nhưng việc Tổng Thống Johnson dùng chữ thế nào để diễn tả tư tưởng không phải là vấn đề chính. Đại ý toàn thể bản thông cáo đã được trình bày quá rõ ràng. Ông muốn nhìn thấy những kết quả thực tiễn từ cả hai phiá Mỹ Việt. Qua thái độ quả quyết của tổng thống Johnson chẳng ai có thể nhầm lẫn những điều ông mong mỏi. Về phía phái đoàn Việt Nam thì ông Thiệu có lẽ vì lý do gì riêng muốn ông Kỳ đóng vai trò lãnh đạo nên đã phát biểu rất ít. Ông Rusk cũng ngồi yên lặng với khuôn mặt nghiêm trang như Phật trong khi Tổng Trưởng McNamara vẫn hí hoáy ghi chép trên những mảnh giấy vàng như bao giờ.
Khi chúng tôi nghỉ trưa, tất cả đều cảm thấy mình đã bắt đầu một hội nghị hết sức hứng khởi. Chiều đó, lúc hai phái đoàn chia thành từng nhóm để tiến hành công việc thì ông Thiệu và ông Kỳ đến họp riêng cùng tổng thống Johnson.
Theo tôi nhận định thì dường như vị tổng thống Hoa Kỳ vừa mới tái đắc cử và đang đứng trên đỉnh cao uy quyền gần như chẳng có điểm nào giống với hai vị tướng lãnh Việt Nam -ngoại trừ một điểm hiển nhiên là cả ba đều cùng cam kết chống lại một kẻ thù chung.- Tuy thế, những phù hợp cá nhân đã khiến cả ba đều mỉm cười tươi vui, mãn nguyện sau suốt hai giờ gặp gỡ. Những cử chỉ thật tâm và thân thiện của tổng thống Johnson đã hoàn toàn thuyết phục được hai nhân vật lãnh đạo của Việt Nam. Ông đã gây được thiện cảm của cả ông Thiệu lẫn ông Kỳ. Có lúc tổng thống Johnson và ông Kỳ cùng châu đầu bên những tách cà phê như thể họ là đôi bạn thân đã từ lâu.
Mặc dầu các vấn đề tại cuộc họp vẫn chưa được duyệt lại kỹ lưỡng, tất cả chúng tôi đều cho đây là một cuộc họp thành công. Buổi họp ở Honolulu đã cho Tổng Thống Johnson cơ hội gặp gỡ các tư lệnh quân sự cùng các cố vấn cao cấp của ông và nhấn mạnh với họ về tầm quan trọng của vấn đề bình định nông thôn. Ông đã có dịp gặp gỡ và thẩm định các tướng tá lãnh đạo Việt Nam. Ông còn được họ hứa sẽ soạn thảo hiến pháp và tiến hành bầu cử.
Có lẽ yếu tố quan trọng nhất là cuộc họp Honolulu đã giúp tổng thống Johnson tránh được những lời chỉ trích rằng ông chỉ dựa vào bạo lực quân sự để giải quyết vấn đề. Để trả lời cho những chỉ trích của giới phản chiến lên án ông đã dựa vào bạo lực quân sự để giải quyết vấn đề chính trị, tổng thống Johnson đã nhấn mạnh y tế, giáo dục, sách vở, phân bón và điện hóa những vùng thôn quê. Cuộc thảo luận đã khẳng định những cam kết xây dựng nông thôn và đã nhận định lại rằng: Nếu không có những chương trình hữu hiệu để dân chúng có thể ủng hộ thì dù có tất cả sức mạnh uy quyền trên thế giới cũng chẳng thể nào thành công.
Cả ông Thiệu lẫn ông Kỳ đều hân hoan tột độ. Họ đã được chánh quyền Hoa Kỳ tận lực ủng hộ. Hoa Kỳ chẳng những chỉ giúp đỡ họ bằng viện trợ quân sự mà còn giúp đỡ cả đến việc củng cố chính phủ của Việt Nam. Ông Kỳ đã vui mừng vượt mức. Ông đã làm bạn được với tổng thống Hoa Kỳ và được giới báo chí triệt để chú ý. Nỗi vui mừng dào dạt đến nỗi ông Kỳ chẳng còn để ý đến chuyện đặt câu hỏi với những đề tài tôi đã soạn thảo trong bản ghi chú. Khi tôi hỏi ông về các vấn đề trong bản ghi chú thì ông gạt phắt đi rằng: "Ông xem đấy, lão già ấy đã thật thà quá mức rồi, làm sao mà mình còn nghi ngờ gì lão ta được nữa?"
Mặc dù ông Kỳ chưa hỏi đến những vấn đề tôi đã liệt kê, tôi cũng vẫn cảm thấy có đủ lý do để hài lòng. Không những bài diễn văn đưa ra đã buộc chặt chánh phủ của hai ông Thiệu, Kỳ phải giữ lời hứa thực hiện những cải cách xã hội như tôi mong mỏi mà cả tổng thống Johnson cũng đặc biệt chú tâm đến nội dung của bản trình bày. Khi gặp riêng ông Kỳ, ông đã ngỏ lời hỏi ông Kỳ cho biết rõ chi tiết hơn về "cuộc cách mạng xã hội" mà ông Kỳ đã đề cập đến trong bài diễn văn. Vì bản diễn văn trùng đúng với ý tổng thống Johnson, ông Kỳ còn nhận ra rằng thực sự chính tôi là nhân vật chính đã giúp ông nâng cao uy tín với vị tổng thống Hoa Kỳ. Từ nay trở đi, giữa những nhóm cộng sự của ông Kỳ, tôi không còn là người ngoài nữa. Những biến chuyển khả quan đã khiến tôi cảm thấy lâng lâng trên đường trở lại. Lúc này tôi không còn phải bận tâm với những nỗi lo lúc nào cũng canh cánh về việc chánh phủ Việt Nam có thể lại xáo trộn như những năm 1963-1964 trước đây. Sau các cơn biến động của những năm về trước, giờ đây tôi đã tình cờ bước vào một khúc giao lưu của lịch sử. Đây là một thời điểm hết sức đặc biệt vì mục tiêu của Hoa Kỳ và những tiến trình của một nền dân chủ đang được cả hai dân tộc ủng hộ. Cuối cùng các biến cố đã chuyển theo khuynh hướng qui tụ và ổn định thay vì suy sụp và tan rã.
Chương trước
Mục lục
Chương sau
Trong Gọng Kèm Lịch Sử
Bùi Diễm
Trong Gọng Kèm Lịch Sử - Bùi Diễm
https://isach.info/story.php?story=trong_gong_kem_lich_su__bui_diem