Chương 12 -Sự Lựa Chọn Của Cựu Hoàng
ào đầu năm 1954, mặc dầu cuộc chiến Điện Biên Phủ đang trên đà bất lợi cho Pháp, vẫn chưa ai suy nghĩ gì đến vấn đề tan rã quân sự của Pháp (thật sự thì chưa hề có sự tan rã quân sự nào cả, kể cả sau khi Pháp thất trận ở Điện Biên Phủ.) Tuy vậy, những hy vọng thành công bằng đàm phán giữa Pháp và chánh phủ Bảo Đại đã thật sự tiêu tan. Dư luận đã bàn bạc về việc triệu tập một Hội Nghị Quốc Tế tại Geneva để thảo luận về vấn đề Đông Dương. Một hội nghị như vậy sẽ chánh thức nhìn nhận rằng tình hình đang đòi hỏi những giải pháp khác tổng quát hơn. Chẳng những vậy, Hội Nghị còn nhìn nhận hiện trạng Việt Nam đã trở thành một vấn đề phức tạp vượt hẳn ra ngoài phạm vi của những cuộc đàm phán giữa Pháp với ông Bảo Đại hoặc Pháp và Việt Minh.
Khi hội nghị Geneva được chánh thức công bố vào tháng 2, chúng tôi không biết nên phản ứng ra sao. Một mặt thì kiến thức ít ỏi về chánh trị quốc tế đã khiến chúng tôi cảm thấy khó chịu khi phải đương đầu với một diễn đàn lớn rộng. Mặt khác, Hội Nghị Geneva sẽ cho chúng tôi một cơ hội tốt để thoát khỏi vòng kềm tỏa của Pháp. Kinh nghiệm điều đình vào năm trước cho thấy đàm phán với Pháp là một việc đầy thất vọng và chán nản. Giai đoạn vừa qua là một giai đoạn thập phần quan trọng và theo chủ quan của chúng tôi thì Pháp đã bỏ lỡ rất nhiều cơ hội. Nếu chấp nhận đàm phán tại Hội Nghị Geneva, chúng tôi sẽ là những thành viên chánh thức. Sau khi giải pháp Bảo Đại thất bại, hội nghị Geneva có thể sẽ cho chúng tôi một cơ hội khác. Chúng tôi có thể có cơ hội để tạo được một chánh phủ quốc gia được cả quốc tế công nhận.
Vì suy nghĩ như tế nên chúng tôi chấp thuận tham gia đàm phán ở Geneva. Cuộc đàm phán lần này ở Geneva đã đưa vấn đề Việt Nam vào trường chánh trị quốc tế nên bản thỏa hiệp mới giữa chúng tôi và Pháp bỗng trở thành quan trọng. Sau khi Pháp và Việt Nam đã đồng ý thỏa thuận tất cả những chi tiết về vấn đề độc lập thì ông Bảo Đại trở thành quốc trưởng chánh thức đứng đầu chánh phủ. Chúng tôi đến đàm phán tại Geneva cũng với tư cách này.
Vì là quốc trưởng, ông Bảo Đại không tự mình đứng ra điều đình. Ông chọn ông Nguyễn Quốc Định, lúc bấy giờ đang là Ngoại Trưởng và đã từng là giáo sư dạy luật pháp quốc tế ở đại học Ba Lê làm trưởng phái đoàn. Ông Bảo Đại thiết lập căn cứ ở thành phố Evian, một thành phố gần biên giới Pháp. Vì đây là một thành phố cũng gần nơi đàm phán, ông có thể vừa quan sát kỹ lưỡng các thủ tục từ lúc ban đầu lại vừa có thể đồng thời gặp gỡ các đại biểu của nhiều quốc gia. Một trong những nhân vật nổi bật mà ông Bảo Đại đã tiếp xúc tại đây là tướng Bedell Smith, đại biểu của Hoa Kỳ. Tuy từ trước tới nay ông Bảo Đại vẫn chọn các thủ tướng theo từng giai đoạn, lần này chánh phủ mới phải được thiết lập trên một căn bản khác hẳn lúc trước. Lúc này Việt Nam đang cần một chánh phủ quốc gia thực thụ, không những chỉ để điều hành những công việc ở trong nước mà còn để chánh thức hoạt động trong môi trường quốc tế. Dù là bằng cách này hay cách khác thì sau Hội Nghị Geneva Việt Nam cũng phải bước vào một giai đoạn chính trị hoàn toàn mới mẻ.
Vào tháng 7, ông Bảo Đại rời Evian và trở về Cannes, một thành phố ở phía Nam nước Pháp. Theo lời yêu cầu của bác sĩ Quát, tôi cũng theo cựu hoàng về đó để có thể cùng ông thảo luận những vấn đề liên quan đến chánh phủ sau hội nghị. Đương nhiên ông Bảo Đại đã biết rất rõ dự định của tôi về việc vận động cho Bác Sĩ Quát. Ông Quát đã hai lần làm Bộ Trưởng Quốc Phòng và đã tiếp xúc nhiều với các giới Hoa Kỳ. Uy tín của bác sĩ Quát còn quan trọng hơn nữa. Vì là một nhân vật quốc gia có tiếng, ông có thể cùng làm việc với tất cả các phần tử quốc gia nằm trong nhiều nhóm khác biệt để cùng lập một chánh phủ có tính cách đại diện thực thụ. Trong thâm tâm tôi cho rằng bác sĩ Quát là một người xứng đáng có thể làm Thủ Tướng được và tôi nghĩ rằng tôi có nhiều phần có thể thuyết phục được ông Bảo Đại.
Đầu tiên cụ Trần Văn Đỗ cùng đến Cannes để vận động với tôi. Cụ Đỗ vốn là một người hòa nhã và vô cùng kiên nhẫn. Trong giai đoạn đàm phán giữa Việt Nam và Pháp trước đây, lúc tôi và đại tá Kim thương thảo việc đàm phán quân sự thì cụ Đỗ chính là người đã tham gia các cuộc đàm phán chính trị với Pháp. Chỉ nội nói riêng về tính tình, cụ Đỗ cũng đã kiên nhẫn gấp bội tôi. Trong các cuộc đàm phán cụ đã nhẫn nại chịu đựng việc Pháp dùng dằng trả giá về phương diện chánh trị để có thể giải quyết vấn đề một cách ôn hòa. Lần này cụ Đỗ đến Cannes để giúp sức và cho tôi thêm ý kiến về việc thuyết phục ông Bảo Đại.
Một hôm, khi cụ Đỗ và tôi đang cùng ăn trưa, chúng tôi bỗng nhìn thấy một người Việt Nam nhỏ thó bước vào quán ăn. Cụ Đỗ kéo tay áo tôi, nói nhỏ: "Anh coi kìa, ông Ngô Đình Luyện kìa. Không biết anh ta làm gì ở đây vậy?" Ông Luyện nguyên là em út của ông Ngô Đình Diệm và là người tôi chưa hề gặp gỡ bao giờ. Việc ông Luyện hiện diện ở Cannes vào lúc này đã hẳn không phải là việc tình cờ. Trong khi tôi ngồi tại bàn chờ đợi thì cụ Đỗ bước lại nói chuyện cùng ông Luyện và sau đó quay lại giới thiệu hai chúng tôi với nhau. Ông Luyện đến Cannes hiển nhiên là để cố gắng tìm hiểu các kế hoạch của ông Bảo Đại và nếu có thể thì thuyết phục ông Bảo Đại đề cử ông Diệm làm thủ tướng cho chánh phủ kế tiếp.
Tôi bắt đầu gặp ông Luyện vào hai tuần lễ sau đó. Tuy chúng tôi vẫn thường xuyên đàm luận, cả hai đều không hề đề cập đến vấn đề tranh đua giữa ông Diệm và bác sĩ Quát. Tất nhiên trong thâm tâm tôi vẫn ủng hộ bác sĩ Quát. Nhưng nếu tôi và ông Luyện chỉ tranh cãi về vấn đề này thì cả hai đều chẳng được lợi ích gì. Do đó, thay vì tranh luận về ông Diệm và ông Quát, chúng tôi dành tất cả thời giờ bàn bạc kế hoạch đoàn kết tất cả các phần tử quốc gia để cùng chống cự với cộng sản Việt Minh. Tôi đã thực sự ấp ủ ý định này kể từ những ngày còn ở Phát Diệm. Bởi vậy, tôi mở đầu câu chuyện với ông Luyện bằng cách đưa ra ý kiến đã từ lâu ấp ủ: Thật ra, chúng ta cần có một sự đoàn kết giữa các phần tử quốc gia. Chúng ta phải cùng nhau thỏa thuận, ít nhất là về những vấn đề cơ bản trong những dự định cải cách về xã hội và kinh tế. Nếu không có một chánh phủ quốc gia liên hiệp, chúng ta sẽ không đủ sức chống lại kẻ thù chung. Vấn đề quan trọng nhất đối với tôi là vấn đề đoàn kết.
Chẳng bao lâu sau tôi biết rằng ý kiến của ông Luyện hoàn toàn khác biệt. Lần đầu tiên, khi tôi mang vấn đề liên hiệp ra bàn bạc thì ông có vẻ thờ ơ. Đối với ông, nếu nói về những người quốc gia khác mà ông không hạ thấp phẩm giá của họ quả là việc khó khăn. Ông gọi họ là "Ce sont des intellectuels à la noix," "Những người trí thức vô dụng." Thái độ của ông Luyện thật là cao ngạo. Dưới mắt ông ngoại trừ gia đình cao quí của nhà Ngô ra thì tất cả mọi người khác đều tầm thường và đáng khinh miệt. Đây là một cá tính mà sau này tôi có dịp biết rõ rằng ông Luyện, ông Diệm và ông Nhu đều có cả.
Nhưng bất kể ông Luyện suy nghĩ thế nào, vấn đề phải đoàn kết các thành phần Quốc Gia là một vấn đề tôi nhất định theo đuổi. Tôi đã mục kích quá đủ để hiểu rõ Việt Minh là những người đối lập khiếp khủng và tàn khốc đến độ nào. Vì đã tận mắt chứng kiến cả thủ đoạn của ông Hồ và Võ Nguyên Giáp lẫn những cách tổ chức khéo léo của họ, tôi chẳng còn nghi ngờ về khả năng, tinh thần phục vụ sức mạnh và sự tàn ác của Việt Minh. Tôi cũng đã thấy rõ sự ủng hộ của dân chúng đối với Việt Minh ở các vùng thôn quê nơi họ đã đánh đuổi Pháp ròng rã 8 năm vừa qua. Hơn nữa, tôi còn rõ cả nhược điểm của những người quốc gia khi họ bị coi là những người hợp tác với thực dân, trong khi Việt Minh lại được cho là những người hoàn toàn yêu nước đang hoạt động để chống ngoại xâm. Đối với tôi thì tổng kết tất cả các yếu tố cho thấy bất kể kết cục của hội nghị Geneva ngã ngũ ra sao thì cơ hội chống chỏi trường kỳ với Cộng Sản của chúng tôi vẫn ở cương vị bất lợi. Chỉ có một chính phủ liên hiệp, kêu gọi được sự ủng hộ từ mọi tầng lớp dân chúng mới có thể thành công. Bất đồng ý kiến giữa những người quốc gia là một nhược điểm lớn lao ảnh hưởng đến vấn đề sinh tồn cuả tất cả.
Đây là những vấn đề mà bất cứ lúc nào có dịp tôi cũng cố mang ra bàn luận cùng ông Luyện. Dần dà ông Luyện mềm mỏng hơn. Khi đến giai đoạn chót của khoảng thời gian tôi ở đó thì chúng tôi đã cùng đồng ý về một vài vấn đề. Mặc dầu giữa hai chúng tôi vẫn chưa ai đề cập đến vấn đề người nào sẽ là Thủ Tướng, cả hai đều đã đồng ý rằng việc thiết lập chánh phủ đoàn kết quả là vấn đề cần thiết. Chúng tôi cũng đã đồng ý về những nguyên tắc cơ bản của một chương trình xã hội và kinh tế mà chính phủ đoàn kết tương lai cần phải thực hiện. Trước khi tôi rời Pháp về Việt Nam, ông Luyện có đưa cho tôi một bì thơ niêm phong về cho ông Diệm. Bì thơ này, nếu tôi không lầm thì là để nói rõ với ông Diệm về những vấn đề hai chúng tôi đã cùng thảo luận.
Trong khi chúng tôi bàn luận thì cả tôi lẫn ông Luyện đều đã có tiếp xúc với ông Bảo Đại. Tôi không hề biết ông Luyện thuyết phục ông Bảo Đại ra sao, nhưng có một điều tôi biết rõ là ông Luyện và ông Bảo Đại là bạn học cũ. Hơn nữa, cả hai có vẻ rất hợp nhau.
Riêng phần tôi thì những câu chuyện giữa tôi và ông Bảo Đại rất đơn giản và ôn hòa. Vốn tính kín đáo do cả từ tính nết bẩm sinh lẫn môi trường dạy dỗ, tôi không đi thẳng vào vấn đề và không hề nói rõ tôi ủng hộ Bác sĩ Quát. Hơn nữa, tôi đã biết sơ qua về cách suy nghĩ của ông Bảo Đại. Tôi biết ông là người né tránh tài tình những cách đặt vấn đề trực tiếp. Vì vậy, thay vì đặt vấn đề, tôi cố tìm cách trình bày cho ông Bảo Đại một cách gián tiếp. Chúng tôi nói chuyện chung chung về tình hình Việt Nam sau hội nghị Geneva và bàn bạc liệu xem ai sẽ là người lãnh đạo tốt nhất. "Theo như ngài thấy thì ông Diệm là người thế nào?" Tôi hỏi.
Ông Bảo Đại trả lời, "À, ông Diệm cũng có thể là người lãnh đạo. Anh thấy ông Diệm ra sao? Và theo anh thì ông Diệm có được Hoa Kỳ ủng hộ không?"
Tôi đưa đẩy: "Tại sao chúng ta không thử tìm hiểu thêm từ Hoa Kỳ?"
Ông Bảo Đại đáp lời: "Có chứ, tôi sẽ làm việc đó, tôi đang làm. Ông có thể cố gắng tìm cách cho tôi biết rõ họ đang suy nghĩ thế nào chăng?"
Những cuộc bàn luận của chúng tôi đại loại thường là như vậy. -Dò dẫm, gián tiếp. Chỉ mãi đến sau khi ông Bảo Đại đã chọn ông Ngô Đình Diệm làm thủ tướng tôi mới thực sự trực tiếp đương đầu cùng ông. Nhưng cuộc tranh cãi lại không phải về vấn đề chọn lựa. Tuy rất thất vọng vì sự chọn lựa của ông Bảo Đại, tôi vẫn chưa hề có bất cứ thành kiến nào về ông Diệm. Hơn nữa, tôi cảm thấy một phần hài lòng vì đã đồng ý được với ông Luyện về một vài điều quan trọng trong vấn đề thành lập một chánh phủ đoàn kết. Lúc đó, việc ông Bảo Đại chọn ông Diệm làm Thủ Tướng chỉ có nghĩa là những người còn lại như chúng tôi sẽ phải cố gắng hơn mới có thể thực hiện được những điều ấp ủ. Bản thân tôi, cũng như bạn bè và những phần tử quốc gia khác đều không hề có chút nghi ngờ gì về chuyện chúng tôi sẽ hợp tác với chánh phủ nếu không bằng cách này thì cũng bằng cách khác.
Chuyện tranh luận giữa tôi và ông Bảo Đại là về một vấn đề khác hẳn. Sau khi ông Bảo Đại đã chọn Thủ Tướng, tôi có ghé chào ông trước khi lên đường trở về Việt Nam và hỏi rằng bao giờ thì ông định trở về Việt Nam. Ông Bảo Đại trả lời có vẻ xa xăm: "Khi rời Trung Hoa vào năm 1948, tôi hứa rằng sẽ mang độc lập và thống nhất cho nhân dân. Nhưng theo tôi thấy thì dường như đất nước đang bị chia đôi. (Hội nghị Geneva lúc đó đã tiến hành để chia đôi hai miền Nam Bắc.) Và ngày nào đất nước còn bị chia cắt thì ngày đó tôi vẫn chưa nghĩ đến chuyện trở lại."
Lời tuyên bố của ông Bảo Đại làm tôi vô cùng khó chịu. Đối với tôi, ông Bảo Đại giữ một vai trò quan trọng vì cương vị của ông là một cương vị môi giới để làm mối nối kết và dung hòa các đoàn thể chính trị quốc gia. Vai trò của ông Bảo Đại lúc này là một vai trò thiết yếu trong việc thúc đẩy chánh quyền ông Diệm đón tiếp và hoan nghênh cả những phần tử quốc gia khác. Nếu ông Bảo Đại không chịu về nước thì chắc chắn tình hình nội bộ trong nước sẽ có nhiều rắc rối. Không có ông, vai trò "Quyền Lực Tối Cao" bên trên dùng phán xét, quyết định những rắc rối trong giai đoạn sắp tới sẽ mất hẳn hiệu lực.
Tôi nghĩ thầm rằng ông Bảo Đại thật sự là một người lười biếng. Ông ta chỉ muốn ở Pháp để khỏi phải đương đầu với những việc khó khăn. Và lần này là lần đầu tiên tôi tự cho phép mình thẳng thắn phát biểu cảm nghĩ riêng tư.
"Thưa ngài," tôi nói với ông Bảo Đại, "tôi xin được phép nói lên ý nghĩ riêng của tôi rằng ngài đang cố tránh trách nhiệm của ngài. Chuyện ngài vừa nói đó chẳng qua chỉ là một cái cớ mà thôi. Xin lỗi ngài nếu tôi quá nặng lời nhưng nếu ngài không trở lại bây giờ, tôi tin rằng ngài sẽ chẳng bao giờ trở lại." Tôi không ngờ là những lời nói liều của tôi trong một lúc bực tức đó về sau lại có thể trở thành sự thật.
Nghe tôi nói xong, ông Bảo Đại quay mặt qua hướng khác và rồi ngồi thừ người trong im lặng. Khoảng 2, 3 phút sau, tôi nói tiếp để đập tan sự im lặng. "Dầu sao, tôi cũng hy vọng là ngài sẽ trở lại. Vì như vậy thì ít ra tôi cũng còn có dịp gặp ngài." Quyết định của ông Bảo Đại khi chọn ông Ngô Đình Diệm thay vì chọn bác sĩ Phan Huy Quát là một trong những biến cố lớn lao trong lịch sử hiện đại Việt Nam. Tuy vào năm 1954 vẫn chưa ai biết ông Diệm về sau sẽ là một người lãnh đạo độc tài và đố kỵ, vẫn chưa ai biết sau này những quan niệm sai lệch về quyền lực của ông sẽ là nguyên nhân chính phá hủy cả chánh phủ lẫn bản thân ông ta, nhưng vào lúc này, những quan niệm tổng quát về chánh phủ của ông Diệm và Bác Sĩ Quát thật khác biệt đến độ gần như không có lấy một điểm chung.
Yếu tố nào đã khiến ông Bảo Đại quyết định lưạ chọn ông Diệm? Đây quả là một câu hỏi hấp dẫn của lịch sử. Hẳn nhiên chẳng ai nghi ngờ gì về áp lực từ phía Hoa Kỳ. Ông Diệm đã từng sống ở Hoa Kỳ. Tại nơi này ông ông đã nỗ lực tạo dựng, kêu gọi sự ủng hộ của nhiều nghị viên và một nhóm nhỏ gồm những nhân vật tăm tiếng của Hoa Kỳ, trong nhóm người ủng hộ ông có cả Đức Hồng Y Francis Spellman. Thái độ khinh miệt người Pháp của ông Diệm cũng đã giúp ông một phần trong việc vận động ủng hộ. Nhưng dầu là ảnh hưởng của Hoa Kỳ quan trọng thế nào đi nữa, tôi vẫn cảm thấy ông Bảo Đại chưa làm điều gì khác hơn những tiêu chuẩn chọn thủ tướng của ông từ trước đến nay: Dùng một người lãnh đạo tạm thời cho một giai đoạn nhất định. Tôi biết ông Bảo Đại vẫn xem mình là một cựu hoàng, một nhân vật có kinh nghiệm khéo léo trong việc dùng người cho đúng với thời cơ. Vốn dĩ sinh trưởng trong văn hóa Pháp, ông Bảo Đại đã biết tường tận về người Pháp. Tuy vậy, ông hoàn toàn mù mờ về Hoa Kỳ. Lúc này, mặc dù đã đến giai đoạn của người Hoa Kỳ, ông vẫn chưa hoàn toàn thấy rõ vai trò của họ. Trong giai đoạn tối tăm này, ông cần một người hiểu rõ và có thể đương đầu với Hoa Kỳ. Theo ý tôi thì ông Bảo Đại cho rằng ông Ngô Đình Diệm là người có thể đảm đương việc này -và như thế- ông Diệm đích thực là nhân vật chính của giai đoạn đó.
Những diễn biến về sau đã cho thấy việc ông Bảo Đại đề cử ông Diệm làm thủ tướng là việc đào hố để chôn chính mình. Tuy vậy, chính bản thân ông Bảo Đại lúc bấy giờ cũng chưa hề để tâm ngờ vực ông Diệm. Ông Bảo Đại vẫn cho rằng nếu ông Diệm là một người đã phục vụ trong nội các triều đình vào những năm đầu của thập niên 1930 thì theo cách cư xử vua tôi ông Diệm chẳng thể nào lại nghĩ đến việc lật đổ ông. Trái lại, ông Bảo Đại lại cho rằng vị tân thủ tướng cũng sẽ chỉ đóng một vai trò tạm thời và vai trò này rồi đây sẽ được ông thay thế. Đây là việc ông Bảo Đại đã làm nhiều lần. Và chính tôi lúc đó cũng không hề biết gì hơn ông Bảo Đại về ông Diệm hoặc những ảnh hưởng của ông Diệm trong chính trường Miền Nam về sau.
Một trong những việc đề cử đầu tiên của ông Diệm là đề cử cụ Trần Văn Đỗ làm Ngoại Trưởng. Đối với tôi việc này chứng tỏ rằng những điểm đại cương trong chính sách do tôi và ông Luyện soạn thảo khi trước đang được thi hành. Cụ Đỗ vốn có họ hàng thông gia với ông Diệm, (Ông là chú của em dâu ông Diệm.) nhưng cụ cũng chính là một nhân vật trong nhóm của bác sĩ Quát. Tôi cũng mong gặp ông Diệm, chuyển cho ông lá thư của ông Luyện và cùng ông xem xét những điểm thỏa thuận giữa em ông và tôi.
Trước khi đến gặp ông Diệm, tôi chưa hề để tâm dự đoán bất cứ điều gì. Bản thân tôi đã dành cho vị tân thủ tướng rất nhiều kính trọng và tin tưởng rằng ông là một chính khách thật sự có tài. Tôi đoán rằng trong cuộc gặp gỡ có lẽ ông Diệm sẽ bàn luận chi tiết về những vấn đề mà tôi đã cùng ông Luyện soạn thảo để có thể tìm những phương pháp đoàn kết lực lượng hữu hiệu nhất.
Nhưng trong cuộc gặp gỡ ngắn ngủi giữa tôi và ông Diệm ở dinh Gia Long vào cuối tháng 7, những mong mỏi ngây thơ của tôi hoàn toàn tiêu tan. Lúc vừa mới bước vào văn phòng của ông Diệm, tôi đã biết ông Diệm không hề có ý định cùng tôi bàn luận hoặc trao đổi tư tưởng gì cả. Tuy ông vẫn đối xử với tôi đúng theo lễ của một người khách, ông Diệm chẳng chút dấu diếm rằng ông đang vô cùng bận rộn. Ông Ngô Đình Nhu là em và cố vấn chính của ông Diệm ra vào liền liền, chốc lại cắt đứt câu chuyện của chúng tôi để thì thào bàn bạc với ông Diệm hoặc lưu ý ông về những giấy tờ mà ông cần ký. Khi tôi chuyển cho ông Diệm lá thư của ông Luyện, ông chỉ xem qua loa rồi đưa ngay cho ông Nhu đọc vội đọc vàng. Tuy thế, cả hai đều không muốn thảo luận gì cả. Khi ra về, tôi nhắn rằng Ngoại Trưởng Trần Văn Đỗ đang chờ tôi ở Geneva để tiếp tục các cuộc đàm phán giữa Việt Nam và Pháp nên tôi hy vọng cuộc gặp gỡ lần sau được sắp xếp càng sớm càng tốt.
Khoảng 3, 4 ngày sau, tôi về đợi tin, nhưng khi có tin thì tin tức không hề đả động gì đến việc gặp gỡ. Hơn nữa, một tùy viên của ông Diệm còn nhắn rằng tôi không nên đi Geneva mà phải ở Sài Gòn chờ thêm chỉ thị. Chuyến đi Âu Châu của tôi vì vậy đã bị hủy bỏ và tôi tiếp tục ở lại đợi chờ. Chẳng bao lâu sau, tôi tự nhận thấy rằng chẳng còn lệnh gì nữa. Chính cả hai, ông Diệm và ông Nhu đã không muốn tôi trở về Geneva, lại cũng chẳng muốn bàn bạc gì thêm với tôi ở Sài Gòn.
Việc những biến chuyển này đã làm tôi dao động đến thế nào thiết tưởng là việc không cần phải nói. Tuy rằng tôi rất buồn bã khi những vận động ủng hộ cho bác sĩ Quát thất bại, tôi đã dấu diếm thất vọng bằng cách núp sau chiếc mặt nạ hy vọng rằng chúng tôi dầu sao cũng có thể hợp tác với chánh quyền ông Diệm. Lúc này, ngay đến cả ảo ảnh đó cũng bị tước đi khiến những nhược điểm của bản thân tôi bỗng nhiên lộ rõ. Tôi suy ngẫm và tự thấy rằng tuy đã 31 tuổi mà tôi vẫn còn là người mới bắt đầu bắt tay vào nghề, tôi hãy còn quá chơn chất và lý tưởng. Trong thế giới chính trị, mọi việc luôn luôn biến chuyển khác hẳn với những điều tôi suy đoán. Tuy rằng lúc này mọi người đều thấy rõ rằng Miền Nam cần phải thiết lập một chánh phủ đoàn kết và cần phải có những cải cách xã hội cũng như kinh tế để kêu gọi dân chúng ủng hộ. Nhưng những quan niệm về mục tiêu chính trị và những tham vọng cá nhân của những nhân vật lãnh đạo là hai vấn đề hoàn toàn khác nhau. Tôi bắt đầu suy nghĩ rằng có lẽ việc phụng sự đất nước chỉ là một nghệ thuật đòi hỏi người tham gia phải vận động bằng cách này hay cách khác để chuyển dần ý kiến vào đầu óc của những nhân vật do định mệnh sắp xếp giữ phần quyền thế. Đây là một nghệ thuật mà tôi sẽ có nhiều dịp thực tập sau này khi ông Thiệu và ông Kỳ bước dần lên những nấc thang uy quyền. Sau trận Điện Biên Phủ thì hiệp định Geneva được ký kết, Việt Nam chánh thức bị chia làm hai phần, một do Việt Minh lãnh đạo, một do Pháp cầm đầu gọi là quốc gia Việt Nam dưới quyền Bảo Đại. Có lẽ sau trận Điện Biên Phủ thì hầu hết các phần tử quốc gia đều mang một cảm giác nửa vui mừng, nửa đắn đo, ngần ngại. Đây là một trong những trận chiến đáng kể mà Pháp bị bại trận hoàn toàn và theo lẽ thì tất cả những người tham gia vào các phong trào chống Pháp phải lấy làm hãnh diện. Tuy thế các phần tử quốc gia lại biết rõ rằng kẻ thắng cuộc chính là đối thủ của tất cả. Nhưng nếu chỉ nói riêng về vấn đề đất nước bị phân đôi thì vấn đề phân cách hai miền Nam Bắc đối với những người quốc gia là một cơ hội nhiều hơn là một sự mất mát. Đây là cơ hội Miền Nam có thể lợi dụng để thiết lập một chánh quyền không cộng sản được quốc tế ủng hộ. Phân đôi đất nước đã cho những phần tử quốc gia một cơ hội mà trước đây khi Việt Minh nắm quyền, họ vẫn chưa bao giờ đạt được.
Mặc dù vậy, cơ hội này vẫn hoàn toàn tùy thuộc vào thiện chí và tài lãnh đạo của ông Ngô Đình Diệm. Buồn thay, kinh nghiệm đầu tiên của tôi với ông Diệm và ông Nhu lại là một kinh nghiệm điển hình thể hiện tất cả những hành động hợp tác giữa họ với bất kỳ ai mà họ cho là người ngoài. Và người ngoài, nói tóm lại, là bất cứ ai không thuộc gia đình nhà Ngô. Sau một thời gian, tôi thấy rằng những phương pháp gia đình trị, loại trừ tất cả người ngoài được thể hiện rõ ràng nhất qua ông Nhu mặc dầu chính bản thân ông Diệm cũng không hề tỏ ý bác bỏ những đường lối này. Tất cả những phần tử quốc gia có đầu óc tự lập đều cảm thấy áp lực của một sự khinh miệt nặng nề. Vì vậy, vào những năm 1954, 1955, đáng nhẽ ông Diệm phải cố tìm cách để tận dụng tất cả những ủng hộ của các phần tử quốc gia và gây thêm thiện cảm thì chính ông và gia đình ông lại tìm cách gạt bỏ các phần tử quốc gia và gây thêm thù nghịch.
Đối với Miền Nam Việt Nam thì đây là một tấn thảm kịch, một cơ hội bị lãng phí hoàn toàn vì sự thất bại của các thành phần lãnh đạo. Nếu những nhược điểm bẩm sinh của ông Bảo Đại đã phá hủy cơ hội thành công của những phần tử quốc gia trong công cuộc chống Pháp thì những lỗi lầm của ông Diệm và ông Nhu đã chặn đứng cơ hội xây đắp một nền quốc gia dân chủ để có thể kháng cự hữu hiệu với các lực lượng của Cộng Sản Việt Nam. Hậu quả là Miền Nam Việt Nam bắt đầu khai nguyên một giai đoạn độc tài chỉ có mỗi một điểm son duy nhất đáng kể là khuynh hướng chống Cộng. Rồi đây trong suốt hai thập niên lịch sử dai dẳng, diễn biến ngày càng tỏ rõ rằng nếu muốn đoàn kết tất cả mọi tầng lớp mà lại chỉ có một yếu tố duy nhất là khuynh hướng chống Cộng thì tự yếu tố này không thể nào hội đủ tất cả các điều kiện cần thiết.
Kể từ khi ông Diệm mới bắt đầu nắm quyền, Hoa Kỳ đã nhận thấy rằng những quan niệm gia đình trị của ông Diệm là nguyên nhân chính khiến việc thiết lập chính quyền biến thành phức tạp. Vì vậy, trong khi giúp đỡ ông thiết lập chính quyền họ đã làm áp lực bắt ông phải mở rộng chánh phủ. Ông Edward Lansdale, cố vấn riêng của ông Diệm đã cẩn thận mở rộng liên lạc với các nhân vật quốc gia khác. Cố vấn Lansdale và đặc sứ Joseph Collins, đại biểu đặc biệt của tổng thống Eisenhower vẫn thỉnh thoảng liên lạc với Bác Sĩ Quát. Tôi cũng thường có mặt trong các buổi gặp gỡ. Theo tôi thấy thì cả hai viên chức Hoa Kỳ đều tỏ vẻ quan tâm đến những ý kiến hoặc lời phê bình của chúng tôi. Mặc dù họ chưa hề đề cập trực tiếp với ông Diệm, cả hai viên chức Hoa Kỳ vẫn cố gắng tìm cách bắt ông Diệm mang thêm những đại biểu bên ngoài vào chánh phủ.
Vào năm 1956, cả cố vấn Lansdale lẫn đặc sứ Collins đều đã toan tính giảng hòa những mâu thuẫn giữa ông Diệm và bác sĩ Quát. Họ cố thuyết phục ông Diệm bổ nhiệm bác sĩ Quát vào chức vụ Bộ Trưởng Quốc Phòng. Bác sĩ Quát đã từng làm Bộ Trưởng Quốc Phòng cả hai nhiệm kỳ dưới thời Bảo Đại và đã từng tổ chức thiết lập quân đội Việt Nam chánh qui. Ông là một người có nhiều kinh nghiệm trong việc thiết lập lực lượng quân sự. Việc bổ nhiệm bác sĩ Quát làm Bộ Trưởng Quốc Phòng là một việc lưỡng toàn, vừa có thể mang lại những kinh nghiệm cần thiết đang thiếu thốn trong chánh phủ lúc này, lại vừa có thể khởi đầu việc hàn gắn lại sự liên hệ giữa ông Diệm và những nhân vật quốc gia khác. Đã có lúc cố vấn Lansdale viết cho tôi rằng mọi việc đều tiến triển êm xuôi "theo như chúng tôi đã hoạch định." Nhưng cuối cùng, tất cả những nỗ lực của cố vấn Lansdale và đặc sứ Collins đều sụp đổ. Nếu chúng tôi không lầm thì sự thất bại của cả hai đều do áp lực của ông Ngô Đình Nhu.
Những thất bại lần này đã khiến hy vọng của riêng tôi trong việc tham gia đóng góp vào chánh quyền Miền Nam hoàn toàn chết hẳn. Tôi đã cố gắng ngồi yên đợi chờ, mong mỏi các diễn biến chuyển hướng cho phép tôi đóng góp một phần nào. Nhưng quyết định của ông Diệm về việc gạt bỏ bác sĩ Quát đã khiến tôi thấy rõ rằng những biến chuyển tôi đang đợi chờ thực sự chỉ là ảo ảnh. Tuy tôi đã từng cộng tác với chính quyền nhiều năm, giờ đây sự nghiệp chính trị của tôi bỗng bị cắt đứt. Việc này có nghĩa là tôi phải tìm cách mưu sinh trong những môi trường hoàn toàn khác hẳn môi trường chính trị. Trong khi xoay sở, cố tìm cách mưu sinh, tôi đã có dịp quan sát ông Ngô Đình Diệm cùng gia đình tóm thâu dần guồng máy chính quyền.
Trong Gọng Kèm Lịch Sử Trong Gọng Kèm Lịch Sử - Bùi Diễm Trong Gọng Kèm Lịch Sử