Đăng Nhập
Đăng nhập iSach
Đăng nhập = Facebook
Đăng nhập = Google
Quên Mật Khẩu
Đăng ký
Trang chủ
Đăng nhập
Đăng nhập iSach
Đăng nhập = Facebook
Đăng nhập = Google
Đăng ký
Tùy chỉnh (beta)
Nhật kỳ....
Ai đang online
Ai đang download gì?
Top đọc nhiều
Top download nhiều
Top mới cập nhật
Top truyện chưa có ảnh bìa
Truyện chưa đầy đủ
Danh sách phú ông
Danh sách phú ông trẻ
Trợ giúp
Download ebook mẫu
Đăng ký / Đăng nhập
Các vấn đề về gạo
Hướng dẫn download ebook
Hướng dẫn tải ebook về iPhone
Hướng dẫn tải ebook về Kindle
Hướng dẫn upload ảnh bìa
Quy định ảnh bìa chuẩn
Hướng dẫn sửa nội dung sai
Quy định quyền đọc & download
Cách sử dụng QR Code
Truyện
Truyện Ngẫu Nhiên
Giới Thiệu Truyện Tiêu Biểu
Truyện Đọc Nhiều
Danh Mục Truyện
Kiếm Hiệp
Tiên Hiệp
Tuổi Học Trò
Cổ Tích
Truyện Ngắn
Truyện Cười
Kinh Dị
Tiểu Thuyết
Ngôn Tình
Trinh Thám
Trung Hoa
Nghệ Thuật Sống
Phong Tục Việt Nam
Việc Làm
Kỹ Năng Sống
Khoa Học
Tùy Bút
English Stories
Danh Mục Tác Giả
Kim Dung
Nguyễn Nhật Ánh
Hoàng Thu Dung
Nguyễn Ngọc Tư
Quỳnh Dao
Hồ Biểu Chánh
Cổ Long
Ngọa Long Sinh
Ngã Cật Tây Hồng Thị
Aziz Nesin
Trần Thanh Vân
Sidney Sheldon
Arthur Conan Doyle
Truyện Tranh
Sách Nói
Danh Mục Sách Nói
Đọc truyện đêm khuya
Tiểu Thuyết
Lịch Sử
Tuổi Học Trò
Đắc Nhân Tâm
Giáo Dục
Hồi Ký
Kiếm Hiệp
Lịch Sử
Tùy Bút
Tập Truyện Ngắn
Giáo Dục
Trung Nghị
Thu Hiền
Bá Trung
Mạnh Linh
Bạch Lý
Hướng Dương
Dương Liễu
Ngô Hồng
Ngọc Hân
Phương Minh
Shep O’Neal
Thơ
Thơ Ngẫu Nhiên
Danh Mục Thơ
Danh Mục Tác Giả
Nguyễn Bính
Hồ Xuân Hương
TTKH
Trần Đăng Khoa
Phùng Quán
Xuân Diệu
Lưu Trọng Lư
Tố Hữu
Xuân Quỳnh
Nguyễn Khoa Điềm
Vũ Hoàng Chương
Hàn Mặc Tử
Huy Cận
Bùi Giáng
Hồ Dzếnh
Trần Quốc Hoàn
Bùi Chí Vinh
Lưu Quang Vũ
Bảo Cường
Nguyên Sa
Tế Hanh
Hữu Thỉnh
Thế Lữ
Hoàng Cầm
Đỗ Trung Quân
Chế Lan Viên
Lời Nhạc
Trịnh Công Sơn
Quốc Bảo
Phạm Duy
Anh Bằng
Võ Tá Hân
Hoàng Trọng
Trầm Tử Thiêng
Lương Bằng Quang
Song Ngọc
Hoàng Thi Thơ
Trần Thiện Thanh
Thái Thịnh
Phương Uyên
Danh Mục Ca Sĩ
Khánh Ly
Cẩm Ly
Hương Lan
Như Quỳnh
Đan Trường
Lam Trường
Đàm Vĩnh Hưng
Minh Tuyết
Tuấn Ngọc
Trường Vũ
Quang Dũng
Mỹ Tâm
Bảo Yến
Nirvana
Michael Learns to Rock
Michael Jackson
M2M
Madonna
Shakira
Spice Girls
The Beatles
Elvis Presley
Elton John
Led Zeppelin
Pink Floyd
Queen
Sưu Tầm
Toán Học
Tiếng Anh
Tin Học
Âm Nhạc
Lịch Sử
Non-Fiction
Download ebook?
Chat
Trong Gọng Kèm Lịch Sử
ePub
A4
A5
A6
Chương trước
Mục lục
Chương sau
Chương 11 -Lập Trường Ngoan Cố Của Pháp
K
hi từ Pháp trở về, tôi lại một lần nữa trở lại với những khung cảnh chính trị đang biến đổi ở Việt Nam. Cảm giác bỡ ngỡ của tôi khi về Việt Nam lần này thật chẳng khác nào cảm giác bỡ ngỡ khi tôi từ Việt Nam sang Pháp lúc trước. Ngày về Sài Gòn tôi được cử làm Tham Mưu Phó cho Bộ Quốc Phòng của ông Quát. Lúc này, với tư cách Bộ Trưởng Quốc Phòng, bác sĩ Quát đang là một trong những nhân vật chính trong chánh quyền Việt Nam. Tình hình cho thấy những nhận định của ông về vấn đề liệu người Pháp có thật tâm đàm phán hay không hoàn toàn chuẩn xác. Vẫn như bao giờ, những cuộc đàm phán quân sự luôn chiếm phần chủ yếu. Câu hỏi chính bao xung quanh vấn đề liệu Pháp có thể nhượng bộ cho chánh phủ Việt Nam thiết lập một quân đội riêng biệt hay không? Nếu có, tất cả những vấn đề khác sẽ được giải quyết dễ dàng.
Ông Quát lập ra một phái đoàn nhỏ do tôi và đại tá Lê Văn Kim cầm đầu để thương thuyết với Pháp về vấn đề quân sự. (Ông Kim về sau là tướng và cũng chính là một trong ba vị tướng thâm niên đã đảo chánh lật đổ ông Diệm vào năm 1963.) Vào tháng 9 năm 1953, chúng tôi bắt đầu chánh thức thương thảo vấn đề thiết lập những đơn vị độc lập Việt Nam để dần dần trở thành một quân đội riêng biệt của Việt Nam về sau này. Người đại diện thương thảo cho Pháp lúc đó là tư lệnh Henre Navarre. Trước khi cùng tư lệnh Navarre thương thảo, chúng tôi đã đặt rất nhiều hy vọng vào cuộc đàm phán, nhưng càng ngày những phức tạp khó khăn lại trổ ra càng nhiều. Tuy Pháp đã long trọng tuyên bố rằng họ sẽ thương thảo một cách nghiêm chỉnh, mà họ vẫn phân vân cân nhắc khi phải quyết định một vấn đề quan trọng như vấn đề quân sự. Trong trường hợp này, vấn đề chi tiết là việc huấn luyện và chỉ huy các lực lượng cấp tiểu đoàn Việt Nam. Cuối cùng cán cân thắng lợi đã ngả về chúng tôi: Chúng tôi được phép trực tiếp chỉ huy các tiểu đoàn nhưng người Pháp vẫn đòi quyền chỉ huy tất cả toàn thể quân đội.
Tuy rằng đây là giai đoạn Pháp đang phải đối phó với những khó khăn của nội bộ sau Đệ Nhị Thế Chiến và chế độ thực dân đã mất gần hết ảnh hưởng Pháp vẫn cố bám vào những mảnh vụn uy quyền còn sót lại. Mặc dù chiến tranh giữa Việt Minh và Pháp đã gần ngày kết thúc mà Pháp vẫn còn bàn luận rất nhiều. Chẳng hạn như Pháp vẫn đưa ra giải pháp của một nước Việt Nam độc lập nằm trong "khối liên hiệp Pháp," tuy rằng chẳng ai hiểu đích xác ý nghĩa của Khối Liên Hiệp này là gì. Trong giai đoạn đàm phán của năm 1954, chánh quyền Pháp đã phạm phải nhiều lỗi lầm đáng tiếc. Họ không hề có ý rút lui hoặc nhượng quyền cho các phần tử quốc gia và họ cũng chưa hề định nghĩa rõ rệt vai trò hoặc quyền hạn của các phần tử quốc gia đã đứng ra tham gia vào chính phủ Bảo Đại. Vì chẳng bao giờ đoái hoài đến việc định nghĩa rõ ràng vấn đề, chánh quyền Pháp đã khiến các phần tử quốc gia nghi ngờ sự thực tâm của họ. Trong khi Pháp tỏ ý muốn đưa Việt Nam vào khối Liên Hiệp Pháp thì tôi và các bạn bè khác lại nhất định bác bỏ ý kiến đó. Cuộc đàm phán của chúng tôi với Pháp trong năm 1954 thật là chán nản. Chúng tôi đã nhìn rõ được sự ngoan cố của Pháp qua thái độ của Navarre. Nếu đứng trên quan điểm quốc tế mà luận thì lúc này Pháp nên giao trả lại độc lập cho các quốc gia nằm trong khối thực dân vì nhiều lý do. Thứ nhất, nếu Pháp không phải lo lắng về vấn đề thực dân thì họ có thể dồn hết tất cả các nỗ lực vào việc đối phó với các khó khăn nội bộ của chính nước Pháp sau Đệ Nhị Thế Chiến. Thứ hai, nếu Pháp tự ý giao trả lại độc lập cho các quốc gia trong khối thực dân thì họ có thể gầy dựng được những mối quan hệ ngoại giao tốt đẹp và bảo tồn được uy tín trên trường ngoại giao quốc tế. Và riêng đối với những quốc gia trong nằm trong khối thực dân bị trị chẳng hạn như Việt Nam thì đã hẳn việc Pháp giao trả lại độc lập là một cơ hội cho phép các thành phần quốc gia có thể đóng góp một cách thiết thực vào việc xây dựng đất nước. Tuy thế, thay vì giao trả độc lập lại cho Việt Nam thì Pháp lại chọn giải pháp bắt buộc Việt Nam phải nằm trong khối Liên Hiệp Pháp. Đây quả là một giải pháp thiển cận và có hại cho cả hai bên. Lúc này, vì đang phải chống trả với Việt Minh, chúng tôi cần có một nền độc lập thực thụ. Chúng tôi phải chứng tỏ rằng chúng tôi đã chánh thức dành được độc lập để có thể đương đầu với ông Hồ một cách hữu hiệu. Tuy vậy, lập trường ngoan cố của Pháp đã dồn các phần tử quốc gia của Việt Nam vào thế yếu và bắt buộc các tư lệnh Pháp phải bám víu một cách mù quáng vào những uy quyền còn sót lại. Dường như Pháp đã tối mắt vì những nỗ lực đòi hỏi bướng bỉnh nhất thời và bất chấp tất cả những hậu hoạn to tát về sau. Cũng vào thời gian này, ông Bảo Đại bắt dầu làm áp lực nặng nề hơn với Pháp để đòi hỏi độc lập cho Việt Nam và với mục đích đó, ông chủ trương tổ chức cuộc Hội Nghị Toàn Quốc. Trong cuộc họp Hội Nghị Toàn Quốc, ngoại trừ những người Cộng Sản, tất cả các đại biểu từ những nhóm chính trị và tôn giáo quan trọng ở trong nước đều được mời tham dự. Ông Bảo Đại tỏ ý muốn cụ Kim chủ tọa buổi họp. Ông cho rằng nếu để cụ Kim đứng ở cương vị chủ tọa thì cụ sẽ có thể dùng cương vị đó để phát động, nâng cao tinh thần quốc gia và khuyến khích, cổ động được ý kiến dân chúng trong cuộc tranh đấu dành lại độc lập.
Lúc cuộc họp mở đầu, tất cả đều phấn khởi vì lòng nhiệt thành tranh đấu đòi hỏi độc lập của các thành phần tham dự. Vào lúc phiên họp gần kết thúc cuộc bàn luận bao quanh vấn đề Việt Nam gia nhập khối Liên Hiệp Pháp trở nên sôi sục. Những người chống đối Giải Pháp Liên Hiệp yêu cầu ông Bảo Đại phải đòi hỏi trọn vẹn chủ quyền. Họ nhất định không chấp thuận để Việt Nam gia nhập vào khối Liên Hiệp Pháp dù là dưới bất cứ hình thức nào. Vì cuộc bàn cãi quyết liệt diễn ra công khai trước toàn quốc, nên dư luận trong nước đã chú ý rất nhiều đến các điểm thảo luận.
Tuy vậy, có lẽ một trong những yếu tố phức tạp nhất của cuộc tranh luận đã vượt khỏi sự chú ý của toàn thể dân chúng. Yếu tố đó là yếu tố Hoa Kỳ. Lúc này, vì tôi đang cộng tác với chánh phủ nên theo luật lệ thì tôi không được phép trực tiếp tham gia hội nghị, nhưng vì cụ Kim cũng là người nhà nên tôi vẫn ngấm ngầm điều hành tổ chức để giúp cụ. Trong thời gian này tôi vẫn thường có sự liên lạc với Hoa Kỳ qua những nhân viên của tòa đại sứ Hoa Kỳ ở Sài Gòn và Hoa Kỳ lúc này đã bắt đầu thực sự để ý đến Hội Nghị Toàn Quốc. Trong khi tôi đang tổ chức giúp cụ Kim và những cuộc bàn luận tại Hội Nghị Toàn Quốc đã sắp đến hồi kết thúc, thì bỗng nhiên Giám Đốc phòng thông tin Hoa Kỳ (USIA) tại Sài Gòn là ông George Hellyer lại mời tôi đến gặp ông ta. Tại tư thất, ông muốn hỏi tôi liệu những người đến dự hội nghị toàn quốc suy nghĩ thế nào về giải pháp Khối Liên Hiệp Pháp? Tôi trình bày thái độ và những cảm xúc cuồng nhiệt của những thành phần tham dự Hội Nghị rồi nói rằng theo tôi thấy thì đa số những người đến dự Hội Nghị Toàn Quốc đều chống đối giải pháp Khối Liên Hiệp Pháp. Sau khi nghe tôi tường thuật, ông Hellyer cho biết rằng nếu chúng tôi cần tìm hiểu thái độ của Hoa Kỳ thì ông có thể dàn xếp cho chúng tôi đến gặp đại sứ Donald Heath. Vì lúc này tất cả đều đang muốn biết rõ thái độ của Hoa Kỳ nên chúng tôi lại hẹn gặp nhau tối hôm đó tại nhà ông Heath.
Sau khi nói chuyện với ông Hellyer, tôi vội tìm bác sĩ Quát và cụ Kim để cố gắng chuẩn bị cuộc họp. Lúc này, cuộc họp giữa chúng tôi và đại sứ Heath chỉ là một cuộc gặp riêng giữa hai bên chứ không hẳn là một cuộc họp chánh thức giữa hai chánh phủ. Tuy thế, tất cả chúng tôi đều biết rõ rằng những điều ông tiết lộ sẽ là yếu tố quan trọng có ảnh hưởng rất nhiều đến các quyết định của các thành phần quốc gia trong tương lai. Đã từ lâu, ông Quát, cụ Kim, tôi cùng nhiều chính trị gia khác đều coi Hoa Kỳ như một nguồn tiếp trợ tinh thần và theo sự tin tưởng của chúng tôi thì đồng thời cũng sẽ là một nguồn cấp dưỡng viện trợ trong tương lai. Tuy chúng tôi không rõ chính sách của Hoa Kỳ ra sao nhưng khuynh hướng chống thực dân và yêu chuộng dân chủ của Hoa Kỳ đã khiến chúng tôi xem họ là một đồng minh hiển nhiên trong cuộc tranh đấu thiết lập một đường lối rõ rệt khác với đường lối của thực dân Pháp và đường lối của cộng sản Việt Nam.
Bất kỳ là đúng hay sai, chúng tôi cũng đã đặt một niềm hy vọng lớn lao vào sự móc nối với Hoa Kỳ. Tuy chưa được Hoa Kỳ chánh thức khích lệ, niềm hy vọng của chúng tôi đã manh nha qua những lần gặp gỡ với phòng thông tin USIA, và với các nhân viên ở toà đại sứ. Những buổi tiếp tân, những cuộc gặp gỡ riêng và những lần thăm viếng xã giao trong quá khứ đã dẫn đến nhiều cuộc tiếp xúc tốt đẹp giữa các nhân viên Hoa Kỳ và Việt Nam. Mặc dù chưa có gì là chánh thức trên giấy tờ cả, chúng tôi đã tự nhìn những cuộc gặp gỡ, móc nối chẳng khác nào một chứng cớ về thái độ ủng hộ của họ. Khi nhận định lại vấn đề bằng những nhận xét hiện thời thì những cảm giác mơ tưởng tự tạo của chúng tôi lúc này nếu không phải thực sự phát sinh từ những ước ao, mong mỏi sự tiếp trợ ấp ủ đã từ lâu thì cũng là sản phẩm của sự nhạy cảm đặc biệt của người Việt Nam khi đương đầu với những đề nghị gián tiếp. Quả tình, kể từ lúc đó cho đến bây giờ, chúng tôi vẫn cảm thấy rằng chính sách của Hoa Kỳ, ít ra là ở một mức độ tối thiểu nào đó, nhằm vào mục đích thuyết phục những phần tử quốc gia khiến họ tin rằng Hoa Kỳ sẽ ủng hộ họ trong việc tranh đấu dành độc lập. Tuy thế, trên một bình diện khác, như tôi đã tìm ra tối đó tại nhà đại sứ Heath, chính sách của Hoa Kỳ hãy còn rất nhiều khía cạnh phức tạp.
Cứ theo tình hình quốc tế mà luận thì Hoa Kỳ và Pháp vẫn là đồng minh. Pháp là một quốc gia trong khối đồng minh đã cùng Hoa Kỳ đánh bại Đức trong Đệ Nhị Thế Chiến. Vì sự liên kết của khối đồng minh vẫn còn mạnh và Đệ Nhị Thế Chiến cũng chỉ mới vừa kết thúc nên Hoa Kỳ vẫn cố tránh đẩy Pháp vào thế bí. Một mặt thì Hoa Kỳ vẫn tuyên bố rằng họ không ủng hộ chế độ thực dân, nhưng mặt khác thì họ lại cần duy trì các mối liên hệ Ngoại Giao với Pháp và khối đồng minh. Vì sự liên hệ của Hoa Kỳ đối với Pháp phức tạp là thế nên tất cả chúng tôi đều chưa đoán trước được liệu Hoa Kỳ có ủng hộ các phần tử quốc gia Việt Nam khi họ làm áp lực bắt Pháp phải giao trả độc lập cho Việt Nam hay không? Lúc này, cả Bác Sĩ Quát, cụ Kim lẫn tôi đều kết luận rằng cuộc tiếp xúc giữa ông Hellyer và chúng tôi chính là để nhấn mạnh tầm quan trọng của vấn đề Liên Hiệp Pháp đối với Hoa Kỳ. Tầm mức quan trọng của vấn đề Liên Hiệp đã buộc họ phải khẳng định những đường lối cơ bản của họ về Việt Nam. Trong buổi họp, đại sứ Heath đã trình bày vô cùng minh bạch những suy nghĩ kín đáo của Hoa Kỳ bằng những phương pháp ngoại giao hết sức khéo léo. Ông nói rằng Hoa Kỳ ủng hộ Việt Nam, ủng hộ những tranh đấu dành chủ quyền của Việt Nam, nhưng đồng thời Hoa Kỳ cũng là đồng minh của Pháp. Theo đại sứ Heath thì Hoa Kỳ muốn sự hợp tác Pháp-Việt phải là một sự hợp tác tốt đẹp. Ông cho rằng những người chống đối Giải Pháp Liên Hiệp đã đi quá xa. Ông tiếp tục nói thêm rằng mối liên hệ giữa Hoa Kỳ và Pháp là một " mối liên hệ đa diện." Ông đề cập đến vấn đề đồng minh Âu Châu và khuyên rằng chúng tôi nên "mềm dẻo" hơn là "quá khích."
Những tiết lộ của ông Heath làm chúng tôi vô cùng thất vọng. Tôi trình bày với ông Heath rằng chúng tôi khó thể thực hiện được những chủ trương của ông vào lúc này vì rằng cuộc họp quốc hội đã đi đến giai đoạn chót. Khi cuộc họp với đại sứ Heath kết thúc, chúng tôi cảm thấy chán ngán đến tột cùng. Tôi còn nhớ Bác Sĩ Quát đã hầm hừ tức tối: "Vậy mà lúc đầu họ không chịu nói thẳng." Một gánh nặng đã thực sự đè lên tất cả.
Tất cả chúng tôi đều biết rõ tầm quan trọng qua những lời phát biểu của ông Heath. Tầm quan trọng của sự tiết lộ vượt xa phạm vi nhỏ hẹp của cuộc bàn luận về vấn đề Liên Hiệp với Pháp. Mặc dù chưa tuyên bố trực tiếp, khi nói đến Âu Châu và mối "liên hệ đa diện" giữa Hoa Kỳ và Pháp, đại sứ Heath đã đề cập rõ ràng đến giải pháp của toàn Khối Liên Minh Tự Vệ Âu Châu. Nếu áp lực của Hoa Kỳ với các phần tử quốc gia về vấn đề giữa Pháp và Việt Nam quả có ảnh hưởng đến sự hợp tác của Pháp trong việc đoàn kết liên minh thì Hoa Kỳ nhất định sẽ phải dùng đến áp lực này. Nói một cách khác, thì những vấn đề sinh tử của chúng tôi chẳng qua chỉ là những vấn đề trả giá của Hoa Kỳ trong quá trình thực thi chánh sách toàn cầu của họ. Vào mùa thu năm 1953, việc phải đối diện trực tiếp với thực tế là một bài học hoàn toàn bất ngờ cho chúng tôi. Sự lầm lạc chẳng qua là vì chúng tôi đã đặt quá nặng hy vọng vào những chánh sách lý tưởng mà chúng tôi cho rằng Hoa Kỳ sẽ thực thi. Đây là một bài học mà chúng tôi sẽ còn phải học lại sau này cùng với một sự mất mát lớn lao hơn gấp bội.
Áp lực của Hoa Kỳ đã khiến các thành viên đến họp cuộc Hội Nghị Toàn Quốc vào ngày hôm sau chấp nhận một giải pháp mềm mỏng hơn. Qua thể thức giơ tay bầu cử, tôi biết rõ rằng ngoài tôi, cụ Kim và bác sĩ Quát Hoa Kỳ cũng đã gặp riêng nhiều người khác. Hoa Kỳ đã chọn đúng thời điểm quan trọng để tiết lộ rõ thái độ của họ. Những điều Hoa Kỳ minh xác ngay trong thời điểm này đã làm các thành viên trong buổi họp mất hẳn tinh thần và thất vọng sâu xa. Lúc này ai cũng cho rằng Hoa Kỳ có thể hành động khác. Hoa Kỳ có thể làm tăng uy tín của các phần tử quốc gia cũng như buộc Pháp phải nhượng bộ thâu hẹp những lập trường bướng bỉnh bằng cách ủng hộ chánh phủ Bảo Đại. Nếu đàm phán Pháp-Việt không đạt được những điểm khả quan đáng kể thì rất ít người Việt Nam chống cộng dám nhận định rằng giải pháp Bảo Đại khó thể là một giải pháp hữu hiệu mà các phần tử quốc gia có thể dùng để đối phó với Cộng Sản và ông Hồ Chí Minh. Trong cuộc đàm phán để đòi hỏi độc lập cho Việt Nam, sự nhu nhược của Bảo Đại và sự bướng bỉnh của Pháp hòa hợp tạo thành một sự thất bại kéo dài từng bước. Vào những năm đầu của thập niên 1950, chìa khóa của các diễn biến khác nằm trong tay Hoa Kỳ. Tuy vậy, chính sách của Hoa Kỳ, ở cả lúc đó cũng như về sau này, đều đóng vai trò đầy mâu thuẫn, lúc thì làm cho mọi người tin tưởng rồi có lúc lại làm cho mọi người phải thất vọng hoàn toàn. Ngay sau khi Hội Nghị Toàn Quốc chấm dứt thì tôi lại phải trở về Ba Lê để tiếp tục tham gia những cuộc đàm phán quân sự. Vào một mùa thu ảm đạm, tôi và đại tá Lê Văn Kim cùng đến Pháp để thương thảo với những nhóm tướng Pháp già nua lẩm cẩm qua những cuộc bàn cãi dai dẳng nhàm chán. Trải qua không biết đã bao nhiêu cuộc tranh luận mà hai bên vẫn chưa đi đến một mục tiêu nào đáng kể. Rồi trong tháng 11-1953, vào một ngày rét mướt, những cuộc họp triền miên dai dẳng hốt nhiên bị cắt đứt. Tôi nhận được một bức điện từ Sài Gòn báo tin cụ Kim đã từ trần. Cụ qua đời bất ngờ vì bệnh tim. Cuộc họp Hội Nghị toàn quốc sôi nổi với kết quả thất vọng vừa qua là hoạt động chính trị cuối cùng của cụ.
Tôi về Việt Nam vừa đúng lúc để kịp thời có mặt trên chuyến bay đưa linh cửu ông chú tôi từ Đà Lạt về Hà Nội làm quốc táng. Đám tang cụ Kim được cử hành tại Hà Nội. Theo sau các vị tăng sĩ và gia quyến, số người đưa tang từ nhà cụ tới nghĩa trang kéo dài nửa dặm. Những người đưa tang đến đọc điếu liên tục trước ngôi mộ chưa lấp và dưới vòm trời hạ thấp dần. Tất cả những bài phúng điếu đều đề cập đến cụ Kim như một triết gia, sử gia và một người có lòng ái quốc hơn là một chánh trị gia. Mọi chuyện liên hệ đến chánh quyền ngắn ngủi của cụ dường như đã biến thành những biến cố hoàn toàn xa mờ trong quá khứ khi cụ từ trần. Nhưng những tác phẩm của cụ lúc đó đã được xem là những tác phẩm hàng đầu trong tầng lớp trí thức của quốc gia. Sự liên hệ giữa tôi và cụ Trần Trọng Kim vượt xa sự liên hệ bình thường của chú cháu. Chúng tôi đã chia xẻ rất nhiều trong đời sống kể cả về mặt chính trị cũng như về những riêng tư cuộc đời. Đã rất nhiều năm, vì hoàn cảnh chiến tranh, tôi nghĩ về cụ như người cha tinh thần đã gần gũi tôi còn nhiều hơn là chính ông thân sinh ra tôi. Ở một mức độ nào đó, cụ đã bị ảnh hưởng của ông cụ thân tôi trong vấn đề xem thường những thay đổi của cõi đời tạm bợ. Chính ảnh hưởng này đã khiến cụ khó thể trở thành một chính khách vẹn toàn. Trong tận cùng thâm tâm, cụ là một người ngay thẳng khuôn mẫu, cương quyết chối từ những việc cụ cho là không đáp ứng với bổn phận của cụ trong việc phụng sự quốc gia. Vài sử gia cho rằng cụ đã không nắm giữ quyền chủ động cả vào lúc đầu tiên khi tiếp xúc với Nhật lẫn lúc về sau khi cụ tiếp xúc với đảng Đại Việt. Họ cũng đúng về một phương tiện nào đó. Cụ không phải là người lãnh đạo cuồng nhiệt của dân chúng hay các phong trào. Chính bản thân cụ cũng không hề nghĩ cụ là người như vậy. Ưu điểm của cụ nằm ở chỗ khác, ở một đời sống thầm kín bên trong, tạo thành do ảnh hưởng sâu đậm bởi truyền thống văn hóa Việt Nam và một tinh thần phục vụ đất nước. Có lẽ cụ đúng là một nhà nho kiểu mẫu cuối cùng của Việt Nam, một mẫu người tượng trưng cho những giá trị cổ truyền đẹp đẽ nhất. Những diễn biến nằm trong phần sau của lịch sử đã chứng tỏ sự thiếu thốn vô hạn của những phẩm chất này.
Sau khi tang lễ xong xuôi, tôi trở lại Ba-Lê để tiếp tục những cuộc đàm phán vô vị với các tướng Pháp. Một lần nữa tôi lại phải tự mình ngồi vào những chiếc bàn dài, nặng nề, bàn cãi hàng giờ về những vấn đề tiểu tiết lẩm cẩm. Càng ngày câu chuyện càng biến thành xa vời. Quanh bàn đàm phán người Pháp đang cố kềm hãm tinh thần quốc gia của Việt Nam trong khi ở 10,000 dặm xa cộng sản đã bắt đầu xiết chặt ngọn dây thòng lọng tại Điện Biên Phủ. Sự thất bại của giải pháp Bảo Đại đã đưa chúng tôi vào những cuộc đàm phán mông lung, trừu tượng, trong khi thực tế chánh trị và quân sự hoàn toàn nằm ở chỗ khác.
Chương trước
Mục lục
Chương sau
Trong Gọng Kèm Lịch Sử
Bùi Diễm
Trong Gọng Kèm Lịch Sử - Bùi Diễm
https://isach.info/story.php?story=trong_gong_kem_lich_su__bui_diem