Chương 7 -Khủng Bố
hi quân Pháp vào Việt Nam thì quân đội chiếm đóng của Tàu đang rút lui. Tất cả những quang cảnh ồn ào, hỗn độn đã cho tôi một cơ hội thuận tiện để đưa ông chú tôi lên đường để vận động ở nước ngoài theo kế hoạch của ông Trương Tử Anh. Đầu tiên tôi liên lạc với người của VNQĐD và định dùng đường dây móc nối sang Tàu của họ. Qua họ tôi sắp xếp để ông chú tôi có thể đi bằng đường hàng không. Khi mọi sự đã xong, tôi cùng ông chú tôi về nhà chờ tin. Nhưng một tuần, rồi 10 ngày nối tiếp trôi qua mà vẫn không thấy động tĩnh gì. Sau đó, chúng tôi quyết định không thể đợi lâu hơn được nữa vì có thể sẽ bị công an Việt Minh phát giác.
Vì vậy, tôi quyết định thử liên lạc trực tiếp với người Tàu. Trong khi Tàu đóng quân đã có nhiều thiếu phụ Việt Nam "thành hôn" với các sĩ quan Tàu. Tôi có quen một thiếu phụ lập gia đình với một vị tướng Tàu và bà ta hứa sẽ cố dùng ảnh hưởng riêng để xin giấy thông hành cho ông chú tôi.
Mọi việc đều tiến hành như dự liệu. Vào một hôm đã hẹn trước, một chiếc xe Citroen ngưng ngay trước cổng nhà ông chú tôi. Phía trong là tài xế, viên tướng Tàu và một vị bác sĩ nguyên là người của đảng Đại Việt đã được phái đi cùng với ông chú tôi. Chúng tôi nhét hai cái va li vào sau xe rồi ngồi chặt trong xe để bắt đầu một chuyến hành trình dài đến biên giới Tàu. Phía ngoài Hà Nội, lính Tàu tụ họp thành hàng chật cả đường phố đang lếch thếch mang trên lưng nào là gà, nồi và những vật dụng lỉnh kỉnh khác. Những toán quân Tàu rút lui về Trung Hoa đem theo gần như tất cả mọi thứ họ đã vơ vét được từ Hà Nội.
Giữa đám đông ồn ào, vô trật tự chẳng ai để ý đến chiếc xe Citroen đen của chúng tôi. Vào lúc chạng vạng chúng tôi đã đến Lạng Sơn. Tại đó, tôi từ giã ông chú tôi và hứa sẽ cố tìm chỗ sắp đặt để gia đình có thể cùng ông xum họp tại Hồng Kông, nơi ông dự định đứng ra vận động.
Sau đó tôi trở lại Hà Nội bàng xe buýt, tìm cách cố đưa mợ tôi và gia đình của con gái mợ tôi ra khỏi nước. Giao thông lúc này ngày càng khó khăn. Mặc dù Việt Minh đang ở giai đoạn đàm phán hòa bình với Pháp, họ vẫn nỗ lực tàn sát các phe phái quốc gia. Khoảng tháng tư và tháng năm, mức độ khủng bố nhảy vọt. Những căn cứ quốc gia vững mạnh ở dọc sông Hồng đều chuẩn bị phòng thủ chống lại các cuộc càn quét của Việt Minh.
Trong tình trạng cuộc chiến giữa Việt Minh và Quốc Gia sắp sửa bùng nổ, chuyện đưa gia đình ông chú tôi ra nước ngoài đã trở thành thập phần cấp bách. Thỏa hiệp hòa bình ngắn ngủi với Pháp đã đủ để ông Hồ có một phút giây thảnh thơi tiêu diệt triệt để những đảng phái đối lập, để làm chủ tình hình trong nước.
Vào tháng 4, cuộc đàm phán giữa Pháp và Việt Minh đã bắt đầu đi vào đường thất bại. Một viên chức cao cấp của Pháp là Thủy sư Đô Đốc George Thierry d' Argenlieu có vẻ có ý muốn giữ Miền Nam Việt Nam làm thuộc địa. Ông ta từ chối việc định nghĩa cụ thể hiện trạng Việt Nam như "một quốc gia tự do". Sau cuộc đàm phán Đà Lạt, ông Hồ đã hiểu rõ là Pháp chẳng hề có ý chấp hành nghiêm chỉnh những điều khoản mà ông và Sainteny đã cùng thỏa thuận trong cuộc thương thảo. Tuy vậy, vào tháng 5 ông vẫn lên đường đi Pháp để bắt đầu một cuộc đàm phán kéo dài liên tiếp năm tháng. Ông Hồ hy vọng rằng khi đích thân đến Pháp ông sẽ kêu gọi được những người Pháp đã rời Việt Nam góp phần ủng hộ. Mặt khác, ông cố gắng kéo dài thời giờ. Hầu hết các thành phần lãnh đạo đều cùng đi với ông Hồ ngoại trừ ông Võ Nguyên Giáp. Khi ông Hồ ở Pháp thì chính ông Giáp là người đương đầu với những vấn đề liên quan tới các lực lượng đối lập.
Phương pháp của ông Võ Nguyên Giáp thật là tàn bạo. Ông cho lệnh các lực lượng Việt Minh tập kích thẳng vào căn cứ của các đảng quốc gia ở các vùng sông Hồng. Cùng lúc đó những công an Việt Minh khác thắt chặt mạng lưới phòng vệ ở Hà Nội và Hải Phòng. Những phần tử quốc gia bị buộc phải lui vào vòng bí mật hoặc phải cố tìm cách trốn tránh thoát khỏi mạng lưới Việt Minh. Nhiều đảng viên quốc gia đã bị bắt và cầm tù, nhiều người khác mất tích. Cơn kinh hoàng bao trùm các đảng phái khi chiến dịch khủng bố của ông Giáp mang một tầm vóc khổng lồ so với các chiến dịch tiểu trừ lẻ tẻ giữa các đảng phái trước đây. Trong khi ông Hồ và các Bộ Trưởng trong chánh quyền thực dân Pháp thong thả dìu nhau trong điệu Minuet ở Fontainebleau trên sàn đàm phán theo một nhịp độ điều đình ngày càng bế tắc thì tại Việt Nam hàng ngàn phần tử quốc gia âm thầm ngã gục.
Số phận của tôi may mắn hơn những người đã bị hạ sát. Trên bến Hải Phòng, tôi bí mật liên lạc được với một người thuyền trưởng của một chuyến tàu chở hàng Thụy Điển. Tôi đã dùng cả tiếng Anh lẫn tiếng Pháp để thuyết phục ông ta. Cuối cùng, ông ta cho tôi mang cả gia đình bà cô đến Hồng Kông không hề hỏi han, không hề khai báo, không cả giấy thông hành. -Hễ có tiền là đi. Tiền bạc được dùng để đổi lại một chỗ trống trên bong và chúng tôi có quyền dựng một tấm mái bạt để che mưa tránh nắng.
Chuyến tàu hàng lướt ra khỏi Hải Phòng giữa lúc trăng tròn đang giữa độ. Chưa bao giờ đi tàu, tôi có cảm giác đây là lần đầu tiên mình mới làm một chuyến du ngoạn thần kỳ và mơ mộng. Tuy vậy, vừa qua khỏi trạm gác ở bến, tôi đã say sóng ngất ngư. Trên biển Nam Hải, ánh sáng quang đãng của vầng trăng bỗng dưng tan biến rồi một cơn bão theo sát chúng tôi trên cả cuộc hành trình.
Vì phải tránh những quả mìn gài ngầm còn sót lại sau Đệ Nhị Thế Chiến, chuyến tàu hàng buộc phải đi về hướng Phi Luật Tân thay vì đến thẳng Hồng Kông. Chuyến đi đáng nhẽ chỉ ba ngày bỗng kéo dài thành một hành trình gian khổ dài suốt 7 ngày trên biển. Cuối cùng khi tàu cặp bến, tôi vui mừng chẳng khác nào bắt được vàng.
Khi đã thuê phòng ngủ cho gia đình người mợ, con gái và người con rể ông chú tôi ở một khách sạn tại Hồng Kông, tôi bắt đầu tự mình đi tìm ông chú tôi và ông Bảo Đại. Vì không giữ liên lạc mà lại cũng chẳng tính toán gì trước nên phải rất lâu sau tôi mới biết rõ được rằng họ không phải ở Hồng Kông mà thật sự đang ở Trùng Khánh, kinh đô của Tưởng Giới Thạch. Lúc này, việc thiếu liên lạc chỉ là chuyện thông thường. Hồng Kông đã trở thành một trung tâm tụ tập của những phần tử quốc gia, những người đã thoát ra từ Miền Bắc, nơi Việt Minh đang làm chủ tình hình. Tuy rằng những phần tử quốc gia có ý muốn lập một trung tâm hoạt động ở ngoại quốc, họ vẫn chưa hề có được tổ chức nào hoàn toàn hiệu lực. Đây là một điểm khởi đầu thật bất lợi.
Về phần mợ tôi thì thất vọng ê chề. Khi một tuần lễ đã qua mà không có tin tức gì về ông chú tôi, chúng tôi chỉ còn một ít tiền và cũng không quen biết ai để có thể xin giúp đỡ. Tôi nói với mợ tôi rằng "Cách hay nhất là mợ hãy giữ hết chỗ tiền còn lại trong khi cháu quay về Hà Nội tìm cách kiếm thêm tiền. Chắc chẳng còn bao lâu nữa chú sẽ trở lại. Cháu tin mọi chuyện rồi sẽ đâu vào đấy."
Chuyến về cũng chỉ đỡ hơn chuyến đi chút đỉnh. Khi còn lênh đênh giữa biển, tôi đã tự thề sẽ chẩng bao giờ đặt chân lên tàu biển lần thứ hai nữa. Khi tàu đáp bến Hải Phòng, tôi lẩn qua các trạm gác tuần tiễu rồi lẻn về Hà Nội để gặp ông Trương Tử Anh. Tôi tường trình việc thiếu tổ chức ở Hồng Kông và nhấn mạnh việc cần phải thiết lập một đường dây tiếp tế thường xuyên. Nhưng việc khẩn cấp hiện thời là phải có tiền bạc để chu cấp cho mợ và chú tôi.
Ông Trương Tử Anh giải quyết vấn đề này bằng cách giới thiệu tôi với đường dây hoạt động làm bạc giả của Đại Việt. Nhờ vào đường giây này, Đại Việt đã cung cấp được một phần tài chánh cho các hoạt động của đảng. Những đồng tiền làm giả tuy chưa hoàn toàn giống hệt nhưng cũng đủ để có thể bán rẻ lại cho những người có được thị trường trong chốn chợ đen. Một tờ giấy bạc giả 100 đồng có thể đánh đổi lấy được khoảng 60 đồng tiền thật.
Tạm thời thì tiền trợ cấp cho mợ và chú tôi sẽ được trích ra từ số tiền này. Tôi sẽ phải tự mình đến lấy bạc giả, tự mình đem đi bán lại và tìm cách mang tiền sang Hồng Kông. Chẳng mấy chốc tôi trở nên lanh lợi về cách đổi chác trong nghề. Tôi và một đảng viên khác cùng tới một địa điểm đã được ông Anh cho sẵn. Nhưng khi nhìn thấy xấp bạc giả tôi kinh hãi rụng rời. Xấp bạc hoàn toàn mới toanh, trông thật lòe loẹt. Đến một đứa bé cũng phải nhận ra là xấp bạc giả vừa mới in xong. Không có cách nào tôi có thể bán được dù là bán cho những người chợ đen dễ dãi nhất.
Trưa đó, tôi và người bạn đi cùng đã bỏ ra rất nhiều thời giờ cố làm cho xấp giấy bạc trông giống thật hơn. Chúng tôi lý luận rằng vấn đề chính là vì trông nó mới quá và rồi kết luận phải làm thế nào cho nó cũ bớt đi. Cuối cùng chúng tôi nghĩ ra được cách trải những tấm giấy bạc ra sàn rồi dùng gạo chà lên như chà giấy nhám, để biến những tấm giấy bạc thành cũ kỹ, giống thật hơn.
Việc làm bạc giả của chúng tôi kể ra cũng không đến nỗi tệ. Khi giấy bạc đã được chà xong, những tờ hai chục trông gần như thật. Tuy vậy, những tờ 100, dù rằng qua những con mắt không lành nghề như chúng tôi vẫn chẳng trông giống thật tí nào. Cuối cùng, chúng tôi bán số tiền 20 đồng và thâu lại được 80 phần trăm tổng số giá, trong khi tự cho là may mắn đã đổi được chỗ giấy bạc 100 đồng để lấy lại được 50 phần trăm tổng số. Tôi thành công hơn trong vấn đề thiết lập đường dây tiếp tế đến Hồng Kông qua một hãng du lịch Thái Lan có các chi nhánh ở khắp mọi miền.
Chẳng bao lâu sau, khi đã xếp đặt xong việc chuyển tiền, tôi lại được lệnh của ông Trương Tử Anh tổ chức một cuộc đưa người khác sang Hồng Kông. Lần này chuyến đi được tổ chức cho Tư Lệnh Đệ Tam Quân Đỗ Đình Đạo, người đã cầm đầu đoàn quân xấu số của Đại Việt và VNQĐD ở dọc theo sông Hồng. Vì không đủ sức chống trả với ông Võ Nguyên Giáp, khi lực lượng tan rã, ông Đạo đã được dời về một chỗ ẩn nấp an toàn để có thể củng cố lực lượng. Lần này đã rành rọt về chuyện đưa người, tôi thu xếp thật chu đáo cho chuyến đi của ông Đạo bắt đầu từ Hải Phòng. Nhưng chuyến này vì đã nếm đủ mùi vị say sóng trên biển, tôi không đi cùng ông Đạo nữa.
Hè 1946 là một trong những mùa hè khốn khổ của các đảng phái quốc gia. Tuy tại Ba Lê, các cuộc đàm phán của ông Hồ hoàn toàn bế tắc, nhưng ở Việt Nam người thay thế ông Hồ là ông Võ Nguyên Giáp đã thành công rực rỡ trong việc tiêu diệt các lực lượng đối kháng. Trên chiến trường các lực lượng quốc gia đã bị ông Giáp đập tan hoặc bị ông đàn áp phải rút lui vào những miền rừng núi. Ở thành phố những đội công an Việt Minh đã khiến đời sống trốn tránh trở thành vạn phần khó khăn. Tôi chưa bao giờ ngủ cùng một chỗ hai đêm liên tục. Lúc nào tôi cũng phải cẩn trọng xem xét động tĩnh của mọi người, mọi vật. Tôi đã quen thuộc với cảm giác đưa tay sờ vào báng súng phía sau.
Cuộc sống của ông Trương Tử Anh cũng vậy. Ông bị truy nã gắt gao và cũng phải ẩn nấp mỗi đêm ở một chỗ hoàn toàn khác biệt. Mỗi cuộc họp lúc này gần như chỉ với một hai người. Qua những cuộc gặp gỡ và những lần gần gũi trong suốt mùa hè, tôi ngày càng thân thiết và kính trọng ông Trương Tử Anh.
Vào khoảng đầu tháng 9, sự thất bại của cuộc đàm phán giữa ông Hồ và Pháp tại Fontainebleau đã quá rõ ràng. Kết cục, ông Hồ và Ngoại Trưởng Pháp Marius Moutet đã ký kết một nghị định gọi là tạm ước. Lúc này việc bất đồng ý kiến giữa Pháp và Việt Minh đã rõ rành rành. Bản tạm ước ký kết giữa hai bên chẳng qua chỉ là một thỏa hiệp được đề ra để kéo dài thời gian trước khi động lực chiến tranh có đà phát động toàn độ. Theo những lời đồn đãi đã được thêu dệt thành lịch sử về sau thì khi ký tên vào thỏa hiệp ông Hồ đã nói rằng ông đang tự tay ký kết bản án tử hình của chính ông.
Nếu ông Hồ thật sự đã bình luận như vậy thì đây lại là một biến cố điển hình khác chứng tỏ tài lèo lái con thuyền chính trị của ông hơn là sự lo lắng của ông. Thật sự thì ngay cả khi thỏa hiệp đã được ký kết, ông Hồ cũng chẳng thấy cần phải vội vã quay về Hà Nội. Thay vì đi đường hàng không, ông Hồ lại trở về trên chuyến tàu Pháp trong một hành trình thong thả từ Toulon đến Hải Phòng, kéo dài hơn một tháng ròng. Đây không phải là hành động của một vị nguyên thủ đang bị lúng túng vì áp lực của những nhân viên cấp dưới. Thực ra thì lúc nào ông Hồ cũng làm chủ được tình hình. Tuy rằng mục đích thứ nhất của ông Hồ -Đòi hỏi Pháp phải ký kết một thỏa hiệp công nhận Việt Nam độc lập- đã không mang lại kết quả thiết thực, mục đích quan trọng thứ hai -Tìm cách hòa hoãn để ông Giáp rảnh tay tiêu diệt các lực lượng quốc gia đối kháng và củng cố các lực lượng Việt Minh để làm chủ tình hình Miền Bắc- đã thành công mỹ mãn.
Tuy không hề được biết rõ tường tận các diễn biến ở Fontainebleau, tôi đã được mục kích Việt Minh tiêu diệt các đảng phái quốc gia bằng con mắt của một nạn nhân. Vào mùa thu năm 1946, khi Việt Minh chuẩn bị ráo riết để bắt đầu cuộc chiến chống Pháp thì những đảng viên Đại Việt còn sống sót như chúng tôi hoàn toàn không dám lộ mặt. Đây quả là một thời gian bối rối và tuyệt vọng cho tất cả. Vì áp lực mạnh của công an Việt Minh, chúng tôi không đủ thời giờ tổ chức những buổi họp an toàn để có thể liên lạc với nhau hữu hiệu hơn. Đường lối hoạt động của đảng bỗng chốc trở nên những cuộc đếm người. Tổng số còn lại là bao nhiêu? Bao nhiêu người còn sống? Bao nhiêu người còn sống nhưng không dám lộ mặt? Những đường dây nào hãy còn hoạt động trong các tỉnh lị? Trong khi ông Hồ vắng mặt, ông Giáp đã làm việc thật kỹ lưỡng. Ông đã tận lực tảo thanh các lực lượng quân sự kết hợp của Đại Việt và VNQĐD và thiết lập một hệ thống an toàn ở khắp nơi trong phạm vi Bắc Việt. Ngay cả trước khi chiến tranh giành độc lập bắt đầu, Bắc Việt đã được chuyển thành một mạng lưới công an vô cùng hữu hiệu.
Giữa tình thế khốn cùng, ông Trương Tử Anh đã cố gắng không để lộ sự thất vọng đang ngày càng trào dâng. Ít nhất là ngoài mặt ông ta vẫn tỏ ra rất bình tĩnh, -gần như quá bình tĩnh- ông thường giữ kín những dự định của mình. Tuy đã đến bước đường cùng, chúng tôi vẫn tin tưởng rằng ông sẽ có cách kết hợp chúng tôi lại với nhau và củng cố để đảng có thể hoạt động lại như xưa. Một trong những giải pháp lúc này là cố gắng củng cố lực lượng ở Miền Nam khi lực lượng Việt Minh chưa hoàn toàn làm chủ tình hình. Giải pháp thứ hai là tạm thời chuyển các hoạt động ra ngoại quốc, tới một chi nhánh nhỏ của đảng ở Hồng Kông nơi ông chú tôi đang vận động. Đã có lần ông Trương Tử Anh hỏi tôi liệu có thể về Hồng Kông giúp sức hay không, nhưng tôi vẫn cứ trì hoãn. Ông chú tôi đã có hai người khác đang ở cùng là ông Đặng Văn Sung, người đã giới thiệu tôi vào Đại Việt khi trước và thày học cũ của tôi là ông Trần Văn Tuyên. Tôi cho rằng sự hiện diện của mình ở đó chỉ thêm thừa thãi. Mặc dù lúc này áp lực tại Hà Nội đang nặng nề, tôi vẫn không biết mình phải nên rời ông Trương Tử Anh để làm gì.
Vào một ngày đầu tháng 12-1946, cũng như những lần họp trước đây, tôi đến gặp ông Trương Tử Anh mà mãi không thấy bóng dáng ông đâu. Đã có vài lần như vậy trước đây nhưng lần nào cũng có tin nhắn lại. Lần này hoàn toàn chẳng có gì cả. Tôi đã đợi suốt ba tiếng, càng đợi càng sốt ruột, sợ rằng sẽ lọt vào tay công an Việt Minh. Hôm sau, một người bạn nói với tôi rằng chính anh ta cũng có hẹn với ông Anh và cũng chẳng thấy bóng dáng ông Anh đâu cả. Ông Trương Tử Anh hoàn toàn tuyệt tích. Tuy vậy có lẽ mọi người đều biết rõ số mệnh ông sẽ ra sao một khi ông bị lọt vào tay Việt Minh.
Trong Gọng Kèm Lịch Sử Trong Gọng Kèm Lịch Sử - Bùi Diễm Trong Gọng Kèm Lịch Sử