Đăng Nhập
Đăng nhập iSach
Đăng nhập = Facebook
Đăng nhập = Google
Quên Mật Khẩu
Đăng ký
Trang chủ
Đăng nhập
Đăng nhập iSach
Đăng nhập = Facebook
Đăng nhập = Google
Đăng ký
Tùy chỉnh (beta)
Nhật kỳ....
Ai đang online
Ai đang download gì?
Top đọc nhiều
Top download nhiều
Top mới cập nhật
Top truyện chưa có ảnh bìa
Truyện chưa đầy đủ
Danh sách phú ông
Danh sách phú ông trẻ
Trợ giúp
Download ebook mẫu
Đăng ký / Đăng nhập
Các vấn đề về gạo
Hướng dẫn download ebook
Hướng dẫn tải ebook về iPhone
Hướng dẫn tải ebook về Kindle
Hướng dẫn upload ảnh bìa
Quy định ảnh bìa chuẩn
Hướng dẫn sửa nội dung sai
Quy định quyền đọc & download
Cách sử dụng QR Code
Truyện
Truyện Ngẫu Nhiên
Giới Thiệu Truyện Tiêu Biểu
Truyện Đọc Nhiều
Danh Mục Truyện
Kiếm Hiệp
Tiên Hiệp
Tuổi Học Trò
Cổ Tích
Truyện Ngắn
Truyện Cười
Kinh Dị
Tiểu Thuyết
Ngôn Tình
Trinh Thám
Trung Hoa
Nghệ Thuật Sống
Phong Tục Việt Nam
Việc Làm
Kỹ Năng Sống
Khoa Học
Tùy Bút
English Stories
Danh Mục Tác Giả
Kim Dung
Nguyễn Nhật Ánh
Hoàng Thu Dung
Nguyễn Ngọc Tư
Quỳnh Dao
Hồ Biểu Chánh
Cổ Long
Ngọa Long Sinh
Ngã Cật Tây Hồng Thị
Aziz Nesin
Trần Thanh Vân
Sidney Sheldon
Arthur Conan Doyle
Truyện Tranh
Sách Nói
Danh Mục Sách Nói
Đọc truyện đêm khuya
Tiểu Thuyết
Lịch Sử
Tuổi Học Trò
Đắc Nhân Tâm
Giáo Dục
Hồi Ký
Kiếm Hiệp
Lịch Sử
Tùy Bút
Tập Truyện Ngắn
Giáo Dục
Trung Nghị
Thu Hiền
Bá Trung
Mạnh Linh
Bạch Lý
Hướng Dương
Dương Liễu
Ngô Hồng
Ngọc Hân
Phương Minh
Shep O’Neal
Thơ
Thơ Ngẫu Nhiên
Danh Mục Thơ
Danh Mục Tác Giả
Nguyễn Bính
Hồ Xuân Hương
TTKH
Trần Đăng Khoa
Phùng Quán
Xuân Diệu
Lưu Trọng Lư
Tố Hữu
Xuân Quỳnh
Nguyễn Khoa Điềm
Vũ Hoàng Chương
Hàn Mặc Tử
Huy Cận
Bùi Giáng
Hồ Dzếnh
Trần Quốc Hoàn
Bùi Chí Vinh
Lưu Quang Vũ
Bảo Cường
Nguyên Sa
Tế Hanh
Hữu Thỉnh
Thế Lữ
Hoàng Cầm
Đỗ Trung Quân
Chế Lan Viên
Lời Nhạc
Trịnh Công Sơn
Quốc Bảo
Phạm Duy
Anh Bằng
Võ Tá Hân
Hoàng Trọng
Trầm Tử Thiêng
Lương Bằng Quang
Song Ngọc
Hoàng Thi Thơ
Trần Thiện Thanh
Thái Thịnh
Phương Uyên
Danh Mục Ca Sĩ
Khánh Ly
Cẩm Ly
Hương Lan
Như Quỳnh
Đan Trường
Lam Trường
Đàm Vĩnh Hưng
Minh Tuyết
Tuấn Ngọc
Trường Vũ
Quang Dũng
Mỹ Tâm
Bảo Yến
Nirvana
Michael Learns to Rock
Michael Jackson
M2M
Madonna
Shakira
Spice Girls
The Beatles
Elvis Presley
Elton John
Led Zeppelin
Pink Floyd
Queen
Sưu Tầm
Toán Học
Tiếng Anh
Tin Học
Âm Nhạc
Lịch Sử
Non-Fiction
Download ebook?
Chat
Trong Gọng Kèm Lịch Sử
ePub
A4
A5
A6
Chương trước
Mục lục
Chương sau
Chương 6 -Anh, Tàu, Và Pháp
V
ài ngày sau ông chú tôi cho phép tôi về Hà Nội. Lúc tôi đến nơi thì tình hình chính trị đã biến thành rắc rối, phức tạp. Mặc dầu thế chiến thứ II đã chấm dứt, lúc này vẫn còn một lực lượng quân đội Nhật rất hùng hậu đóng ở Việt Nam. Quân đội đồng minh đã chỉ định Anh Quốc đứng ra tước vũ khí Nhật và giữ gìn an ninh công cộng ở Miền Nam Việt Nam. Ở Miền Bắc những công việc giải giới tương tự được giao cho Trung Hoa.
Đối với tôi và các đảng viên khác trong đảng Đại Việt thì đây chính là lúc củng cố, tổ chức, dự đoán và sửa soạn cho một tương lai mà ai cũng phải thấy là đầy sóng gió. Các đảng phái quốc gia thấy rằng họ phải đề ra một chiến lược chung, để đối phó với chiến lược của Việt Minh. Lúc này Việt Minh đã biết vận động khéo léo để nắm chính quyền. Nhưng ngay trước khi các buổi thảo luận bắt đầu thì có tin đồn là quân Anh đã cho phép một đạo quân Pháp đổ bộ vào Sài Gòn. Khoảng giữa tháng 9 đã có những trận đụng độ xảy ra giữa Pháp và Việt Nam. Pháp đã đụng độ với cả Việt Minh lẫn các đảng phái Quốc Gia. Trong khi đó thì quân Trung Hoa sắp kéo sang Hà Nội. Tình hình phức tạp của thế giới sau thế chiến thứ hai đã khiến các đảng phái quốc gia ở vào thế tấn thối lưỡng nan. Lúc này quân đội đồng minh bao gồm Hoa Kỳ, Anh Quốc và Pháp đã đánh bại quân đội Phát Xít của Đức, Ý và Nhật. Họ đang cử những quốc gia khác chẳng hạn như Trung Hoa sang Việt Nam để giải giới quân đội Nhật. Vì Pháp là đồng minh của Anh và Hoa Kỳ trong thế chiến thứ II nên các phần tử quốc gia ở Việt Nam sợ rằng Hoa Kỳ và Anh sẽ ủng hộ hoặc nhắm mắt làm lơ cho chính quyền thực dân của Pháp được tự do hoạt động ở Việt Nam. Tuy thế, khi có tin rằng quân đội Tàu sẽ sang Việt Nam để giải giới quân đội Nhật thì các phần tử quốc gia lại lo rằng Tàu sẽ lợi dụng cơ hội này để đem quân sang chiếm đóng ở Việt Nam. Đó là còn chưa nói đến vấn đề các đảng phái quốc gia cần phải đề phòng Việt Minh.
Chỉ mới sau hai tuần nắm chánh quyền, Việt Minh đã phải động viên kêu gọi tất cả cùng giúp đỡ. Trong hoàn cảnh lãnh đạo chưa hoàn toàn vững chãi và đồng thời bắt buộc phải đương đầu với Nhật, Tàu, Pháp và Anh Quốc, ông Hồ Chí Minh đã nỗ lực kêu gọi tất cả các đồng minh và cố giữ lòng dân ở một mức độ cực cao. Những cuộc hội họp chống đối làm đường phố Hà Nội sôi sục. Đã đành rằng biểu tình chống Pháp là một cách để phát tiết những căm hờn sâu xa, nhưng ông Hồ đã cố khích động dân chúng dưới mọi hình thức. Những vận động của ông Hồ bất chấp cả mục tiêu, chỉ cốt sao tạo được cơ hội vận động dân chúng cùng đoàn kết cho một lý tưởng chung. Đã có cả một cuộc biểu tình chống lại lãnh tụ độc tài Francisco Franco của Tây Ban Nha, mặc dầu trong cả trăm ngàn người Việt chưa chắc đã có lấy một người nghe đến tên nhân vật này bao giờ.
Trong khi tất cả Pháp, Trung Hoa, Nhật và Anh Quốc đều bị Việt Nam nghi ngờ thì chỉ có một quốc gia được hoan nghênh là Hoa Kỳ. Cảm tình nồng nhiệt của dân chúng Việt Nam đối với người Hoa Kỳ lúc này phát xuất là do một tia hy vọng mong manh rằng: May ra người Mỹ có thể vãn hồi được tình thế. Kể từ khoảng một năm về trước, mối cảm tình đầu tiên của Việt Nam đối với Hoa Kỳ bắt đầu từ lúc có tin đồn rằng tổng thống Roosevelt ủng hộ việc đặt Việt Nam dưới sự quản trị của một ủy ban của Liên Hiệp Quốc để tiến dần tới độc lập. Quan niệm của Tổng Thống Roosevelt truyền đi thật mau lẹ qua các tầng lớp trí thức, chính khách và để lại một ấn tượng sâu xa.
Trong khi Pháp và Tàu đang tranh dành ảnh hưởng ở Việt Nam, chỉ có Hoa Kỳ là một thế lực có thể can thiệp. Sau Đệ Nhị Thế Chiến, Hoa Kỳ đã xuất hiện như một cường quốc giàu mạnh, được thế giới xem là một nước yêu chuộng tự do và không ủng hộ chế độ thực dân. Chúng tôi không hiểu tại sao Hoa Kỳ lại để cho Pháp và Tàu vào Việt Nam. Nhưng chính Hoa Kỳ lại cũng có đại biểu riêng của họ ở Việt Nam. Vì vậy sự hiện diện của họ đã mang lại niềm hy vọng lớn lao là Hoa Kỳ có chú ý đến vấn đề Việt Nam. Và một khi họ đã để ý đến vấn đề thì họ có thể bị lôi kéo vào cuộc. Tuy đây quả là một nguồn hy vọng vô căn cứ nhưng tin đồn lúc này vẫn có đủ vẻ thực tế để thu hút những kẻ đang cố bám vào hy vọng. Quả tình chính tôi cũng không hiểu rõ liệu ông Hồ và những đồng chí của ông có thật sự cho rằng họ có thể cộng tác với Mỹ hay không, nhưng chắc chắn là lúc đó ông Hồ rất muốn cộng tác với Mỹ thay vì với Tàu hoặc Pháp. Vả chăng, nếu Việt Minh không thể cộng tác với Hoa Kỳ thì ít ra ông Hồ cũng có thể dùng sự hiện diện của Mỹ để gây uy tín trong nước. Lẽ tất nhiên là cơ quan tuyên truyền của Việt Minh đã lợi dụng tối đa tất cả những thiện cảm phái đoàn Mỹ dành cho họ. Hai vị sĩ quan Mỹ được nhiều người biết đến là Thiếu Tá Archimedes Patti và Tướng Phillip Gallagher lúc này chẳng những đã được toàn thể dân chúng Hà Nội ngưỡng mộ mà còn được chánh quyền ông Hồ tâng bốc không tiếc lời. Oái ăm thay, trong một thành phố đầy dẫy những bích chương và khẩu hiệu chống đế quốc, hình ảnh chiếc xe díp của Thiếu Tá Patti cắm ngọn cờ Mỹ thường xuyên được những đám người ngưỡng mộ hoan hô. Dân chúng Hà Nội chỉ muốn gặp và chiêm ngưỡng hai vị đại biểu Hoa Kỳ.
Những cán bộ tuyên truyền cho Việt Minh lúc đó tuyên truyền rằng ông Hồ và Võ Nguyên Giáp đang điều đình với người Mỹ, cốt để được chánh phủ Mỹ chánh thức công nhận. Hội Hữu Nghị Việt-Mỹ được thiết lập và nhiều buổi tiếp tân của Hội Hữu Nghị đã biến thành những dịp tung hô hai ông Patti và Gallagher. Tôi vẫn còn nhớ những lá cờ đỏ, trắng và xanh dùng làm màn cho sảnh đường của Hội Hữu Nghị. Hy vọng tỏa ra qua các buổi họp chỉ nhờ sự hiện diện của hai vị sĩ quan Hoa Kỳ. Trong bộ đồng phục cả hai trông thật đẹp trai và lịch sự. Mọi người, trong số có cả tôi đều nô nức đến bắt tay. Trong những buổi họp luôn luôn có những cuộc đàm thoại vây quanh vấn đề thiết lập một Ủy Ban Quản Trị cho Việt Nam. Mặc dầu cả Thiếu Tá Patti lẫn tướng Gallagher đều chẳng nói gì thiết thực, chuyện đó vẫn không thành vấn đề. Chỉ cần sự hiện diện của họ cũng đã đủ để mọi người lên tinh thần.
Trong những ngày này, Việt Nam thật chẳng khác nào một cô gái quê mùa bị những người chủ gian ác, bất cần liên tục hà hiếp. Pháp, Nhật và Tàu đều ngược đãi cô ta. Rồi trong lúc đang đau khổ tuyệt vọng, bỗng một hoàng tử hào hoa và đẹp trai hiện ra. Đối với Việt Nam thì Hoa Kỳ quả là một tiếng sét ái tình.
Chẳng may, tình yêu này lại không bao giờ được đền đáp. Mặc dù thiếu tá Patti rất ngưỡng mộ các lãnh tụ Việt Minh, và mặc dầu những lãnh tụ này cố khoa trương sự chú tâm của Hoa Kỳ, rõ ràng sự móc nối với Hoa Kỳ vẫn hoàn toàn chẳng đi đến đâu. Vì lý do này hay lý do khác, Hoa Thịnh Đốn đã khoanh tay nhất định không làm bất cứ điều gì có thể thay đổi các biến cố đang ngày càng biến hóa và phức tạp tại Việt Nam. Ông Hồ Chí Minh và Võ Nguyên Giáp chỉ phải bận tâm đương đầu với Tàu và Pháp, trong khi đó các đảng phái còn lại phải lo âu về những toan tính của cả Pháp, lẫn Tàu và Việt Minh.
Vào cuối tháng 9, quân đội Trung Hoa kéo vào Hà Nội. Trông họ thật là thê thảm -bệnh hoạn, rách rưới và đói kém vì thiếu ăn. Nếu quân Nhật trông gọn gàng, sạch sẽ bao nhiêu thì quân đội Tàu trông càng giống một đội quân ăn cắp bấy nhiêu. Lúc nào những binh sĩ Tàu cũng sẵn sàng vồ vập kể từ cả những thứ vặt vãnh nhất trở đi. Chẳng bao lâu sau, đúng như mọi người tiên liệu, quân đội Tàu ùa vào Việt Nam như thể một bầy châu chấu đói và ăn cắp bất kỳ thứ gì để hở.
Quân Tàu đến ồ ạt, làm gia tăng nạn đói đã hoành hành ở miền Bắc kể từ năm trước. Nạn Nhật tịch thu lúa gạo cộng thêm với những vụ mất mùa liên tiếp đã khiến nạn đói hoành hành dữ dội ở những vùng đồng bằng Bắc Việt. Vào mùa thu năm 1945, nạn đói trở thành trầm trọng. Ở Hà Nội, nông dân từ những vùng mất mùa lang thang khắp các nẻo đường phố. Xác người chết đói nằm đầy dẫy hai bên vỉa hè và ở các ngã tư. Tại Đông Dương Học Xá, chúng tôi chia thành từng toán ra thành phố mỗi sáng phụ giúp dọn dẹp những xác chết còn sót lại từ ngày hôm trước.
Tuy hoành hành ở khắp mọi nơi khốc liệt là thế mà nạn đói vẫn chẳng hề làm giảm bớt các hoạt động chính trị chút nào. Mỗi ngày Việt Minh vẫn dục trống kêu gọi hội họp vì chuyện này hay chuyện khác. Khi ngân khố hoàn toàn kiệt quệ, Việt Minh tổ chức chiến dịch Tuần Lễ Vàng, thúc dục mọi người đóng góp nhẫn, đồ trang sức và vàng cho nhà nước. Chỉ một thời gian ngắn ngay sau khi Tuần Lễ Vàng phát động, ông Hồ Chí Minh đã xoa dịu tướng Lư Hán của Tàu bằng cách biếu vị tướng nghiện thuốc phiện này một bộ ống điếu vàng. Số tiền còn lại Việt Minh dùng để mua súng ống.
Song song với việc xoa dịu quân đội Trung Hoa, ông Hồ tiếp tục nỗ lực hô hào dân chúng giúp đỡ Việt Minh. Đối với ông Hồ và Võ Nguyên Giáp thì sinh viên đứng vào thành phần ưu tiên. Cả hai đều dành thời giờ thăm viếng Đông Dương Học Xá để vận động lấy lòng sinh viên. Một buổi tối, khoảng đầu tháng 10-1945, tôi gặp ông Võ Nguyên Giáp khi ông vào khuôn viên nói chuyện về cách mạng và các biến cố tháng tám. Vì đã biết chuyện Việt Minh lật lọng đối với chính quyền Trần Trọng Kim và còn nhớ những Ủy Ban Nhân Dân ở thôn Vĩ Dạ, tôi không hề để tâm lắng nghe. Mặc dầu vậy, tôi rất hân hoan khi gặp lại ông Giáp. Sau khi ông Giáp đã nói chuyện, tôi có đến chào hỏi. Chúng tôi chưa hề gặp nhau đã năm năm qua kể từ ngày ông Giáp bỏ lớp vào bưng.
Sau đó không bao lâu, chính ông Hồ lại đích thân đến thăm Đông Dương Học Xá. Đây là lần đầu mà cũng là lần cuối tôi gặp ông Hồ. Cũng như ông Giáp, ông Hồ đến Đông Dương Học Xá vì các sinh viên đã không hoàn toàn ủng hộ việc Việt Minh cướp chính quyền. Trong số người hoan nghênh ông Hồ dĩ nhiên cũng có vài lãnh tụ sinh viên vốn đã là đảng viên Việt Minh. Tuy vậy cũng có rất nhiều sinh viên khác không tán thành hẳn những chủ trương cùng hành động của ông Hồ.
Khi ông Hồ đến thăm Đông Dương Học Xá thì hành trình thăm viếng của ông có ghé ngang nhiều tòa nhà, kể cả tòa nhà nội trú. Một học sinh ở cùng một dãy hành lang với tôi, tôi còn nhớ tên là Hoan, là người không có cảm tình với đảng phái ông Hồ, đã cố tâm làm nhục ông Hồ. Tôi cứ nhớ mãi câu chuyện khó quên. Khi ông Hồ vừa bước vào căn nội trú của chúng tôi thì Hoan vào phòng tắm. Và khi vị chủ tịch của nền dân chủ mới bước vào hành lang thì cửa phòng tắm bỗng sịch mở. Hoan đứng ngay chỗ cửa, người hoàn toàn trần truồng và ướt nhẹp. Giả vờ vừa xấu hổ, vừa ngạc nhiên Hoan làm như bối rối, xoay qua xoay lại, cố gắng vừa đắp điếm một cách thô kệch vừa xin lỗi.
Nhưng Hoan hoàn toàn thất bại. Ông Hồ nhìn thẳng vào Hoan cười tủm tỉm: "Các chú thì lúc nào cũng đùa cợt được!" Tôi cũng đứng đó, chỉ cách ông Hồ vài bước, quan sát thật kỹ lưỡng. Trước mắt tôi, ông Hồ, vị chủ tịch của một nước không hề có vẻ giả dối chút nào. Sau đó, ông đến tận từng phòng, tự giới thiệu, bắt tay mọi người bằng cử chỉ thân mật quen thuộc. Gặp ai ông cũng có vài câu chuyện hỏi thăm. Chẳng có chuyện nào đặc biệt hoặc đáng nhớ cả. Nhưng tôi có cảm tưởng là ông là một người đóng kịch có tài. Quả thực ông là một chính trị gia và đặc biệt hôm ấy ông đã đóng kịch rất giỏi.
Vào khoảng tháng 11, chẳng bao lâu sau khi quân Tàu kéo đến, tôi từ giã bạn bè ở Hà Nội và ngược lên mạn Bắc về phía Lào Kay để gia nhập trại huấn luyện quân sự của Đại Việt. Việc mà tôi đã phải hoãn lại trước đây khi tôi vào Huế. Lúc này, khi nhận thấy cùng bị Việt Minh đe dọa, các đảng phái quốc gia đã bắt đầu biết đâu lưng để củng cố lực lượng. Đại Việt và Việt Nam Quốc Dân Đảng cùng liên kết quân sự và đã thiết lập trường huấn luyện quân sự chung tại Chapa ở Lào Kay.
Lạ lùng thay, những huấn luyện viên quân sự lại là người Nhật. Bị quân đội Trung Hoa tước vũ khí, đã có vài quân nhân Nhật đến làm việc cho các đảng phái quốc gia. Khi đi họ mang theo cả vũ khí. Tất cả những vũ khí dùng ở Lào Kay đều là của Nhật. Đây là một trong những lúc mà tôi phải gạt phắt mọi sự để thật sự khép mình vào quân kỷ của Nhật.
Những sĩ quan Nhật trông coi việc tổ chức trại đều mặc đồng phục Nhật, nhưng không hiểu vì lý do gì đã lấy tên hoàn toàn Việt Nam. (Không có sĩ quan Nhật nào nói được tiếng Việt. Mọi mệnh lệnh đều được truyền qua thông dịch viên.) Vị Đại Tá chỉ huy người Nhật có bí danh là Hùng. Ông ta ngỏ lời chào 300 sinh viên quân sự như sau: "Chúng tôi đến đây để giúp người Việt các anh trở thành những người lãnh đạo nước Việt. Tuy rằng chúng tôi đã mất tất cả, chúng tôi sẽ huấn luyện các anh. Sau khi tốt nghiệp khóa huấn luyện các anh sẽ trở thành những võ sĩ đạo Việt Nam."
Cuộc huấn luyện võ sĩ đạo bắt đầu vào ngày hôm sau. Kể từ sáng đó, chúng tôi bị gọi dậy bằng tiếng còi xé tai xuyên qua không khí núi rừng lạnh lẽo. Trên thao trường chúng tôi đứng nghiêm, chăm chú nhìn lá cờ hai màu trắng, xanh của VNQĐD được kéo lên cao. Sau đó, quay về hướng mặt trời đang lên, chúng tôi cúi đầu thầm ôn lại những điều tâm niệm đối với quốc gia.
Mặc niệm xong, chúng tôi ráo riết tập luyện thể dục trong nửa giờ, bắt đầu một ngày dài diễn hành, tập luyện xử dụng vũ khí rồi cuối cùng học tập chiến thuật và chiến lược. Chương trình tập luyện kéo dài sáu tháng. Khi chương trình tập luyện hoàn thành Đại Việt và VNQĐD sẽ có một nhóm cán bộ để thiết lập và dìu dắt quân đội chung cho cả hai đảng. Tuy vậy, chẳng có bao nhiêu người trong chúng tôi học hết được chương trình huấn luyện. Biến cố đã không cho phép những người quốc gia có đủ thời gian rảnh rỗi để đào luyện những người lãnh đạo cần thiết. Riêng tôi phải về lại Hà Nội vào tháng hai năm ấy, ngay sau Tết Nguyên Đán.
Ông Trương Tử Anh gọi tôi về để giao phó một nhiệm vụ đặc biệt trước khi về Hà Nội. Tôi đoán được rằng thế nào việc cũng sẽ liên quan đến chú tôi. Quả nhiên những tiên đoán của tôi hoàn toàn đúng hẳn. Khoảng ba, bốn tuần sau khi từ chức, chú tôi đã trở về căn nhà trước kia tại Hà Nội. Mặc dầu kể từ khi từ chức, chú tôi chưa hề tham gia chính trị một cách lộ liễu, nhưng vì là cựu Thủ Tướng nên ông đã trở thành hấp lực của phong trào chống cộng. Về phía Việt Minh thì vì đang cần có sự hợp tác của các phần tử quốc gia trong giai đoạn đó nên họ đã nhắm mắt làm ngơ và chưa có hành động gì để đối phó với ông chú tôi.
Ông chú tôi lúc này đã thay đổi nhiều và về phương diện chính trị có lẽ đã bắt đầu hiểu cộng sản rõ hơn lúc trước. Khoảng tháng 7, có lúc ông đã nghĩ rằng Việt Minh có thể giúp được nhiều vào việc lấy lại độc lập cho đất nước. Tháng tám, ông từ chức sau cuộc nổi dậy chớp nhoáng của Việt Minh. Rồi đến tháng chín thì gần như ở vào một tình trạng không còn ảo vọng gì về Việt Minh nữa. Ông dần dần để ý đến những lời thuyết phục của ông Trương Tử Anh, nhất là về vấn đề phải gây một lực lượng để đối phó với Việt Minh Cộng Sản. Ông đã để ý lắng nghe kỹ lưỡng dự tính đối lập Việt Minh của ông Trương Tử Anh. Nhất là khi ông Anh đề cập đến vấn đề phải mượn thêm thế lực hậu thuẫn từ bên ngoài.
Chiến lược của ông Trương Tử Anh lúc đó có thể gồm trong hai điểm cơ bản. Một mặt ở trong nước, ông và các đồng minh bên trong VNQĐD sẽ nỗ lực thiết lập một hệ thống quân sự vững mạnh (Như trại huấn luyện quân sự Lào Kay). Còn ở ngoài nước thì ông cố gắng tìm thêm sự ủng hộ từ phía bên ngoài. Việc này ông chú tôi có thể giúp sức. Vì đã từng đứng đầu chính phủ, ông chú tôi được nhiều nhân vật quốc tế biết đến. Ông lại còn có tiếng là người liêm khiết. Những lợi điểm vừa kể sẽ khiến ông chú tôi trở thành một nhân vật có thể đứng ra kêu gọi đồng minh nước ngoài ủng hộ. Vì đã hiểu rõ được những mánh khoé cách mạng của ông Hồ, ông chú tôi cảm thấy lãnh tụ Đại Việt có thể là một đồng minh đáng tin cậy. Và cũng vì vậy, ông Trương Tử Anh gọi tôi về để nhờ tôi tìm đường để đưa ông chú tôi sang Hồng Kông.
Trong khi đó thì ông Bảo Đại cũng trải qua một giai đoạn trưởng thành chính trị tương đương. Chính ông Bảo Đại cũng đã từ chức vì áp lực của Việt Minh, từ bỏ ngôi vua để trở thành một thường dân. Câu tuyên bố: "Thà là dân một nước tự do còn hơn làm vua một nước nô lệ." là một hành động cao thượng và đáng nhớ. Liền ngay sau khi ông Bảo Đại từ chức ông Hồ đã chứng tỏ kinh nghiệm lão luyện chính trị bằng cách đích thân mời ông Bảo Đại về Hà Nội làm "cố vấn tối cao" cho chánh quyền Việt Minh. Khi mời cố vấn Vĩnh Thụy về cùng hợp tác, ông Hồ đã lợi dụng được triệt để tất cả những gì mà ông có thể lợi dụng. Khi mời ông Bảo Đại chẳng những đã mang lại cho ông Hồ hình ảnh tốt đẹp của một lãnh tụ không mang tâm hiềm khích mà còn khiến cho dân chúng tin tưởng rằng chánh quyền của ông đã được Cựu Hoàng ủng hộ. Nhưng có lẽ quan trọng hơn cả là một khi ông Bảo Đại đã chấp thuận về cùng thì việc giám sát và quản cố Cựu Hoàng trở nên dễ dàng như trở bàn tay. Một khi đã về Hà Nội chắc chắn Cựu Hoàng không còn cơ hội để ủy thác quyền hành cho bất kỳ đảng phái nào khác.
Khi về Hà Nội ông Bảo Đại được các lãnh tụ Việt Minh tiếp đãi thập phần kính trọng. Tuy thế sự kính trọng vẫn chẳng thể làm cho ông Bảo Đại quên được rằng ông đã bị Việt Minh lợi dụng.
Khoảng đầu năm 1946, ông Bảo Đại đã dần dần tìm cách cắt đứt mọi liên lạc với Việt Minh và đang cố tìm một lối thoát thân. Ngay trong lúc này ông Hồ cũng có vẻ chấp thuận sự ra đi của Cựu Hoàng. Có lẽ một phần là do Cựu Hoàng đã đóng hết vai trò chính là Hợp Thức Hóa chánh phủ Việt Minh. Chẳng hiểu ông Hồ suy nghĩ thế nào mà lại để cho ông Bảo Đại có cơ hội dẫn đầu một phái đoàn đại biểu đến Trung Hoa. Có thể ông Hồ đã nghĩ rằng ông Bảo Đại sẽ ở lại Trùng Khánh, (lúc bấy giờ là thủ đô Trung Hoa.) Một khi ông Bảo Đại đã ở lại thì ông Hồ chẳng cần phải lo toan gì nữa.
Khi có lời đồn về việc ông Bảo Đại sắp sang Trung Hoa thì ông Trương Tử Anh quyết định đã đến lúc thời cơ chín mùi để đưa ông chú tôi sang Trung Hoa. Đây là nhiệm vụ tôi được ông Anh giao phó khi ông cho lệnh vời tôi từ trên Chapa trở về.
Mặc dầu ông chú tôi chưa bị Việt Minh đe dọa, cuộc chiến tranh ngấm ngầm giữa Việt Minh và các đảng phái quốc gia đã trở thành những cuộc tàn sát. Vào khoảng cuối năm, Việt Minh đã tổ chức ám sát nhiều người mang khuynh hướng chính trị đối lập. Trong số những người đối lập đã bị Việt Minh ám sát lúc này có lãnh tụ Huỳnh Phú Sổ của Hòa Hảo ở Miền Nam; lãnh tụ Đệ Tứ Cộng Sản Tạ Thu Thâu, ông Ngô Đình Khôi, anh của tổng thống Ngô Đình Diệm và học giả Phạm Quỳnh, Thượng Thư của Triều Đình cũ. Trong số những bạn thân của tôi nhiều người cũng lần lượt mất tích. Quản Trọng Ưng và Đặng Vũ Chu ở trường thuốc bị Việt Minh bắt rồi sau đó biệt vô âm tín. Nhiều người bạn của tôi ở trường đại học, trong đó có hai anh em là Đặng Văn Bút và Đặng Văn Nghiên và nhiều người khác bị bắn gục ở Yên Bái. Người bạn giới thiệu tôi với ông Trương Tử Anh là Phúc cũng bị hạ sát tại Hà Nội. Hàng loạt đảng viên Đại Việt lần lượt bị tàn sát. Một đôi khi còn tìm được thi thể. Phần nhiều hoàn toàn mất tích.
Trong khi khủng bố bí mật lan rộng thì ông Hồ vẫn liên tiếp thương thảo mềm dẻo với Pháp và Tàu. Đã nhiều tháng qua toàn bộ Miền Nam đắm chìm trong chiến tranh du kích. Quân đội Anh với quân số nhỏ nhen chiếm đóng trong nước đã cho Pháp mang quân đội vào Việt Nam. Lúc này đã có rất nhiều thành phố và các tỉnh lớn nằm trong tay Pháp, trong khi các lực lượng chống cự Việt Nam bị đẩy lui về các miền đồng bằng và các căn cứ hiểm trở. Ở phân nửa miền Bắc Việt Nam, 200,000 quân Trung Hoa đang chiếm đóng đã ngăn chận mưu toan trở lại của Pháp. Nhưng vào khoảng cuối tháng hai, có tin rằng đại biểu của Pháp và Tàu đang đàm phán việc cho phép Pháp trở lại miền Bắc để đổi lại việc Pháp sẽ hủy bỏ các điều khoản nhượng bộ ở Tàu trước chiến tranh.
Ông Hồ hiểu rằng tình thế sẽ bắt buộc ông phải trực tiếp đương đầu với Pháp. Quân đội chiếm đóng Trung Hoa đã góp phần tiếp trợ ông Hồ, cho Việt Minh gần 6 tháng để củng cố lực lượng. Sự hiện diện của quân đội Trung Hoa đã buộc Pháp không thể vào Miền Bắc. -Đây là một việc mà tại Miền Nam người Anh đã thất bại hoàn toàn. Nhưng thực sự thì sự liên hệ giữa ông Hồ và người Tàu chẳng khác nào con dao hai lưỡi. Nói chung thì vì Việt Nam đã từng bị Tàu đô hộ suốt 1000 năm nên những mưu đồ tối hậu của Tàu không thể che mắt được bất cứ người Việt Nam nào. Và nói riêng thì vì những quân đội Tàu sang giải giới Nhật là quân đội của Tưởng Giới Thạch nên họ đã cấp dưỡng viện trợ và khích lệ những đối thủ của ông Hồ như VNQĐD và Đại Việt.
Kết quả là vào tháng 2 năm 1946, ông Hồ mở cuộc đàm phán với đại biểu Jean Sainteny của Pháp. Về phía những người quốc gia, mặc dầu không mấy ai hiểu tường tận những chi tiết của vấn đề nhưng tất cả đều biết đàm phán hiện đang tiến hành. Tất cả đều căm phẫn ông Hồ vì việc đàm phán và đồng cảm thấy cực kỳ phẫn khích khi biết Pháp sẽ lại một lần nữa quay lại Việt Nam. Tuy các đảng phái quốc gia không thể trách móc việc Tàu rút quân, việc rút quân của Tàu vào giữa lúc các đảng quốc gia hãy còn đang củng cố lực lượng đã làm tất cả rúng động. Nguyên khi quân đội Tàu đóng ở Hà Nội để giải giới Nhật thì cả Việt Minh lẫn Pháp đều phải e dè sự hiện diện của họ. Lúc này, khi quân đội Tàu rút đi thì hàng rào chống đỡ vô hình đó bỗng bi rút đi và các đảng quốc gia bỗng nhiên thấy họ phải trực diện với các lực lượng của Việt Minh và Pháp.
Khoảng tháng 6, ông Hồ và Sainteny cùng ký một thỏa ước. Trong bản hòa ước ký kết, Pháp công nhận Việt Nam là một nước tự do độc lập "nằm trong khối liên hiệp Pháp" để đổi lại, Việt Nam đồng ý để cho người Pháp chiếm đóng có sự hiện diện quân sự tại một vài nơi trong vòng 5 năm. Mọi người đều biết lập luận của ông Hồ và Việt Minh về việc ký kết thỏa ước là "Thà ngửi cứt Tây 5 năm còn hơn ăn cứt Tàu 1000 năm." Tuy vậy, trong mọi tầng lớp, việc Việt Minh cho phép Pháp trở lại vẫn gây ra ấn tượng sâu xa. Hai tuần sau khi ký kết, lúc tôi đang ở ban công nhà thương Phủ Doãn tại Hà Nội với một nhóm bạn là bác sĩ, trong số có một vài người là đảng viên Đại Việt, thì ngay phía dưới 15 ngàn quân Pháp đang diễn hành dưới sự thống lãnh của tướng Jacques Philippe Leclerc. Nhìn họ, bọn tôi cảm thấy cay đắng dâng trào. Quang cảnh chẳng khác nào Việt Nam đang trở lại thời kỳ nô lệ. Hai bên đường các Pháp kiều ngụ tại Hà Nội đứng tung hô. Trên ban công chúng tôi cố gắng gạt những giọt lệ căm phẫn và tủi nhục.
Chương trước
Mục lục
Chương sau
Trong Gọng Kèm Lịch Sử
Bùi Diễm
Trong Gọng Kèm Lịch Sử - Bùi Diễm
https://isach.info/story.php?story=trong_gong_kem_lich_su__bui_diem