Đăng Nhập
Đăng nhập iSach
Đăng nhập = Facebook
Đăng nhập = Google
Quên Mật Khẩu
Đăng ký
Trang chủ
Đăng nhập
Đăng nhập iSach
Đăng nhập = Facebook
Đăng nhập = Google
Đăng ký
Tùy chỉnh (beta)
Nhật kỳ....
Ai đang online
Ai đang download gì?
Top đọc nhiều
Top download nhiều
Top mới cập nhật
Top truyện chưa có ảnh bìa
Truyện chưa đầy đủ
Danh sách phú ông
Danh sách phú ông trẻ
Trợ giúp
Download ebook mẫu
Đăng ký / Đăng nhập
Các vấn đề về gạo
Hướng dẫn download ebook
Hướng dẫn tải ebook về iPhone
Hướng dẫn tải ebook về Kindle
Hướng dẫn upload ảnh bìa
Quy định ảnh bìa chuẩn
Hướng dẫn sửa nội dung sai
Quy định quyền đọc & download
Cách sử dụng QR Code
Truyện
Truyện Ngẫu Nhiên
Giới Thiệu Truyện Tiêu Biểu
Truyện Đọc Nhiều
Danh Mục Truyện
Kiếm Hiệp
Tiên Hiệp
Tuổi Học Trò
Cổ Tích
Truyện Ngắn
Truyện Cười
Kinh Dị
Tiểu Thuyết
Ngôn Tình
Trinh Thám
Trung Hoa
Nghệ Thuật Sống
Phong Tục Việt Nam
Việc Làm
Kỹ Năng Sống
Khoa Học
Tùy Bút
English Stories
Danh Mục Tác Giả
Kim Dung
Nguyễn Nhật Ánh
Hoàng Thu Dung
Nguyễn Ngọc Tư
Quỳnh Dao
Hồ Biểu Chánh
Cổ Long
Ngọa Long Sinh
Ngã Cật Tây Hồng Thị
Aziz Nesin
Trần Thanh Vân
Sidney Sheldon
Arthur Conan Doyle
Truyện Tranh
Sách Nói
Danh Mục Sách Nói
Đọc truyện đêm khuya
Tiểu Thuyết
Lịch Sử
Tuổi Học Trò
Đắc Nhân Tâm
Giáo Dục
Hồi Ký
Kiếm Hiệp
Lịch Sử
Tùy Bút
Tập Truyện Ngắn
Giáo Dục
Trung Nghị
Thu Hiền
Bá Trung
Mạnh Linh
Bạch Lý
Hướng Dương
Dương Liễu
Ngô Hồng
Ngọc Hân
Phương Minh
Shep O’Neal
Thơ
Thơ Ngẫu Nhiên
Danh Mục Thơ
Danh Mục Tác Giả
Nguyễn Bính
Hồ Xuân Hương
TTKH
Trần Đăng Khoa
Phùng Quán
Xuân Diệu
Lưu Trọng Lư
Tố Hữu
Xuân Quỳnh
Nguyễn Khoa Điềm
Vũ Hoàng Chương
Hàn Mặc Tử
Huy Cận
Bùi Giáng
Hồ Dzếnh
Trần Quốc Hoàn
Bùi Chí Vinh
Lưu Quang Vũ
Bảo Cường
Nguyên Sa
Tế Hanh
Hữu Thỉnh
Thế Lữ
Hoàng Cầm
Đỗ Trung Quân
Chế Lan Viên
Lời Nhạc
Trịnh Công Sơn
Quốc Bảo
Phạm Duy
Anh Bằng
Võ Tá Hân
Hoàng Trọng
Trầm Tử Thiêng
Lương Bằng Quang
Song Ngọc
Hoàng Thi Thơ
Trần Thiện Thanh
Thái Thịnh
Phương Uyên
Danh Mục Ca Sĩ
Khánh Ly
Cẩm Ly
Hương Lan
Như Quỳnh
Đan Trường
Lam Trường
Đàm Vĩnh Hưng
Minh Tuyết
Tuấn Ngọc
Trường Vũ
Quang Dũng
Mỹ Tâm
Bảo Yến
Nirvana
Michael Learns to Rock
Michael Jackson
M2M
Madonna
Shakira
Spice Girls
The Beatles
Elvis Presley
Elton John
Led Zeppelin
Pink Floyd
Queen
Sưu Tầm
Toán Học
Tiếng Anh
Tin Học
Âm Nhạc
Lịch Sử
Non-Fiction
Download ebook?
Chat
Ngàn Mặt Trời Rực Rỡ
ePub
A4
A5
A6
Chương trước
Mục lục
Chương sau
Chương 1
1
Lần đầu tiên nghe thấy từ harami, Mariam mới năm tuổi.
Đó là một ngày thứ Năm. Chắc là thế rồi, vì Mariam nhớ hôm đó mình rất bồn chồn và lo lắng, mà cô bé chỉ như vậy vào thứ Năm, ngày bố Jalil đến kolba* thăm cô. Trước đó, trong lúc chờ đợi đến khoảnh khắc khi cuối cùng cô cũng được nhìn thấy bố vẫy tay băng qua cánh đồng cỏ rập rờn cao ngang gối, Mariam bắc ghế để lấy bộ đồ trà Trung Hoa của mẹ xuống. Bộ đồ uống trà này là di vật duy nhất mà mẹ Mariam, Nana, được thừa hưởng từ người mẹ đã qua đời khi Nana mới tròn hai tuổi. Nana yêu quý từng chiếc tách sứ màu xanh trắng, đường cong duyên dáng của vòi ấm, những con chim sẻ, những bông cúc vẽ bằng tay và cả con rồng, biểu tượng xua đuổi cái ác, trên chiếc bát đựng đường.
Túp lều hoặc căn nhà được dựng lên một cách sơ sài, tạm bợ.
Rồi chiếc bát đựng đường đó đã trượt khỏi tay Mariam, rơi xuống sàn gỗ của kolba và vỡ tan.
Khi Nana nhìn thấy chiếc bát, mặt bà đỏ bừng, môi trên run rẩy, còn đôi mắt, cả con mắt nhìn kém và con mắt còn tinh, nhìn Mariam trừng trừng. Nana trông tức giận đến mức Mariam sợ rằng jinn* sẽ lại nhập vào người bà lần nữa. Nhưng jinn không xuất hiện, lần đó thì không. Thay vì vậy, Nana chộp lấy cả hai cổ tay Mariam kéo lại gần mình, và cô bé nghe thấy từng lời mẹ nói qua hàm răng nghiến kèn kẹt: “Mày là đồ harami hậu đậu. Phần thưởng cho những gì tao phải chịu đựng là thế này đây. Một harami vụng về, làm vỡ vật gia bảo.”
Một nhân vật trong quan niệm của người Hồi giáo, không tồn tại trên dương gian mà sống dưới lòng đất, có hình hài như người.
Lúc đó Mariam không hiểu. Cô bé không biết harami - con hoang - nghĩa là gì. Cô bé cũng chưa đủ lớn để nhận thức được sự bất công, để hiểu rằng chính những kẻ tạo ra harami mới có lỗi chứ không phải harami, người chỉ có mỗi một tội là đã được sinh ra. Nhưng qua cách nói của mẹ Nana, Mariam đã đoán ra harami là thứ gì đó xấu xa và đáng kinh tởm, giống như lũ côn trùng, như những con gián luôn bị mẹ Nana vừa nguyền rủa vừa quét cho chạy tán loạn ra khỏi kolba.
Khi Mariam lớn hơn một chút, cô bé đã hiểu ra. Chính cái cách mẹ Nana thốt ra từ đó - không phải nói ra mà là phun nó vào mặt Mariam - khiến cô bé cảm nhận được đầy đủ sự đau đớn của harami. Và rồi cô bé cũng hiểu được mẹ Nana muốn nói gì, rằng harami là một thứ không được mong muốn; rằng cô, Mariam, là một con người không được pháp luật công nhận và sẽ chẳng bao giờ được biết đến những thứ người khác có một cách danh chính ngôn thuận, như sự yêu thương, gia đình, tổ ấm hay được mọi người chào đón.
Bố Jalil không bao giờ gọi Mariam bằng cái tên đó. Ông nói cô bé là bông hoa nhỏ của ông. Ông thích đặt cô vào lòng và kể chuyện cho cô nghe, như có lần, ông kể rằng Herat, thành phố nơi Mariam được sinh ra vào năm 1959, từng một thời là chiếc nôi của nền văn hóa Ba Tư, là quê hương của nhiều nhà văn, họa sĩ và các vị Sufi*.
Nhà tu theo đạo Sufism, nhánh thần bí của Hồi giáo.
“Ở đó, hễ duỗi chân ra là con không thể không đạp phải mông của một nhà thơ,” Jalil cười lớn.
Bố Jalil còn kể cho cô bé nghe về Gauhar Shad, một hoàng hậu sống ở thế kỷ mười lăm đã cho xây dựng nhiều tháp thờ nổi tiếng, coi đó như những vần thơ ca tụng đầy yêu thương mà bà dành cho Herat. Ông miêu tả những cánh đồng lúa mì xanh tươi của Herat, những vườn cây trái, những vườn nho trĩu quả và cả những khu chợ mái vòm nhộn nhịp trong thành phố.
“Ở đó có một cây hồ trăn,” một hôm Jalil nói, “và được chôn dưới đó, Mariam thân yêu ạ, chính là thi thể của nhà thơ vĩ đại Jami.” Ông cúi xuống thủ thỉ, “Jami sống cách đây năm trăm năm. Thật đấy. Bố đã đưa con đến đó một lần, tới chỗ cái cây ấy. Hồi đó con còn bé lắm. Con không nhớ được đâu.”
Đúng thế. Mariam không nhớ gì thật. Và mặc dù đã sống mười lăm năm đầu đời ngay gần Herat, cô chưa bao giờ nhìn thấy cái cây được nghe kể ấy. Mariam chưa từng được thấy ngọn tháp nổi tiếng nào từ khoảng cách gần, chưa từng được hái quả từ những khu vườn sai trĩu và cũng chưa từng lang thang trên những cánh đồng lúa mì xanh mướt của Herat. Nhưng mỗi khi bố Jalil kể những câu chuyện như thế, Mariam luôn lắng nghe một cách say sưa. Cô bé thán phục Jalil vì ông có vốn hiểu biết thật bao la và phong phú tuyệt vời. Cô muốn run lên vì tự hào khi có một người bố hiểu biết đến vậy.
“Những lời dối trá mới hay ho làm sao chứ!” Nana nói sau khi Jalil đi khỏi. “Một kẻ giàu có nói những lời dối trá mê ly. Ông ta chưa bao giờ đưa con đến cái cây nào hết. Đừng có để ông ta mê hoặc. Ông ta, ông bố đáng kính của con đấy, đã phản bội chúng ta. Ông ta đã xua đuổi chúng ta. Ông ta đã xua đuổi chúng ta ra khỏi ngôi nhà rộng lớn sang trọng của ông ta như thể chúng ta chả là cái thá gì với ông ta hết. Làm thế ông ta sung sướng lắm.”
Mariam thường ngoan ngoãn lắng nghe những lời ấy. Cô bé không bao giờ dám nói với mẹ Nana rằng cô không thích bà nói về bố Jalil như vậy. Sự thật là khi ở bên bố Jalil, Mariam không cảm thấy mình giống một harami chút nào. Thứ Năm hằng tuần, khi bố Jalil đến thăm cô một hoặc hai tiếng, mang cho cô những nụ cười, những món quà và cả sự trìu mến, Mariam lại cảm thấy mình xứng đáng được hưởng tất cả vẻ đẹp và sự hào phóng mà cuộc sống trao tặng. Và, vì vậy, Mariam yêu quý bố Jalil.
Ngay cả khi cô bé phải chia sẻ ông với người khác.
Jalil có ba bà vợ và chín người con, chín người con hợp pháp, tất cả đều xa lạ đối với Mariam. Jalil là một trong những người giàu có nhất ở Herat. Ông sở hữu một rạp chiếu phim, và mặc dù chưa từng thấy nó, nhưng vì đã được nghe ông kể lại sau khi Mariam cứ năn nỉ mãi nên cô bé biết rằng mặt tiền của rạp được ốp gạch sành màu xanh đồng, rằng rạp có lô riêng ở tầng trên và trần nhà được trang trí họa tiết kiểu mắt cáo. Những cánh cửa xoay hai chiều dẫn đến một hành lang lát gạch, ở đó có treo áp phích quảng cáo những bộ phim Hindu lồng trong khung kính. Một hôm, Jalil kể rằng, cứ thứ Ba hằng tuần, trẻ con đến xem phim được phát kem miễn phí ở quầy bán đồ ăn.
Nana cười thầm khi nghe Jalil kể. Đợi đến khi ông đã đi khỏi, bà mới cười khẩy mà nói, “Con cái nhà người lạ thì được cho kem. Con thì được cái gì hả Mariam? Những câu chuyện về kem.”
Ngoài rạp chiếu phim, Jalil còn sở hữu đất ở Karokh, đất ở Farah, ba cửa hàng bán thảm, một cửa hàng quần áo và một chiếc Buick Roadmaster màu đen mẫu 1956. Ông là một trong những người có nhiều mối quan hệ nhất ở Herat, ông là bạn bè với thị trưởng và tỉnh trưởng. Ông có một đầu bếp, một lái xe và ba quản gia.
Nana từng là một trong số những quản gia đó. Cho đến khi bụng bà bắt đầu to dần.
Nana kể, khi chuyện ấy bị lộ, sự sôi sục của gia đình Jalil khiến cả Herat nghẹt thở. Họ hàng đằng vợ ông thề sẽ có đổ máu. Các bà vợ yêu cầu ông phải đuổi Nana ra khỏi nhà. Người bố của Nana, một thợ đẽo đá thấp hèn ở làng Gul Daman gần đó, đã tuyên bố từ con. Cảm thấy nhục nhã, ông gói ghém đồ đạc và bắt xe bus đến Iran, kể từ đó không ai gặp lại hay nghe nói gì về ông nữa.
Một buổi sáng sớm, khi đang cho gà ăn bên ngoài kolba, Nana nói, “Đôi khi mẹ ước sao ông ngoại con có đủ dũng khí để mài sắc một trong những con dao của ông ấy rồi làm cái việc vì danh dự dó. Như thế mọi chuyện đối với mẹ có thể đã tốt hơn.” Bà tung thêm một nắm hạt vào trong chuồng gà rồi ngừng tay và quay lại nhìn Mariam, “Cũng có thể tốt hơn cho cả con nữa. Con sẽ không phải chịu nỗi đau đớn khi biết mình thực sự là cái gì. Nhưng ông bố của ta là một kẻ hèn nhát. Ông không có dil, dũng khí, để làm điều đó.”
Jalil cũng vậy, Nana nói, ông ta cũng không có dil để làm cái việc danh dự ấy. Để đương đầu với gia đình mình, với các bà vợ cùng họ hàng của họ và để chịu trách nhiệm với những gì ông ta đã làm. Thay vào đó, đằng sau những cánh cửa đóng kín, ông ta đã nhanh chóng bày ra một kế hoạch nhằm cứu vớt thể diện của mình. Ngày hôm sau, ông ta buộc cô gái gói ghém số đồ đạc ít ỏi của mình ở khu nhà ở dành cho gia nhân và đuổi cô đi.
“Con có biết ông ta đã nói gì với các bà vợ để bào chữa cho mình không? Rằng mẹ đã quyến rũ ông ta. Rằng đó là lỗi của mẹ. Didi? Con thấy chưa? Đó là thân phận của người phụ nữ trên cõi đời này.”
Nana đặt bát thức ăn cho gà xuống. Bà đưa ngón tay nâng chiếc cằm bé nhỏ của Mariam lên.
“Nhìn mẹ này, Mariam.”
Mariam miễn cưỡng làm theo.
Nana nói, “Hãy nhớ lấy điều này và nhớ cho kỹ, con gái ạ: Giống như chiếc kim la bàn luôn chỉ hướng Bắc, ngón tay buộc tội của người đàn ông luôn trỏ vào người phụ nữ. Luôn luôn. Con hãy nhớ lấy điều ấy, Mariam.”
2
“Đối với Jalil và những bà vợ của ông ta, mẹ chỉ là một cây dâu dại. Một cây ngải. Và con cũng thế. Thậm chí khi đó con chưa được sinh ra nữa.”
“Cây ngải là gì hả mẹ?” Mariam hỏi.
“Một thứ cỏ dại,” Nana nói. “Một thứ mà ta nhổ lên để rồi quăng đi.”
Trong lòng Mariam cảm thấy không đồng tình. Bố Jalil chưa bao giờ đối xử với cô như một thứ cỏ dại. Chưa bao giờ. Nhưng Mariam nghĩ tốt hơn hết là nên giấu kín sự phản kháng này trong lòng thôi.
“Nhưng khác loài cỏ dại, mẹ được người ta mang đi trồng lại, con thấy đấy, được cho thức ăn và nước uống. Vì con đấy. Đó là những gì Jalil đã thỏa thuận với gia đình ông ta.”
Nana nói bà đã từ chối sống ở Herat.
“Để làm gì? Để xem ông ta ngày ngày đưa các bà vợ kinchini* của mình đi dạo phố ư?”
Gái điếm.
Bà nói rằng bà cũng không muốn sống trong ngôi nhà bỏ không của bố mình ở làng Gul Daman, trên một sườn đồi cách Herat hai cây số về phía Bắc. Bà muốn sống ở một nơi nào đó tách biệt để hàng xóm không nhìn chằm chằm vào cái bụng của bà mà chỉ trỏ, châm chọc, hay tệ hơn cả, làm tổn thương bà bằng lòng tốt giả tạo.
“Và hãy tin mẹ,” Nana nói, “bố con thấy nhẹ nhõm lắm khi mẹ đi khuất mắt ông ta. Ông ta cảm thấy rất sung sướng.”
Chính Muhsin, người con trai cả của Jalil với Khadija, bà vợ đầu tiên, đã gợi ý về khu đất hoang. Nó nằm ở rìa ngoài Gul Daman. Để đến được đó, người ta phải băng qua một con đường mòn dốc ngược, rẽ nhánh từ con đường chính nối Herat và Gul Daman. Dọc hai bên đường, cỏ dại mọc cao đến đầu gối và lốm đốm những bông hoa màu vàng xen lẫn trắng. Con đường trườn lên ngọn đồi và dẫn tới một cánh đồng bằng phẳng, với những cây bạch dương vút cao và đám cây dại mọc thành từng bụi. Từ trên cao đó, nhìn bên trái người ta có thể thấy mấy đầu cánh quạt gỉ sét của chiếc cối xay gió làng Gul Daman, còn bên phải là toàn cảnh Herat trải rộng phía dưới. Cuối đường mòn là một con suối rộng, đầy cá hồi, bắt nguồn từ rặng núi Safid-koh bao quanh Gul Daman. Hai trăm mét ngược lên phía đầu nguồn là một cụm liễu rủ quây thành vòng tròn. Ở ngay giữa, khuất trong bóng liễu, là khu đất trống.
Jalil đã đến đó xem qua. Nana kể rằng khi quay trở lại, ông ta trông giống như một tên coi ngục khoe khoang về những bức tường sạch sẽ và sàn nhà sáng bóng trong cái nhà tù của mình.
“Và thế là bố con xây cho chúng ta cái ổ chuột này.”
Năm mười lăm tuổi, Nana thiếu chút nữa thì đã kết hôn. Vị hôn phu là một anh chàng bán chim két đuôi dài, dân vùng Shindand. Mariam được nghe câu chuyện này từ chính Nana. Và dù mẹ không kể chi tiết nhưng Mariam có thể thấy từ đôi mắt buồn và tiếc nuối của bà một niềm hạnh phúc. Có lẽ những ngày chuẩn bị cho lễ cưới đó là khoảng thời gian duy nhất trong đời mẹ Nana cảm nhận được niềm hạnh phúc thực thụ.
Khi Nana kể chuyện, Mariam ngồi trong lòng mẹ và hình dung ra bà trong chiếc váy cưới vừa vặn. Cô bé mường tượng cảnh mẹ mình ngồi trên lưng ngựa, mỉm cười bẽn lẽn sau chiếc mạng che mặt của bộ lễ phục màu xanh, lòng bàn tay được sơn đỏ bằng cây lá móng, tóc tết thành bím nhỏ phủ nhũ bạc, những bím tóc được kết lại với nhau bằng nhựa cây. Cô bé thấy các nhạc công đang thổi sáo shahnai và gõ trống dohol, còn đám trẻ trên phố thì la hét và chạy đuổi nhau.
Thế rồi, một tuần trước ngày cưới, jinn đã nhập vào người Nana. Mariam không cần nghe kể lại cũng có thể hình dung ra được. Cô bé đã từng nhiều lần chứng kiến tận mắt cảnh mẹ đột ngột ngã xuống, cơ thể mẹ trở nên cứng đờ, mắt trợn lên, tay chân co giật như thể có thứ gì đang bóp nghẹt bà từ bên trong, miệng bà sủi bọt trắng và đôi khi còn thấy cả máu đỏ tươi. Rồi bà rơi vào trạng thái vô thức, mất phương hướng đến kinh sợ và miệng lầm bầm những thứ không rõ ràng.
Khi tin đó lan đến Shindand, gia đình anh chàng bán chim đã hủy bỏ đám cưới.
“Họ đã được một phen sợ chết khiếp,” Nana chốt lại.
Chiếc váy cưới được cất đi. Từ đó về sau, không có người nào đến cầu hôn nữa.
Trên khu đất hoang, Jalil cùng hai cậu con trai là Farhad và Muhsin dựng lên một kolba nhỏ, nơi Mariam sống suốt mười lăm năm đầu đời. Kolba được làm bằng gạch phơi khô, trát bùn và cỏ khô. Trong nhà có hai cái giường, một bàn gỗ, hai ghế tựa, một cửa sổ và vài chiếc giá được gắn vào tường, ở đó Nana để những chiếc bình được làm bằng đất nung và bộ đồ trà sứ Trung Hoa yêu thích của bà. Jalil cũng đặt một chiếc lò sưởi mới bằng gang dùng cho mùa đông và chất vài chồng củi sau kolba. Ông đặt thêm một lò đất ở bên ngoài để làm bánh mì và một cái chuồng gà có hàng rào xung quanh. Ông mua một vài con cừu và xây máng ăn cho chúng. Ông sai Farhad và Muhsin đào một cái hố sâu khoảng một trăm mét sau rặng liễu và xây nhà xí phía trên đó.
Nana nói Jalil lẽ ra có thể thuê người dựng kolba nhưng ông ta đã không làm điều đó.
“Đấy là ông ta muốn hành xác để sám hối đấy.”
Nana kể lại rằng ngày Mariam chào đời, không có ai đến giúp đỡ. Đó là một ngày mùa xuân ẩm ướt và u ám năm 1959, năm thứ hai mươi sáu trong bốn mươi năm cai trị bình lặng của đức vua Zahir Shah. Bà nói rằng Jalil không buồn mời bác sĩ hay thậm chí một bà đỡ đến, cho dù ông ta biết rằng jinn có thể nhập vào người bà và khiến bà ngất đột ngột trong khi đang đau đẻ. Nana nằm một mình trên sàn kolba, bên cạnh là một con dao, mồ hôi đầm đìa toàn thân.
“Khi những cơn đau hành hạ, mẹ phải cắn vào gối và la hét cho đến khi lạc cả giọng. Vậy mà vẫn chẳng có ai đến để lau mồ hôi trên mặt mẹ hay rót cho mẹ một cốc nước. Và con, Mariam bé bỏng, con cũng chẳng vội gì. Con đã để cho mẹ nằm trên sàn nhà cứng lạnh gần hai ngày liền. Mẹ không ăn, không ngủ, tất cả những gì mẹ làm được là cố rặn và cầu nguyện để con sớm chui ra.”
“Ôi, con xin lỗi mẹ.”
“Mẹ phải tự cắt dây nhau nối mẹ con ta. Đó là lý do mẹ cần tới con dao.”
“Con xin lỗi.”
Đến đây, Nana lần nào cũng từ từ nở một nụ cười nặng nhọc mà Mariam không bao giờ hiểu được là sự buộc tội ngần ngại hay sự tha thứ miễn cưỡng của mẹ. Mariam bé nhỏ không hề nghĩ đến sự phi lý khi phải cầu xin sự tha thứ cho cái cách mình có mặt trên cõi đời này.
Nhưng khi Mariam lên mười thì cô bé bắt đầu băn khoăn tự hỏi về chuyện đó và không còn tin vào câu chuyện mẹ kể về cái ngày mình chào đời nữa. Cô tin vào câu chuyện của bố Jalil, rằng mặc dù đang ở xa nhưng ông vẫn thu xếp để Nana được đưa đến bệnh viện ở Herat, nơi bà được các bác sĩ chăm sóc cẩn thận. Bà đã được nằm trên một chiếc giường tốt, sạch sẽ, trong một căn phòng sáng sủa. Jalil lắc đầu buồn bã khi Mariam kể cho ông nghe về con dao.
Mariam cũng trở nên hoài nghi về việc cô bé đã khiến mẹ phải chịu đau đớn trong suốt hai ngày trời.
“Người ta nói với bố là mẹ con mất chưa đến một tiếng đồng hồ,” Jalil nói. “Con là một bé gái ngoan, Mariam thân yêu. Ngay từ khi chào đời con đã là một đứa con ngoan ngoãn.”
“Ông ta thậm chí còn không có mặt ở đó!” Nana nhổ nước bọt. “Lúc đó ông ta còn đang mải cưỡi ngựa cùng mấy người bạn quý hóa ở Takht-e-safar.”
Nana kể rằng khi người ta báo cho Jalil biết là ông ta vừa có thêm một đứa con gái, ông ta chỉ nhún vai, tiếp tục chải bờm ngựa và ở lại Takht-e-safar thêm hai tuần nữa.
“Sự thật là ông ta thậm chí còn không thèm ẵm con cho đến khi con đầy tháng. Mà lúc đó ông ta cũng chỉ cúi xuống nhìn con có một lần, nhận xét về khuôn mặt dài của con và bế trả con cho mẹ.”
Về sau Mariam cũng không còn tin chuyện này. Đúng thế, bố Jalil thú nhận, ông đã cưỡi ngựa ở Takht-e-safar, nhưng khi được báo tin, ông không hề nhún vai. Ông vội nhảy lên lưng ngựa quay trở về Herat. Ông đã tung cô trên tay, vuốt ve đôi lông mày như hai bông tuyết của cô và còn hát ru cho cô ngủ nữa. Mariam không nghĩ bố Jalil nói mặt cô dài, mặc dù quả là nó dài thật.
Nana nói bà chính là người đặt cho cô bé cái tên Mariam bởi vì đó là tên bà ngoại của cô, còn Jalil lại khẳng định chính ông chọn cái tên này: bởi vì Mariam, hoa huệ, là một loài hoa rất đáng yêu.
“Đó là loài hoa bố yêu thích phải không ạ?” Mariam hỏi.
“Ừ, một trong những loài bố yêu thích,” ông nói và mỉm cười.
3
Một trong những ký ức đầu tiên của Mariam là tiếng cọt kẹt của bánh sắt chiếc xe cút kít lăn trên đá. Chiếc xe cút kít mỗi tháng đến một lần, mang theo gạo, bột mì, chè, đường, dầu ăn, xà phòng, thuốc đánh răng. Nó được đẩy tới bởi hai người anh em cùng cha khác mẹ với Mariam, thường thì là Muhsin và Ramin, đôi khi lại là Ramin và Farhad. Leo lên con đường đất, lăn qua đá và sỏi, vòng qua hố đất và bụi cây, hai anh em thay nhau đẩy cho tới khi họ đến được bờ suối. Tại đó, mọi thứ được dỡ ra và khuân sang bờ bên kia. Chiếc xe sau đó cũng được mang sang và chất lại các thứ như cũ. Tiếp theo đó lại là hai trăm mét đẩy xe, lần này thì băng qua đám cỏ cao rậm rì và vòng qua vô số bụi cây. Ếch nhái nhảy vọt ra tránh đường họ đi. Hai anh em phải vung tay để xua lũ muỗi bu đầy trên khuôn mặt nhễ nhại mồ hôi của họ.
“Bố có nhiều người làm,” Mariam nói. “Bố có thể cử một người tới.”
“Đó là ông ta muốn hành xác để sám hối đấy,” Nana trả lời.
Âm thanh của chiếc xe kéo Mariam và Nana ra bên ngoài. Có lẽ Mariam sẽ nhớ mãi hình ảnh của mẹ Nana trong Ngày Phân phát*: một phụ nữ cao gầy, chân trần, đứng tựa ở lối ra vào, con mắt kém của bà nheo lại thành một khe hẹp, hai cánh tay khoanh trước ngực đầy vẻ ngang ngược và khinh khỉnh. Mái tóc cắt ngắn của bà ngập trong ánh nắng, để trần và không chải chuốt. Bà mặc một chiếc áo xám không vừa lắm. Trong túi áo đầy những viên đá cỡ bằng hạt óc chó.
Nguyên văn: Ration Day - ngày chủ đồn điền phân phát thực phẩm cho các nô lệ của mình.
Các cậu con trai ngồi bên bờ suối đợi đến khi Mariam và Nana chuyển hết đồ tiếp tế vào trong kolba. Họ biết rằng tốt hơn hết là đừng lại gần quá ba mươi mét, mặc dù Nana nhắm không trúng lắm và hầu hết các viên đá đều rơi trước khi gặp được mục tiêu. Nana vừa gào thét về phía các cậu con trai vừa mang các túi gạo vào trong và gọi họ bằng những cái tên mà Mariam không thể nào hiểu được. Bà chửi rủa mẹ của họ, vẻ mặt toát lên sự căm thù. Đám con trai không bao giờ trả đũa sự sỉ nhục đó.
Mariam cảm thấy thương bọn họ. Cô bé xót xa nghĩ rằng chân tay họ hẳn đã mệt rã rời vì phải đẩy cái xe rất nặng đó. Cô mong sao được phép mang cho họ một chút nước. Nhưng cô đã không nói gì, và nếu họ có vẫy tay với cô thì cô cũng không vẫy lại. Một lần, để làm vui lòng mẹ Nana, Mariam thậm chí còn la mắng Muhsin, nói với anh ta rằng anh ta có cái miệng giống như đuôi thằn lằn, để rồi sau đó lại cảm thấy tội lỗi, hổ thẹn và sợ rằng họ có thể sẽ nói lại với bố Jalil. Nhưng Nana thì cười rũ rượi, những chiếc răng cửa xỉn màu của bà chìa hết cả ra ngoài khiến Mariam nghĩ rằng bà có thể sẽ ngất đi mất. Bà nhìn Mariam khi cô bé mắng Muhsin xong và nói, “Con là một đứa con gái ngoan.”
Khi chiếc xe đã trống trơn, hai cậu con trai sợ sệt quay trở lại và đẩy nó đi. Mariam vẫn đứng dõi mắt theo khi họ đi khuất vào trong đám cỏ cao và những cây dại nở hoa.
“Lại đây con ơi.”
“Vâng ạ.”
“Bọn chúng cười nhạo con đấy. Thật đấy, mẹ nghe thấy.”
“Con đang đến đây.”
“Con không tin mẹ à?”
“Con đây ạ.”
“Con biết mẹ yêu con phải không, Mariam bé bỏng của mẹ.”
Các buổi sáng, họ bị đánh thức bởi tiếng kêu be be của đàn cừu vọng lại đằng xa và những tiếng sáo cao vút của mấy người chăn cừu làng Gul Daman đang dẫn đàn gia súc đi ăn ở bãi cỏ bên sườn đồi. Mariam và mẹ Nana vắt sữa dê, cho gà ăn và nhặt trứng. Hai mẹ con cùng làm bánh. Nana dạy cô bé cách nhào bột, nhóm lò đất nung và trát những miếng bột bánh đã cán dẹt vào thành trong của lò. Nana cũng dạy cô khâu vá, nấu cơm và làm nhiều món khác nhau: shalqam hầm củ cải, rau bi na nấu sabzi, súp lơ nấu với gừng.
Nana không hề giấu giếm sự khó chịu đối với những người viếng thăm, mà thực ra là đối với tất cả mọi người, nhưng bà cũng có một vài ngoại lệ. Vì thế nên trưởng làng Gul Daman, arbab của làng, Habib Khan, một người đàn ông để râu, bụng bự, thường đến thăm khoảng một tháng một lần, theo sau là người giúp việc mang theo một con gà, đôi khi là một hũ gạo kichiri hoặc một rổ trứng nhuộm màu cho Mariam.
Cũng có một bà già béo ục ịch mà Nana gọi là Bibi jo*, vợ góa của một thợ khắc đá, vốn là bạn của bố Nana. Đi cùng Bibi jo luôn có một trong sáu cô con dâu của bà và một hoặc hai đứa cháu nội. Bà lê bước ì ạch và thở hổn hển trên đường băng qua khu đất trống, sau đó xoa xuýt hông mình rồi từ từ ngồi xuống cái ghế mà Nana kéo ra cho bà, không quên buông ra một tiếng thở dài đau đớn. Bibi jo cũng luôn mang theo cho Mariam cái gì đó, khi là một gói kẹo dishlemeh, khi là một giỏ quả mộc qua. Còn với Nana, đầu tiên bà luôn phàn nàn về tình trạng sức khỏe ngày càng kém đi của mình và sau đó tán gẫu đủ thứ chuyện ở Herat và Gul Daman một cách thật dài dòng và đầy hứng thú, trong khi cô con dâu im lặng ngồi sau lưng bà nhẫn nại lắng nghe.
Jo: thân mến, thân yêu.
Nhưng người mà Mariam yêu quý nhất, tất nhiên là không kể bố Jalil, là Giáo sĩ Faizullah, một người giảng kinh Koran già, akhund* của làng. Ông từ làng Gul Daman tạt qua một hoặc hai lần mỗi tuần để dạy cho Mariam năm bài kinh cầu namaz hằng ngày và kèm cô bé học thuộc kinh Koran, cũng y như hồi xưa ông dạy cho Nana khi bà còn nhỏ. Chính Giáo sĩ Faizullah là người dạy cho Mariam biết đọc, là người đã kiên nhẫn nhìn qua vai cô bé khi môi cô lẩm nhẩm đọc và ngón tay trỏ ngập ngừng dưới mỗi chữ, ấn xuống cho đến khi gốc móng tay chuyển thành màu trắng, như thể cô bé đang cố vắt ra ngữ nghĩa của những ký hiệu kia vậy. Chính Giáo sĩ Faizullah là người đã cầm tay cô nắn chiếc bút chì theo nét hất lên của từng chữ alef, nét lượn của từng chữ beh và ba dấu chấm của mỗi chữ seh*.
Từ để chỉ các vị giáo sĩ đạo Hồi.
Alef, beh, seh: các chữ cái trong hệ chữ Farsi, tương đương với các chữ cái A,B,C trong hệ chữ Latin.
Ông là một ông già gầy hốc hác, lưng còng, nụ cười móm mém và bộ râu trắng dài tới tận rốn. Thường thì ông tới kolba một mình, nhưng cũng có khi ông đi cùng cậu con trai có bộ tóc hoe hoe đỏ tên là Hamza, lớn hơn Mariam vài tuổi. Khi Giáo sĩ Faizullah tới kolba, Mariam hôn lên tay ông - mà cứ có cảm tưởng như đang hôn nhúm cành que được bao phủ bằng một lớp da mỏng - còn ông thì hôn lên trán cô bé trước khi họ ngồi xuống để bắt đầu bài học. Sau đó hai thầy trò ra ngồi bên ngoài kolba ăn hạt thông và uống nước chè xanh, ngắm nhìn những chú chim chào mào bay vút từ cây nọ sang cây kia. Thỉnh thoảng họ đi dạo giữa những đám lá khô màu đỏ đồng và những bụi tổng quán sủi, bước dọc theo bờ suối về hướng các đỉnh núi. Giáo sĩ Faizullah lần tràng hạt tashbeh trong khi họ đi dạo và bằng giọng nói run run của mình, ông kể cho Mariam tất cả những câu chuyện mà ông đã gặp khi còn trai trẻ, như chuyện ông tìm thấy con rắn hai đầu ở Iran, bên chiếc cầu Ba mươi ba Cửa Tò vò nổi tiếng ở thành phố Isfahan hoặc chuyện quả dưa hấu mà ông đã bổ ở bên ngoài Thánh đường Màu xanh ở Mazar và rồi tìm thấy những hạt dưa có chữ Allah ở nửa này và Akbar* ở nửa kia.
Chữ Allah và chữ Akbar ghép lại sẽ thành Allah-u-akbar, nghĩa là Đức Allah vĩ đại, mang ý nghĩa ca tụng.
Giáo sĩ Faizullah thú nhận với Mariam rằng đôi khi ông không hiểu nghĩa của các chữ trong kinh Koran. Nhưng ông thích những âm thanh quyến rũ của từng tiếng Ả rập khi chúng bật ra từ miệng mình. Ông nói chúng làm ông thanh thản, xoa dịu trái tim ông.
“Chúng cũng sẽ làm con cảm thấy thanh thản, Mariam yêu quý,” ông nói. “Con có thể gọi chúng đến mỗi khi con thấy cần, và chúng sẽ không làm con thất vọng. Lời của Thượng đế sẽ không bao giờ phản bội con, con gái ạ.”
Giáo sĩ Faizullah kể chuyện và nghe Mariam kể chuyện. Khi cô bé cất tiếng, ông luôn lắng nghe một cách chăm chú. Ông chậm rãi gật đầu và mỉm cười với vẻ biết ơn, như thể ông vừa được ban một đặc ân nào đó. Mariam có thể dễ dàng nói với Giáo sĩ Faizullah nhiều thứ mà cô bé không dám nói với mẹ Nana.
Một ngày nọ, khi họ đang đi dạo, Mariam nói với ông rằng cô bé ước gì mình được phép đến trường.
“Ý con là một ngôi trường thật cơ, thưa akhund. Kiểu như trong một lớp học. Giống như những người con khác của bố con ấy.”
Giáo sĩ Faizullah dừng lại.
Tuần trước đó, Bibi jo đã nói cho Mariam nghe rằng hai con gái của Jalil là Saideh và Naheed đã tới theo học trường nữ sinh Mehri ở Herat. Kể từ đó, ý nghĩ về các lớp học, thầy cô giáo, quyển vở có dòng kẻ, những cột số và cái bút viết được những chấm đen to, đậm cứ chạy nhảy trong đầu Mariam. Cô bé tưởng tượng mình ở trong một lớp học với các cô bé khác trạc tuổi mình. Mariam khao khát được đặt cái thước kẻ trên trang giấy và kẻ những đường thẳng trông có vẻ rất trang trọng.
“Có phải đó là điều con muốn?” Giáo sĩ Faizullah hỏi, nhìn cô bé với đôi mắt dịu dàng và long lanh nước, đôi tay chắp sau tấm lưng còng, bóng của chiếc khăn ông đội trên đầu đổ dài trên mảnh đất có những cây mao lương hoa vàng mọc tua tủa.
“Vâng ạ.”
“Và con muốn ta xin phép mẹ con.”
Mariam mỉm cười. Cô bé nghĩ, ngoại trừ bố Jalil ra thì không ai trên thế giới có thể hiểu cô hơn là thầy giáo già của mình.
“Thế thì ta còn có thể làm gì được nào? Thượng đế, bằng sự thông thái của Người, đã mang đến cho mỗi chúng ta những điểm yếu khác nhau, và điểm yếu nhất trong vô số những điểm yếu của ta là ta không có sức mạnh để từ chối con, Mariam yêu quý,” ông nói, gõ nhẹ lên má cô bé bằng một ngón tay bị viêm khớp của mình.
Nhưng sau đó, khi ông đề cập chuyện này với Nana, bà bỏ con dao đang dùng để cắt hành xuống và hỏi, “Để làm gì chứ?”
“Nếu cô bé muốn học, thì hãy để cho cháu học, con yêu quý. Hãy để cho cô bé được giáo dục.”
“Học? Học cái gì chứ, thưa Giáo sĩ?” Nana đáp lại đầy gay gắt. “Có gì để học ở đó cơ chứ?”
Bà quất ánh mắt về phía Mariam.
Mariam nhìn xuống hai tay mình.
“Có lý gì trường học dạy dỗ một đứa con gái như mày chứ? Chẳng khác nào chiếu sáng một cái ống nhổ. Và mày sẽ chẳng học được gì có giá trị từ những cái trường đó. Chỉ có một điều duy nhất, một điều duy nhất mà những người đàn bà như tao và mày cần có trong cuộc sống thì họ lại không dạy điều đó ở trường. Nhìn tao này.”
“Con không nên nói như thế với nó, con gái ạ,” Giáo sĩ Faizullah nói.
“Nhìn mẹ đây.”
Mariam vâng lời.
“Chỉ cần một kỹ năng. Và đó là: tahamul. Chịu đựng.”
“Chịu đựng gì hả mẹ?”
“Ồ, con không cần phải băn khoăn về chuyện đó,” Nana nói. “Sẽ không thiếu một thứ gì hết.”
Rồi bà tiếp tục nói về chuyện bị các bà vợ của Jalil gọi là con gái của người thợ đẽo đá xấu xí và thấp hèn như thế nào, chuyện họ bắt bà phải giặt quần áo ngoài trời lạnh cho đến lúc mặt tê cóng và các đầu ngón tay tím tái cả lại ra sao.
“Đó là số phận của chúng ta, Mariam ạ. Những người phụ nữ như chúng ta. Chúng ta phải chịu đựng. Đó là tất cả những gì chúng ta có. Con có hiểu không? Không những thế, chúng sẽ cười nhạo con ở trường. Chúng sẽ làm như thế đấy. Chúng sẽ gọi con là harami. Chúng sẽ nói những điều tồi tệ nhất về con. Mẹ không chấp nhận điều đó.”
Mariam gật đầu.
“Và không được nói về chuyện đi học nữa. Con là tất cả những gì mẹ có. Mẹ sẽ không đánh mất con vào tay bọn họ. Hãy nhìn mẹ đây. Không được nói về chuyện trường học nữa nghe chưa?”
“Thôi nào. Hãy có lý một chút. Nếu con bé muốn...” Giáo sĩ Faizullah bắt đầu nói.
“Và ông nữa, thưa akhund, với tất cả lòng kính trọng của mình, tôi nghĩ rằng ông lẽ ra nên nhận thấy tốt hơn cả là đừng khuyến khích những ý nghĩ ngu ngốc này của con bé. Nếu ông thực sự quan tâm đến nó thì hãy làm cho nó thấy rằng nó thuộc về nơi này, ở nhà với người mẹ của nó. Chẳng có gì ngoài kia dành cho nó. Không gì hết ngoại trừ sự ruồng bỏ và sự đau đớn. Tôi biết mà, thưa akhund. Tôi biết.”
4
Mariam thích có người đến thăm kolba. Vị arbab của làng và những món quà của ông, Bibi jo với cái hông đau và những câu chuyện phiếm không bao giờ hết, và tất nhiên cả Giáo sĩ Faizullah nữa. Nhưng không có ai, không ai mà Mariam khao khát được gặp hơn bố Jalil.
Cứ tới đêm thứ Ba, Mariam lại bắt đầu lo lắng. Cô bé ngủ không ngon giấc vì lo lắng rằng bố Jalil có thể bận công việc mà không thể đến vào ngày thứ Năm và rằng mình sẽ phải đợi cả một tuần nữa mới được gặp bố. Thứ Tư nào cũng vậy, cô bé cứ đi đi lại lại quanh kolba, tung thóc vào trong chuồng gà một cách vô thức. Cô bé cứ đi mà chẳng biết đang đi đâu, bứt cánh hoa, đập lũ muỗi bám vào cánh tay. Cuối cùng, vào ngày thứ Năm, tất cả những gì cô bé có thể làm là ngồi dựa lưng vào tường, dán mắt vào con suối và chờ đợi. Nếu bố Jalil đến muộn thì một nỗi sợ hãi khủng khiếp sẽ gặm nhấm Mariam. Đầu gối cô bé bắt đầu run run và cô sẽ phải kiếm chỗ nào đấy để nằm xuống.
Rồi mẹ Nana gọi, “Này, ông ta đến rồi đây này, ông bố vinh quang của mày đây.”
Mariam nhảy cẫng lên khi nhìn thấy bố mình đang nhảy qua những tảng đá giữa lòng suối, nụ cười rạng rỡ và cánh tay vẫy vẫy thật yêu thương. Mariam biết rằng mẹ Nana đang nhìn mình, đang xem xét phản ứng của mình, thế nên cô bé luôn phải cố gắng để giữ mình đứng ở đằng sau bậu cửa, để chờ đợi và nhìn ông từ từ tiến về phía mình, để không chạy lại với ông. Cô tự ngăn mình lại, kiên nhẫn nhìn ông bước qua đám cỏ cao, cái áo vest vắt qua vai và cơn gió nhẹ nâng chiếc cà vạt màu đỏ.
Khi bố Jalil đi vào khu đất trống, ông vứt áo vest lên cái lò đất và dang rộng vòng tay. Ban đầu Mariam còn đi, sau đó thì cô bé chạy tới chỗ ông, ông đỡ dưới hai cánh tay cô bé và tung cô lên cao. Mariam kêu ré lên.
Lơ lửng trên không, Mariam có thể nhìn thấy khuôn mặt bố Jalil ngửa lên ngay phía dưới mình, cái miệng cười rộng và lệch của ông, chỏm tóc trước trán, chiếc cằm chẻ - một cái túi tuyệt hảo cho ngón tay út của cô - và hàm răng của ông, hàm răng trắng nhất trong một thành phố toàn người sâu răng. Cô bé thích hàng ria tỉa gọn của bố, thích việc bất kể thời tiết như thế nào thì mỗi lần đến thăm cô, bố luôn mặc áo vest - màu nâu đậm, màu yêu thích của ông, với một chiếc khăn tay trắng gấp hình tam giác đặt trong túi áo ngực - và cả chiếc khuy măng séc nữa, thêm một chiếc cà vạt, thường là màu đỏ và ông hay thắt lỏng. Mariam cũng có thể nhìn thấy hình ảnh của chính mình phản chiếu trong đôi mắt nâu của bố Jalil: mái tóc tung bay, gương mặt rạng ngời đầy phấn khích, cả bầu trời cao ở phía sau.
Mẹ Nana nói rằng một ngày nào đó có thể ông sẽ đón lỡ và cô, Mariam, sẽ trượt qua các ngón tay của ông, rơi xuống đất và bị gãy xương. Nhưng Mariam không tin là bố Jalil sẽ đánh rơi mình. Cô bé tin mình sẽ luôn an toàn rơi vào đôi bàn tay sạch sẽ với các móng tay cắt gọn của bố.
Họ ngồi bên ngoài kolba, trong bóng râm và Nana rót trà cho hai bố con. Jalil và bà chào nhau bằng một nụ cười khó nhọc và một cái gật đầu. Ông không bao giờ nhắc tới chuyện Nana ném đá hay những lời nguyền rủa của bà.
Bất chấp những lời nguyền rủa mà Nana dành cho Jalil khi ông không có mặt ở đó, Nana trở nên nhẹ nhàng và lễ độ hơn mỗi khi ông tới. Tóc bà luôn được gội sạch sẽ. Bà đánh răng và đeo chiếc hijab* đẹp nhất của mình để đón tiếp ông. Bà ngồi yên lặng trên chiếc ghế đối diện với ông, hai bàn tay gập lại đặt trong lòng. Bà không nhìn thẳng vào ông và không bao giờ nói những lời thô tục lúc ông đang ở cạnh. Khi cười, bà đưa tay lên miệng để che đi chiếc răng xấu xí của mình.
Trang phục truyền thống của phụ nữ Hồi giáo, không trùm hết cả đầu mà chỉ trùm kín phần đầu và cổ.
Nana hỏi thăm về chuyện làm ăn và cả những bà vợ của Jalil. Khi bà nói với ông rằng bà nghe Bibi jo nói người vợ trẻ nhất của ông, Nargis, sắp sinh đứa thứ ba, Jalil cười lịch sự và gật đầu.
“Ồ, ông hẳn phải rất hạnh phúc,” Nana nói. “Giờ ông có bao nhiêu đứa con rồi? Mười có phải không, mashallah*? Mười nhỉ?”
Trang phục truyền thống của phụ nữ Hồi giáo, không trùm hết cả đầu mà chỉ trùm kín phần đầu và cổ.
Jalil nói rằng đúng, mười đứa.
“Mười một, nếu ông tính cả Mariam, tất nhiên rồi.”
Sau đó, khi Jalil đã về nhà, Mariam và Nana đã nói qua nói lại về việc này. Mariam nói rằng bà đã nói bẫy ông.
Sau khi uống trà với Nana, Mariam và Jalil luôn đi câu cá ở suối. Ông chỉ cho cô bé cách thả câu, cách kéo cá hồi lên. Ông dạy cô cách moi ruột cá, rửa sạch và cách chỉ dùng một nhát mà lạng thịt của con cá ra khỏi xương. Ông vẽ tranh cho cô trong khi họ ngồi đợi cá cắn câu, chỉ cho cô cách vẽ con voi bằng một nét mà không phải nhấc bút ra khỏi giấy. Ông dạy cho cô những câu ca. Rồi họ hát cùng nhau:
Lili lili chiếc chậu tắm của chim,
Để trên bờ đất,
Con cá tuế ngồi trên vành uống nước,
Trượt xuống dưới chìm mất.
Jalil mang theo những bài báo cắt ra từ báo của Herat, tờ Iitifaq-i Islam, và đọc cho Mariam nghe. Ông là sợi dây liên kết của Mariam, là bằng chứng cho thấy sự tồn tại của một thế giới rộng lớn bên ngoài kolba, ngoài Gul Daman và cả Herat nữa, một thế giới của các vị tổng thống có những cái tên không thể phát âm nổi, những con tàu, những viện bảo tàng và môn bóng đá, những tên lửa bay vòng quanh trái đất rồi đáp xuống mặt trăng, và cứ thứ Năm hằng tuần, Jalil lại mang theo một góc thế giới đó tới kolba.
Ông là người kể cho Mariam biết vào mùa hè năm 1973, khi Mariam mười bốn tuổi, vua Zahir Shah, người trị vì Kabul suốt bốn mươi năm, đã bị truất ngôi trong một cuộc đảo chính không đổ máu.
“Người anh họ Daoud Khan của ông ấy làm chuyện đó khi nhà vua đang ở Ý chữa bệnh. Con vẫn nhớ Daoud Khan phải không? Bố đã kể với con về ông ấy rồi đấy. Ông ấy là thủ tướng ở Kabul khi con được sinh ra. Dù sao đi nữa Afghanistan không còn là đất nước quân chủ chuyên chế nữa Mariam ạ. Con thấy đấy, giờ đây ta là một nước dân chủ và Daoud Khan là tổng thống. Có tin đồn rằng những người cộng sản ở Kabul đã giúp ông ấy lên nắm chính quyền. Không phải bản thân ông ấy là cộng sản con nhé, nhưng những người đó đã giúp ông ấy. Dù gì đi nữa thì đó cũng chỉ là tin đồn.”
Mariam hỏi bố thế nào là một người cộng sản và Jalil bắt đầu giải thích nhưng Mariam hầu như chẳng nghe ông nói.
“Con đang nghe đấy chứ?”
“Dạ, có ạ.”
Ông thấy cô bé đang mải nhìn cái chỗ phình ra trong túi áo khoác của mình. “À. Tất nhiên rồi. Ừ. Của con đây. Không vẽ vời nữa.”
Ông rút từ túi áo ra một chiếc hộp nhỏ và đưa cho cô. Thỉnh thoảng ông làm điều này, mang cho cô những món quà nhỏ. Có lúc là một chiếc vòng cổ bằng đá carneline, khi khác lại là chuỗi hạt đá màu xanh da trời. Hôm ấy, Mariam mở hộp ra thì thấy một mặt dây chuyền hình chiếc lá, treo trên đó là những đồng xu nhỏ khắc hình trăng sao.
“Đeo thử đi con, Mariam thân yêu.”
Mariam đeo chiếc vòng vào. “Bố thấy thế nào?”
Jalil cười rạng rỡ, “Bố nghĩ con trông giống một nữ hoàng.”
Sau khi ông đi rồi, Nana thấy mặt dây chuyền trên cổ Mariam.
“Thứ trang sức của dân du mục,” bà nói. “Mẹ đã từng thấy bọn chúng làm ra nó như thế nào. Chúng nung chảy những đồng xu mà người ta ném vào mặt chúng rồi làm thành đồ trang sức. Để xem, lần sau ông ta, ông bố quý hóa của con, sẽ mang vàng đến cho con đấy. Cứ chờ mà xem.”
Đến lúc Jalil phải về, Mariam luôn luôn đứng ở cửa dõi theo khi ông rời khu đất trống, ỉu xìu khi nghĩ tới một tuần sừng sững phía trước như một chướng ngại vật khổng lồ không thể dịch chuyển, chắn giữa cô và lần thăm tới của bố. Mariam luôn luôn nín thở khi nhìn bố ra về. Cô bé nín thở và trong đầu đếm từng giây. Cô tự nhủ rằng cứ mỗi giây cô nhịn thở là Thượng đế sẽ ban cho cô thêm một ngày nữa được ở bên bố Jalil.
Buổi tối, Mariam nằm trên giường mà thắc mắc không biết nhà của bố ở Herat như thế nào. Cô tự hỏi không biết ở cùng với bố, được gặp ông hằng ngày thì sẽ ra sao. Cô tưởng tượng ra cảnh tự tay mang khăn tắm cho bố khi ông cạo râu, nói cho bố biết khi ông cạo bậm vào da. Cô sẽ pha trà cho bố. Cô sẽ khâu lại từng chiếc cúc bị khuyết. Họ sẽ đi dạo cùng nhau ở Herat, ở khu chợ mái vòm nơi bố Jalil nói cô có thể tìm thấy bất cứ thứ gì cô muốn. Họ sẽ đi bằng xe ô tô của ông, rồi mọi người sẽ chỉ trỏ mà nói, “Đó là Jalil Khan và con gái của ông ấy đấy.” Bố sẽ chỉ cho cô xem cái cây huyền thoại có thi thể một nhà thơ được chôn ở dưới.
Mariam quyết định, một ngày không xa, cô sẽ kể cho bố Jalil những điều này. Và khi nghe thấy, khi nhận ra cô đã nhớ ông nhiều như thế nào lúc ông ra về, chắc chắn ông sẽ đưa cô đi theo. Bố sẽ đưa cô đến Herat, đến sống trong nhà của ông như những đứa con khác.
5
“Con biết mình muốn gì rồi,” Mariam nói với Jalil.
Đó là mùa xuân năm 1974, năm Mariam bước sang tuổi mười lăm. Ba người bọn họ ngồi bên ngoài kolba, trên những chiếc ghế gấp xếp thành hình tam giác dưới bóng liễu rủ.
“Sinh nhật con... Con biết mình muốn thứ gì rồi.”
“Con muốn gì nào?” Jalil nói và mỉm cười khích lệ.
Hai tuần trước đó, trước sự phấn khích của Mariam, Jalil đã tiết lộ rằng có một bộ phim Mỹ đang được trình chiếu ở rạp của ông. Đó là một thể loại phim đặc biệt mà ông gọi là phim hoạt hình. Cả bộ phim là một chuỗi hình vẽ, ông nói, hàng nghìn hình, để khi chúng được làm thành phim và được chiếu trên màn ảnh, ta sẽ có cảm giác là những hình vẽ đó đang chuyển động. Ông bảo rằng bộ phim kể về một người làm đồ chơi đã già mà không có con, sống đơn độc và khao khát một đứa con trai. Vì vậy ông ấy đẽo một chú rối, một cậu bé mà bằng một phép màu kỳ diệu đã trở thành người. Mariam bảo bố kể nữa và Jalil nói rằng ông già và chú rối của mình đã trải qua mọi cuộc phiêu lưu và đến một chỗ gọi là Đảo Niềm Vui, nơi những cậu bé hư đều bị biến thành con lừa. Vào cuối phim, họ, chú rối và cha chú, thậm chí còn bị nuốt vào bụng cá voi. Mariam sau đó đã kể lại từ đầu đến cuối bộ phim cho Giáo sĩ Faizullah nghe.
“Con muốn bố đưa con đến rạp chiếu phim của bố,” Mariam nói. “Con muốn xem bộ phim hoạt hình đấy. Con muốn xem chú bé người rối.”
Khi nói ra điều này, Mariam cảm nhận được sự thay đổi trong bầu không khí. Bố mẹ cô ngọ nguậy trên ghế. Mariam có thể cảm thấy họ vội nhìn nhau.
“Đó không phải là ý kiến hay đâu,” Nana nói. Giọng bà bình tĩnh, ngữ điệu lịch sự và kiềm chế như bà vẫn dùng khi có mặt Jalil, nhưng Maria có thể thấy ánh mắt nghiêm khắc và kết tội.
Jalil cựa người trên ghế. Ông ho và hắng giọng.
“Con biết không,” ông nói, “chất lượng hình ảnh của phim không được tốt. Âm thanh cũng thế. Và gần đây máy chiếu không hoạt động được. Có lẽ mẹ con đúng đấy. Có lẽ con có thể nghĩ đến một món quà khác, Mariam yêu quý của bố ạ.”
“Aneh,” Nana nói. “Con thấy chưa? Bố con cũng nghĩ thế.”
Nhưng sau đó, ở bên bờ suối, Mariam nói, “Hãy đưa con đi.”
“Bố bảo con này,” Jalil nói. “Bố sẽ cho người đến đón con và đưa con đi. Bố sẽ dặn họ lấy cho con một chỗ ngồi tốt và tất cả số kẹo mà con muốn.”
“Không, con muốn bố đưa con đi.”
“Mariam à...”
“Và con muốn bố mời các anh chị em của con nữa. Con muốn gặp họ. Con muốn tất cả chúng con sẽ cùng đi. Đó là điều con muốn.”
Jalil thở dài. Ông nhìn ra chỗ khác, về hướng dãy núi.
Mariam nhớ bố đã từng kể rằng trên màn ảnh, khuôn mặt của con người trông to như một ngôi nhà, và khi một chiếc xe hơi đâm vào đâu đó thì ta sẽ cảm thấy như các thanh kim loại đang xoắn vào xương ta. Cô bé tưởng tượng mình đang ngồi ở hàng ghế riêng trên ban công rạp chiếu phim, liếm láp que kem bên cạnh các anh chị em mình và cả bố Jalil nữa. “Đó là điều con muốn,” cô nói.
Jalil nhìn Mariam với ánh mắt đau khổ.
“Ngày mai. Vào buổi trưa. Bố sẽ gặp con ở ngay chỗ này nhé. Được chứ? Ngày mai nhé?”
“Con lại đây,” ông nói. Ông ngồi xuống, kéo cô về phía mình và ôm cô lâu thật lâu.
Lúc đầu, Nana đi đi lại lại quanh kolba, siết chặt bàn tay rồi lại mở ra.
“Tại sao Thượng đế không ban cho tao đứa con gái nào khác mà lại ban cho tao một đứa vô ơn như mày? Tao đã chịu đựng mọi điều vì mày! Sao mày dám! Sao mày dám rời bỏ tao như thế này, mày đúng là một đứa harami bất hiếu.”
Rồi bà nhạo báng.
“Mày mới ngu ngốc làm sao! Mày nghĩ là mày quan trọng với ông ta à, mày được đón chào trong ngôi nhà đó à? Mày nghĩ rằng đối với ông ta, mày là con gái của ông ta à? Rằng ông ta sẽ đưa mày vào ngôi nhà của mình à? Để tao nói cho mày biết. Trái tim của người đàn ông là một thứ xấu xa, xấu xa, Mariam. Nó không giống như tấm lòng của người mẹ. Trái tim của bọn họ sẽ không rỉ máu, sẽ không căng ra để ôm ấp con. Mẹ là người duy nhất yêu thương con. Mẹ là tất cả những gì con có trên thế gian này, Mariam ạ, và khi mẹ chết đi con sẽ chẳng có gì cả. Con sẽ chẳng có gì cả. Con cũng chẳng là gì hết!”
Sau đó bà chuyển sang đe dọa.
“Mẹ sẽ chết nếu con đi. Jinn sẽ xuất hiện và mẹ sẽ lại bị đau. Con sẽ thấy, mẹ sẽ cắn lưỡi mà chết. Đừng rời bỏ mẹ, Mariam bé bỏng. Con hãy ở lại. Mẹ sẽ chết nếu con đi.”
Mariam không nói gì.
“Con biết là mẹ yêu con mà, Mariam bé bỏng.”
Mariam nói cô sẽ đi dạo.
Cô sợ nếu ở lại, có thể mình sẽ nói những lời đau lòng: rằng cô biết jinn là một trò dối trá, rằng bố Jalil đã kể cho cô biết mẹ mắc một căn bệnh có thể dùng thuốc chữa được. Cô có thể sẽ hỏi mẹ tại sao lại không chịu đến gặp bác sĩ của bố trong khi ông ấy đã nài nỉ bà đi, tại sao mẹ lại không uống những viên thuốc ông mua cho. Nếu Mariam có thể nói cho rõ ràng, chắc cô sẽ nói với mẹ Nana rằng cô mệt mỏi khi phải làm một công cụ, mệt mỏi vì bị lừa dối, bị lạm dụng. Rằng cô chán ngấy với việc mẹ bóp méo sự thật về cuộc đời của họ và biến cô, Mariam, thành một trong những thứ để bà than phiền về thế giới này.
Cô có thể đã nói với bà rằng, Mẹ à, mẹ đang sợ. Mẹ sợ rằng con có thể tìm thấy hạnh phúc mà mẹ chẳng bao giờ có được. Và mẹ không muốn con được hạnh phúc. Mẹ không muốn con có một cuộc sống tốt đẹp. Mẹ mới chính là người có trái tim xấu xa.
Có một nơi ở rìa khu đất trống mà Mariam rất thích đến. Lúc này cô đang ngồi ở đó, trên thảm cỏ khô ấm áp. Từ đây, cô có thể nhìn thấy Herat trải rộng phía dưới như bàn cờ của một đứa trẻ: Vườn Thiếu nữ ở phía Bắc thành phố, chợ Char-suq và những phế tích thành lũy cổ của Alexander Đại đế về phía Nam. Rồi cả những ngọn tháp ở xa, giống như những ngón tay bụi bặm của người khổng lồ và những con đường mà Mariam tưởng tượng là chật cứng người, xe ngựa và những con la. Cô nhìn đàn chim nhạn đang sà xuống chao liệng trên đầu. Cô cảm thấy ghen tị với chúng. Chúng đã được tới Herat. Chúng đã từng bay qua các nhà thờ, các khu chợ trong thành phố. Có khi chúng đã từng đậu trên tường nhà bố Jalil, trên những bậc thềm rạp chiếu phim của ông.
Cô nhặt mười viên đá cuội và xếp chúng theo hàng dọc thành ba cột. Thỉnh thoảng cô chơi trộm trò này khi mẹ Nana không để ý. Cô xếp bốn viên thành hàng đầu tiên, tương ứng với số con của Khadija, ba cho con của Afsoon và ba trong cột thứ ba cho con của Nargis. Rồi cô thêm một cột thứ tư. Viên đá thứ mười một đơn độc.
Sáng hôm sau, Mariam mặc chiếc váy màu kem dài tới gối, quần cô tông và chiếc hijab màu xanh lá cây choàng qua tóc. Cô đắn đo một chút về chiếc hijab vì màu xanh của nó không hợp với chiếc váy nhưng vẫn phải dùng thôi vì chiếc màu trắng đã bị lũ nhậy nhấm thủng lỗ chỗ rồi.
Cô kiểm tra đồng hồ. Đó là chiếc đồng hồ dây cót cũ có kim làm bằng gỗ, những con số màu đen trên mặt màu xanh bạc hà, món quà của Giáo sĩ Faizullah. Chín giờ rồi. Cô tự hỏi không biết mẹ Nana đang ở đâu. Cô nghĩ đến việc đi ra ngoài tìm bà, nhưng cô lại sợ phải đối mặt với mẹ, sợ ánh mắt buồn phiền của mẹ. Mẹ Nana sẽ buộc tội cô là bất hiếu, sẽ nhạo báng những ước muốn dớ dẩn của cô.
Mariam ngồi xuống. Cô cố gắng giết thời gian bằng cách vẽ đi vẽ lại con voi bằng một nét như bố Jalil đã dạy. Cô bắt đầu cảm thấy tê chân do ngồi lâu nhưng không dám nằm xuống vì sợ chiếc váy bị nhăn.
Cuối cùng, khi kim đồng hồ chỉ mười một rưỡi, Mariam bỏ mười một viên sỏi vào túi và đi ra ngoài. Trên đường tới suối, cô nhìn thấy mẹ Nana đang ngồi trên một chiếc ghế dưới bóng cây liễu rủ. Mariam không chắc bà có nhìn thấy cô hay không.
Ở bờ suối, Mariam đợi đúng chỗ họ đã hẹn ngày hôm trước. Trên bầu trời, một vài đám mây xám hình bông hoa lơ đãng trôi qua. Bố Jalil đã dạy cô rằng những đám mây xám có màu như vậy bởi chúng dày đến mức phần trên đỉnh hấp thụ ánh sáng mặt trời và chiếu cái bóng của chính mình xuống khắp phần đáy. Đó là cái con thấy đấy, Mariam bé bỏng à, ông nói, bóng tối ở dưới đáy của nó.
Một quãng thời gian nữa trôi qua.
Mariam quay trở lại kolba. Lần này cô vòng qua rìa phía Tây của khu đất trống để không phải đi qua chỗ mẹ Nana. Cô xem lại đồng hồ. Đã gần một giờ rồi.
Bố là doanh nhân, Mariam nghĩ. Hẳn bố đang bận việc gì đó.
Cô quay trở lại con suối và đợi một lúc lâu hơn. Một bầy chim két liệng vòng tròn trên đầu cô rồi nhào xuống đám cỏ đây đó. Cô thấy một con sâu bướm đang bò trên gốc một cây kế non.
Cô đợi đến khi hai chân đã tê cứng. Lần này cô không quay trở lại kolba nữa. Cô xắn ống quần lên tới đầu gối rồi lội qua suối, và lần đầu tiên trong đời cô đi xuống đồi, hướng về Herat.
Mẹ Nana cũng lại nói sai về Herat. Không ai chỉ trỏ. Không ai cười nhạo. Mariam bước đi trên những đại lộ náo nhiệt và đông đúc với những hàng bách thẳng tắp, bước giữa dòng người đi bộ, đi xe đạp và những chiếc gari* được la kéo, và không ai ném đá vào cô. Không ai gọi cô là harami. Thậm chí hầu như không ai để ý đến cô. Thật ngạc nhiên và kỳ diệu, ở đây cô là một người bình thường.
Một loại xe kéo bằng súc vật, dùng để chở khách.
Cô đứng một lúc bên bồn nước hình ô van ở giữa một công viên lớn, chằng chịt những con đường rải sỏi bắt chéo nhau. Cô mân mê một cách thích thú những con ngựa xinh đẹp làm bằng cẩm thạch đứng quanh mép bồn đang nhìn chằm chằm xuống nước bằng những con mắt trắng đục. Cô chú ý đến mấy cậu bé trai đang thả thuyền giấy. Cô nhìn thấy hoa ở khắp mọi nơi, hoa tuy líp, hoa huệ tây, dã yến thảo, những cánh hoa rạng rỡ trong ánh mặt trời. Mọi người đi bộ dọc trên đường, ngồi trên ghế đá và nhâm nhi tách trà.
Mariam hầu như không thể tin được là cô đang ở đây. Trái tim cô đập liên hồi vì phấn khích. Cô ước gì Giáo sĩ Faizullah có thể thấy cô lúc này. Ông sẽ thấy cô mới gan dạ làm sao. Thật dũng cảm biết bao! Cô đã chọn cho mình một cuộc sống mới đang chờ đợi cô ở thành phố này, một cuộc sống với bố, với các anh chị em, một cuộc sống nơi cô sẽ trao đi và được nhận lại tình yêu thương, nơi không có sự chờ đợi, e dè hay hổ thẹn.
Cô tung tăng bước trở lại con đường lớn gần công viên. Cô đi qua những người bán hàng rong già nua, khuôn mặt nhăn nheo đang ngồi dưới bóng cây tiêu huyền, bình thản nhìn cô từ phía sau những tháp trái sê ri và đụn nho. Những cậu bé chân trần chạy đuổi theo ô tô và xe bus, tay huơ huơ mấy túi quả mộc qua. Mariam đứng ở góc đường quan sát dòng người qua lại mà không thể hiểu tại sao họ có thể thờ ơ như vậy trước những điều kỳ diệu ở xung quanh.
Sau một lúc, cô lấy hết dũng khí hỏi thăm một người đàn ông đứng tuổi sở hữu chiếc gari có la kéo, xem ông ấy có biết Jalil, chủ rạp phim, sống ở đâu không. Ông già có hai má phúng phính và mặc chiếc chapan* bảy sắc cầu vồng. “Cháu không sống ở Herat có phải không?” ông nói vẻ thân thiện. “Mọi người đều biết Jalil Khan sống ở đâu.”
Một loại áo khoác ngoài dành cho nam giới ở một số nước Hồi giáo.
“Ông có thể chỉ cho cháu được không?”
Ông già bóc một chiếc kẹo bơ cứng bọc trong giấy và nói, “Cháu đi một mình à?”
“Vâng ạ.”
“Trèo lên đây. Ông sẽ đưa cháu đi.”
“Cháu không thể trả tiền cho ông. Cháu không có tiền.”
Ông đưa cho cô bé chiếc kẹo. Ông nói rằng ông không có khách đã hai tiếng rồi và đằng nào cũng đang định về nhà. Nhà Jalil trên đường ông đi về.
Mariam trèo lên chiếc gari. Họ ngồi im lặng cạnh nhau. Trên đường tới đó, Mariam nhìn thấy những cửa hàng bán thảo dược và nhiều dãy kệ hàng nơi khách hàng mua cam và lê, sách, khăn choàng, thậm chí cả chim ưng nữa. Trẻ con chơi bi trong những vòng tròn vẽ dưới đất. Bên ngoài các tiệm trà, trên bục gỗ có trải thảm, cánh đàn ông vừa uống trà vừa hút tẩu thuốc.
Ông già cho xe rẽ vào một con đường rộng nằm giữa hai hàng cây vân sam. Được nửa đường thì ông cho ngựa dừng lại.
“Ở kia kìa. Có vẻ cháu gặp may rồi, dokhtar jo*. Xe của ông ấy kìa.
Cháu gái thân mến.
Mariam nhảy xuống. Ông già mỉm cười và đánh xe đi tiếp.
Mariam chưa từng được chạm vào xe hơi. Cô bé lướt tay quanh cái mui xe của Jalil, một chiếc xe hơi màu đen, bóng nhoáng, với những vành xe sáng choang nơi Mariam có thể nhìn thấy được hình ảnh của mình bị dẹt đi và kéo rộng ra. Ghế xe được làm bằng da màu trắng. Đằng sau bánh lái, Mariam nhìn thấy những bảng điều khiển ốp kính gắn kim đồng hồ bên trong.
Trong một thoáng, Mariam nghe thấy giọng nói của mẹ Nana vang lên trong đầu, nhạo báng và dập tắt những hy vọng âm ỉ, le lói trong cô. Đôi chân run run, Mariam tiến tới cửa trước của ngôi nhà. Cô đặt tay lên tường. Những bức tường nhà bố Jalil mới cao làm sao, mới ẩn tàng nhiều bất trắc làm sao. Cô phải nghển cổ mới thấy được những ngọn cây bách nhô ra từ phía bên kia. Những ngọn cây đung đưa trong gió và cô tưởng tượng thấy chúng đang gật đầu đón chào cô. Mariam phải cố trấn tĩnh lại khi đột nhiên cảm thấy mình mất hết can đảm.
Một cô gái trẻ đi chân trần ra mở cửa. Chị ta có một hình xăm ở dưới môi dưới.
“Em đến gặp Jalil Khan. Em là Mariam. Con gái của ông ấy.”
Gương mặt cô gái thoáng một chút bối rối. Rồi chị nhanh chóng nhớ ra. Chị hơi mỉm cười và có phần hồ hởi. “Đợi ở đây nhé,” chị nói nhanh.
Cánh cửa đóng lại.
Vài phút trôi qua. Rồi một người đàn ông ra mở cửa. Ông ta dáng người cao, vai vuông vức, đôi mắt ngái ngủ và gương mặt điềm tĩnh.
“Tôi là tài xế của Jalil Khan,” ông ta nói, giọng khá tử tế.
“Là gì của ông ấy cơ ạ?”
“Là lái xe của ông ấy. Jalil Khan không có ở đây.”
“Cháu nhìn thấy xe của ông ấy,” Mariam nói.
“Ông ấy đi vắng vì bận việc gấp.”
“Khi nào thì ông ấy về ạ?”
“Ông ấy không nói.”
Mariam nói cô sẽ đợi.
Ông ta đóng cổng lại. Mariam ngồi xuống, thu gối vào sát ngực. Trời sắp tối rồi và cô dần cảm thấy ngày càng đói. Cô ăn chiếc kẹo bơ cứng của người đánh xe gari. Một lát sau, người lái xe lại xuất hiện.
“Cháu phải về nhà đi,” ông ta nói. “Không đầy tiếng nữa thôi là trời tối rồi.”
“Cháu quen với bóng tối rồi.”
“Trời cũng sẽ lạnh đấy. Bác lái xe đưa cháu về nhà nhé? Bác sẽ bảo với ông ấy là cháu đã đến đây.”
Mariam nhìn ông chăm chăm.
“Thế thì bác sẽ đưa cháu đến khách sạn. Ở đó cháu có thể ngủ thoải mái. Sáng mai chúng ta sẽ xem xem có thể làm gì.”
“Cho cháu vào trong nhà đi.”
“Bác đã được lệnh không được làm thế. Nghe này, không ai biết được khi nào ông ấy sẽ về. Có thể mất nhiều ngày đấy.”
Mariam khoanh tay.
Người lái xe thở dài và nhìn cô bé với ánh mắt hơi trách móc.
Những năm sau đó, nhiều lần Mariam đã suy nghĩ không biết cuộc đời của cô sẽ như thế nào nếu cô để người lái xe đưa quay trở về kolba. Nhưng cô đã từ chối. Cô ở cả đêm bên ngoài nhà của Jalil. Cô nhìn màn đêm buông xuống, ngắm bóng tối dần nhấn chìm những dãy nhà xung quanh. Cô gái có hình xăm mang cho cô một ít bánh mì và một đĩa cơm nhưng Mariam nói cô không muốn ăn. Cô gái đặt đồ ăn xuống cạnh Mariam. Thỉnh thoảng, Mariam nghe thấy tiếng bước chân trên phố, tiếng những cánh cửa mở ra, tiếng chào nhau khe khẽ. Đèn điện được bật lên và những ô cửa sổ tỏa ánh sáng nhàn nhạt. Mấy con chó cất tiếng sủa. Khi không thể chịu nổi cái đói nữa, Mariam ăn đĩa cơm và cái bánh mì. Rồi cô nghe thấy tiếng dế kêu ngoài vườn. Trên đầu, mây trôi che khuất ánh trăng lay lắt.
Đến sáng, Mariam bị lay dậy. Mariam nhận ra đêm qua, ai đó đã đắp cho cô một cái chăn.
Người lái xe đang lay vai cô.
“Thế này là đủ rồi. Cháu làm loạn hết lên rồi đấy. Rối tung hết cả. Đã đến lúc phải đi rồi.”
Mariam ngồi dậy, dụi dụi mắt. Lưng và cổ cô đều đau nhức. “Cháu sẽ đợi ông ấy.”
“Nhìn ta đây này,” ông ta nói. “Jalil Khan nói rằng ta phải đưa cháu quay về bây giờ. Ngay bây giờ. Cháu có hiểu không? Chính Jalil Khan nói như vậy.”
Người đàn ông mở cánh cửa khách phía sau dẫn vào trong xe. “Bia, đi nào,” ông ta nói nhẹ nhàng.
“Cháu muốn gặp ông ấy,” Mariam nói. Nước mắt cô giàn giụa.
Người lái xe thở dài. “Để ta đưa cháu về nhà. Đi nào, dokhtar jo.”
Mariam đứng lên đi về phía ông. Nhưng rồi, đến phút chót, cô đổi hướng và chạy về phía cổng trước. Cô cảm thấy những ngón tay của người lái xe đang lóng ngóng tóm lấy vai cô. Cô đẩy ông ta ra và lao qua cánh cổng đang mở.
Chỉ trong vài giây, Mariam đã ở trong vườn nhà Jalil, mắt dán chặt vào một khu nhà kính có cây cối bên trong, cả những cây nho quấn quanh dàn gỗ, một cái hồ cá bằng đá xám, cây ăn quả và những bụi hoa tươi sáng có mặt khắp mọi nơi. Ánh mắt cô lướt qua tất cả những thứ này trước khi bắt gặp một khuôn mặt ở cửa sổ trên tầng. Gương mặt đó chỉ xuất hiện trong một giây nhưng thế cũng đủ rồi. Đủ để Mariam nhìn thấy đôi mắt mở to và cái miệng há hốc. Rồi nó biến mất. Một bàn tay hiện ra và vội vàng kéo dây. Rèm cửa sập xuống.
Sau đó, có một đôi tay xốc nách và nhấc cô lên khỏi mặt đất. Chân Mariam giãy giụa. Những viên sỏi rơi ra khỏi túi áo. Mariam tiếp tục giãy giụa và kêu khóc trong lúc cô được mang ra ô tô và được đặt xuống chiếc ghế sau bọc da lạnh lẽo.
Người lái xe vừa lái vừa nói với giọng an ủi. Mariam không nghe ông nói. Trên suốt chặng đường, cô lăn lộn trên ghế sau và khóc. Đó là giọt nước mắt của sự đau đớn, của nỗi căm giận, của những ảo tưởng bị tan vỡ. Nhưng hơn hết, đó là những giọt nước mắt của nỗi hổ thẹn sâu sắc bởi cô đã ngu ngốc làm sao khi đã toàn tâm toàn ý vì Jalil, khi đã phải đắn đo mặc chiếc váy gì, đắn đo về chiếc hijab không hợp màu, rồi còn phải đi bộ cả chặng đường để đến đây, kiên quyết không rời đi, ngủ trên đường như một con chó lạc. Và cô thấy hổ thẹn vì đã không đếm xỉa đến ánh mắt buồn khổ và đôi mắt sưng húp của mẹ. Mẹ Nana đã cảnh báo cô, và tới giờ bà đã hoàn toàn đúng.
Mariam không ngừng nghĩ đến khuôn mặt của ông bên cửa sổ trên tầng. Ông để cô ngủ ngoài đường. Trên đường phố. Mariam nằm xuống mà khóc. Cô không ngồi lên, không muốn bị nhìn thấy. Cô tưởng tượng ra cảnh sáng nay cả Herat đã thấy cô tự làm nhục bản thân như thế nào. Cô ước gì Giáo sĩ Faizullah đang ở đây để cô có thể dụi đầu vào lòng ông và để ông xoa dịu nỗi đau này.
Được một lúc, con đường trở nên gập ghềnh hơn và mũi xe cứ chĩa dần lên. Họ đang trên con đường dốc ngược nằm giữa Herat và Gul Daman.
Cô sẽ nói gì với mẹ Nana đây, Mariam tự hỏi mình. Cô sẽ xin lỗi mẹ như thế nào? Thậm chí làm sao mà cô có thể đối diện với mẹ bây giờ?
Chiếc xe dừng lại và người lái xe giúp cô bước ra ngoài. “Ta sẽ dẫn cháu về nhà,” ông nói.
Cô để ông đưa sang đường và đi lên con đường mòn. Ven đường có những cây kim ngân mọc và cả cỏ sữa đang vươn mình. Ong kêu vo vo trên những bông hoa dại sáng lấp loáng. Người lái xe cầm tay cô và giúp cô qua suối. Rồi ông để cô tự đi và nói về chuyện đợt gió kéo dài một trăm hai mươi ngày nổi tiếng của Herat sắp bắt đầu thổi, suốt từ giữa sáng cho đến tối, và chuyện những con ruồi cát sẽ bước vào bữa tiệc ăn uống điên cuồng, và rồi đột nhiên ông đứng sững lại trước mặt cô, cố gắng che mắt cô và vừa đẩy cô quay ngược lại con đường vừa nói, “Quay trở lại! Không! Đừng nhìn. Quay lại. Quay trở lại!”
Nhưng không còn kịp nữa rồi. Mariam đã nhìn thấy. Một cơn gió mạnh chợt thổi rẽ tấm rèm bằng những cành liễu rủ và Mariam nhìn thấy thứ đang hiển hiện dưới gốc cây: chiếc ghế có lưng tựa bị đổ lật ngược. Sợi dây thừng thõng xuống từ một cành cây cao. Mẹ Nana đang treo lủng lẳng ở đầu dây.
6
Họ chôn Nana ở một góc nghĩa địa làng Gul Daman.
Mariam đứng bên cạnh Bibi jo cùng với những người đàn bà khác trong khi Giáo sĩ Faizullah đọc lời cầu nguyện bên huyệt còn cánh đàn ông hạ thi thể được bọc vải liệm của Nana xuống đất. Rồi Jalil đi với Mariam về kolba. Ở đó, trước sự chứng kiến của những dân làng đi cùng, ông ta trình diễn một màn kịch hết sức lâm ly về sự quan tâm chăm sóc đối với Mariam. Ông ta thu nhặt một số đồ đạc của cô, bỏ vào trong một chiếc va li. Ông ta ngồi cạnh giường, nơi cô nằm, và quạt cho cô. Ông ta xoa trán cho cô, và, với vẻ mặt thiểu não, ông ta hỏi liệu cô có cần bất cứ thứ gì không? bất cứ thứ gì? - ông ta đã hỏi như thế, hai lần.
“Con muốn Giáo sĩ Faizullah,” Mariam nói.
“Tất nhiên là được rồi. Ông ấy đang ở ngoài kia. Để bố tìm ông ấy cho con.”
Khi bóng dáng mảnh khảnh, còng còng của Giáo sĩ Faizullah xuất hiện ở ngưỡng cửa kolba, Mariam bật khóc lần đầu tiên trong ngày hôm đó.
“Ôi, Mariam yêu quý.”
Giáo sĩ ngồi xuống cạnh cô và đưa hai tay ôm lấy khuôn mặt cô. “Cứ khóc đi con, Mariam yêu quý. Khóc đi. Không có gì phải hổ thẹn. Nhưng con hãy nhớ, con gái ta ạ, rằng kinh Koran đã dạy, ‘Đức Cao Cả, bàn tay Người là Vương quốc, và Người có quyền lực đối với vạn vật, Người tạo ra cái chết và sự sống, và Người có thể làm điều đó với mọi người chúng ta.’ Kinh Koran nói đúng, con gái ạ. Trong mỗi thử thách và mỗi sự đau khổ mà Người đặt lên vai chúng ta, Thượng đế đều có lý do của mình.”
Nhưng Mariam không thể tìm thấy sự an ủi trong những lời về Thượng đế. Không phải trong ngày hôm ấy. Không phải sau đó. Tất cả những gì cô có thể nghe thấy là lời mẹ Nana, Mẹ sẽ chết nếu con đi. Mẹ sẽ chết. Và tất cả những gì mà cô có thể làm là khóc, khóc và khóc, để những giọt nước mắt của mình rơi xuống làn da đồi mồi mỏng dính trên đôi tay Giáo sĩ Faizullah.
Trên chuyến xe quay trở lại nhà mình, Jalil ngồi ở ghế sau cùng Mariam, tay ông ta quàng qua vai cô.
“Con có thể ở với bố, Mariam thân yêu,” ông nói. “Bố đã yêu cầu người ta dọn dẹp phòng cho con. Phòng đó ở trên tầng. Bố nghĩ con sẽ thích nó. Từ trên phòng con có thể nhìn thấy khu vườn.”
Lần đầu tiên Mariam có thể nghe thấy những lời ông ta nói bằng đôi tai của mẹ Nana. Bây giờ thì cô có thể nghe thấy một cách rõ ràng sự giả tạo luôn ẩn chứa trong đó, những lời không thành thật, sự dối trá trơ trẽn. Cô không sao nhìn ông ta được.
Khi xe dừng lại trước cổng nhà Jalil, người lái xe mở cửa cho họ và mang va li của Mariam vào nhà. Jalil đỡ cô vào, hai bàn tay ôm lấy vai cô, dẫn cô đi qua cũng những cánh cổng mà hai ngày trước đây, Mariam đã phải ngủ bên ngoài, trên lề đường, để đợi ông ta. Hai ngày trước đây - khi Mariam không thể nghĩ ra được trên đời này lại có bất kỳ điều gì mà cô mong muốn hơn là được đi cùng với Jalil trong khu vườn này - dường như đã thuộc về một đời sống khác. Tại sao cuộc đời cô có thể đảo ngược một cách nhanh chóng đến như vậy, Mariam tự hỏi bản thân mình. Cô nhìn chằm chặp xuống đất, xuống hai bàn chân mình, xuống lối đi lát đá xám. Cô cảm nhận thấy sự có mặt của nhiều người trong khu vườn, đang thì thầm, đang bước tránh sang bên khi cô và Jalil đi qua. Cô cảm nhận thấy những ánh mắt từ các cửa sổ tầng trên đang đè nặng lên mình.
Cả khi ở trong nhà cũng thế, Mariam cứ cúi gằm mặt xuống đất. Cô bước đi trên một tấm thảm màu hạt dẻ với các hoa văn hình bát giác màu xanh và vàng lặp đi lặp lại, loáng thoáng nhìn thấy những chiếc đế tượng bằng cẩm thạch, nửa dưới của những chiếc bình, những mép sờn của các tấm thảm màu sắc sặc sỡ treo trên các bức tường. Cầu thang nơi cô và Jalil đi rộng rãi và được phủ bằng những tấm thảm cùng loại, đóng đinh vào mỗi bậc cầu thang. Tới đầu cầu thang, Jalil dẫn cô rẽ sang bên trái, theo một hành lang dài trải thảm. Ông dừng lại trước một cánh cửa, mở nó ra và đưa cô vào trong.
“Các em gái Niloufar và Atieh của con thỉnh thoảng chơi ở đây,” Jalil nói, “nhưng thường thì chúng ta để dành phòng này cho khách. Bố nghĩ con sẽ cảm thấy thoải mái ở đây. Căn phòng đẹp, phải thế không?”
Trong phòng có một cái giường trải tấm chăn màu xanh in hoa được dệt chặt theo kiểu tổ ong. Rèm cửa đồng màu với tấm chăn, được kéo sang một bên để lộ ra khu vườn phía dưới. Bên cạnh giường là một cái tủ ba ngăn với một bình hoa đặt ở trên. Dọc quanh tường là những chiếc giá, trên đó đặt những bức ảnh đóng khung chụp những người mà Mariam không biết. Trong một cái giá, Mariam thấy một bộ sưu tập những con búp bê gỗ giống nhau, được sắp xếp theo thứ tự kích thước giảm dần.
Jalil thấy cô đang nhìn chúng. “Đó là búp bê Matryoshka. Bố mua chúng ở Moskva. Con có thể chơi với chúng nếu con muốn. Sẽ không ai để ý đâu.”
Mariam ngồi xuống giường.
“Con có muốn gì không?” Jalil hỏi.
Mariam nằm xuống. Nhắm mắt lại. Sau một chốc, cô nghe thấy tiếng Jalil khẽ đóng cánh cửa.
Ngoại trừ khi phải dùng nhà tắm ở dưới sảnh, còn lại Mariam ở lì trong phòng. Cô gái có hình xăm, người đã mở cửa cho cô bữa trước, mang thức ăn đến cho cô trong một cái khay: kebab thịt cừu, sabzi, xúp aush. Hầu như Mariam không đụng đến thứ gì. Jalil ghé qua vài lần trong ngày, ngồi trên giường cạnh cô và hỏi xem cô có ổn không.
“Con có thể ăn ở dưới nhà với chúng ta,” ông ta nói, nhưng giọng không chắc chắn lắm. Ông ta đồng ý một cách hơi quá nhiệt tình khi Mariam nói cô muốn ăn một mình hơn.
Từ cửa sổ, Mariam dửng dưng nhìn những gì mà cô đã từng tò mò và mong muốn được nhìn thấy nhất trong cuộc đời mình: những việc xảy ra trong đời sống thường nhật của Jalil. Những người phục vụ hối hả vào ra qua cổng trước. Một người làm vườn không ngơi tay cắt tỉa các bụi cây và tưới cây trong nhà kính. Những chiếc xe có mui dài, bóng láng đỗ ở trên phố. Từ trong đó chui ra những người đàn ông mặc com lê, chapan và đội mũ da cừu, những người đàn bà choàng hijab, những đứa trẻ con đầu tóc chải gọn gàng. Và khi Mariam nhìn thấy Jalil bắt tay những người lạ kia, khi cô nhìn thấy ông đặt tay trước ngực và cúi đầu chào các bà vợ của họ thì cô hiểu rằng mẹ Nana đã nói đúng. Cô không thuộc về nơi này.
Nhưng mình thuộc về đâu? Mình phải làm gì bây giờ?
Mẹ là tất cả những gì con có trên thế gian này, Mariam ạ, và khi mẹ chết đi con sẽ chẳng có gì cả. Con sẽ chẳng có gì cả. Con cũng chẳng là gì hết!
Giống như những cơn gió thổi qua rặng liễu xung quanh kolba, từng đợt bóng tối mơ hồ cứ ào qua Mariam.
Trong ngày thứ hai Mariam ở nhà Jalil, có một đứa bé gái bước vào phòng cô.
“Em phải lấy cái này,” nó nói.
Mariam ngồi dậy khoanh chân trên giường, kéo tấm chăn vào lòng.
Cô bé vội vã băng qua phòng và mở cửa tủ quần áo. Nó lấy ra một cái hộp vuông màu xám.
“Chị có biết đây là cái gì không?” nó hỏi. Nó mở chiếc hộp. “Nó là cái máy hát. Máy. Hát. Nó quay đĩa. Chơi nhạc ấy. Một cái máy hát.”
“Em là Niloufar. Em tám tuổi.”
Đứa bé gái mỉm cười. Nó có điệu cười của Jalil và cái cằm chẻ của ông. “Sao chị biết?”
Mariam nhún vai. Cô không bảo với nó rằng có lần cô đã lấy tên nó để đặt cho một viên sỏi.
“Chị có muốn nghe một bài hát không?”
Mariam lại nhún vai.
Niloufar cắm điện cho cái máy hát. Nó lấy ra một cái đĩa hát nhỏ từ cái túi da bên dưới nắp hộp. Nó bỏ đĩa vào và hạ thấp kim máy hát. Bản nhạc bắt đầu nổi lên.
Em sẽ lấy cánh hoa làm giấy,
Và viết cho anh bức thư ngọt ngào nhất,
Anh là quốc vương của trái tim em,
Là quốc vương của trái tim em.
“Chị có biết bài này không?”
“Không.”
“Nó ở trong một bộ phim của Iran đấy. Em đã xem phim đó ở rạp của bố em. Này, chị có muốn xem cái này không?”
Trước khi Mariam kịp trả lời, Niloufar đã chống tay và trán xuống dưới sàn. Nó đẩy chân lên và sau đó trồng cây chuối, đầu cắm xuống.
“Chị làm được không?” nó hỏi một cách khó khăn.
“Không.”
Niloufar hạ chân xuống và kéo áo lại. “Em có thể dạy chị,” nó nói, rẽ tóc ra khỏi vầng trán đỏ ửng. “Thế chị sẽ ở đây trong bao lâu?”
“Chị không biết.”
“Mẹ em nói chị không phải là chị thật của em như chị nói.”
“Chị chưa bao giờ nói thế cả,” Mariam nói dối.
“Mẹ em bảo chị đã nói thế. Em không quan tâm. Ý em là, em không quan tâm có phải chị đã nói thế không, hay là chị có phải chị em thật không. Em không quan tâm.”
Mariam nằm xuống. “Chị thấy mệt.”
“Mẹ em nói jinn đã làm cho mẹ chị treo cổ tự tử.”
“Em có thể thôi được rồi,” Mariam nói và xoay lưng lại. “Ý chị là cái đĩa hát ấy.”
Ngày hôm đó, Bibi jo cũng đến thăm cô. Khi bà đến thì trời đang mưa. Bà hạ tấm thân phục phịch xuống chiếc ghế bên cạnh giường và nhăn mặt vì đau.
“Cơn mưa nó hành hạ cái hông của ta, Mariam yêu quý ạ. Thật là quái ác. Ta mong rằng... Ôi, lại đây nào, con gái bé bỏng. Lại đây với Bibi jo. Đừng khóc. Thế, được rồi. Con thật tội nghiệp. Thật tội nghiệp.”
Đêm đó, Mariam trằn trọc mãi mà không ngủ được. Cô nằm trên giường nhìn lên bầu trời, lắng nghe tiếng bước chân ở phía dưới, những âm thanh bị nghẹn lại bởi các bức tường và từng làn nước mưa tạt vào cửa sổ. Đang lơ mơ ngủ thì cô choàng tỉnh dậy bởi tiếng la hét. Âm thanh vọng từ dưới cầu thang, chói tai và giận dữ. Mariam không nghe rõ được tiếng nào. Có ai đó đóng sầm cánh cửa.
Buổi sáng ngày hôm sau, Giáo sĩ Faizullah đến thăm cô. Khi nhìn thấy người bạn của mình ở trước cửa, thấy chòm râu bạc và nụ cười móm mém hiền hậu của ông, Mariam lại có cảm giác nước mắt chực trào ra ở khóe mắt. Cô vung chân qua giường chạy ào tới. Cô hôn tay ông như vẫn thường làm và ông hôn lên trán cô. Cô kéo ghế cho ông ngồi.
Ông chỉ cho cô cuốn kinh Koran mà ông mang theo và mở nó ra. “Ta thấy là không có lý gì mà bỏ qua bài học của chúng ta, phải không?”
“Ông biết là con không cần đến những bài học này nữa mà, thưa Giáo sĩ. Ông đã dạy con tất cả những surrah* và ayat* trong kinh Koran từ mấy năm rồi.”
Chương.
Đoạn.
Ông mỉm cười giơ cánh tay lên làm điệu bộ đầu hàng. “Thế thì ta đành thú nhận vậy. Ta đã lấy cớ thôi. Nhưng ta không tìm được lý do nào tốt hơn để tới thăm con.”
“Ông không cần phải có lý do đâu ạ. Đối với ông thì không cần.”
“Con thật tốt khi nói những lời đó, Mariam yêu quý ạ”
Ông đưa cho cô quyển kinh Koran. Và như ông đã dạy, cô hôn nó ba lần, cứ sau mỗi lần hôn cô lại chạm nó vào trán, rồi đưa trả lại ông.
“Con thế nào, con gái của ta?”
“Con cứ...” Mariam cất tiếng. Cô phải dừng lại, cảm thấy như có một khối đá chèn trong cổ họng. “Con cứ nghĩ mãi về những điều mẹ con đã nói trước khi con bỏ đi. Mẹ...”
“Không, không, không.” Giáo sĩ Faizullah đặt bàn tay lên đầu gối cô. “Mẹ của con, mong đức Allah tha thứ cho bà ấy, là một phụ nữ rắc rối và bất hạnh, Mariam yêu quý ạ. Bà ấy đã làm một điều tồi tệ đối với bản thân mình. Với bản thân bà ấy, với con và với cả đức Allah nữa. Người sẽ tha thứ cho bà ấy, vì Người tha thứ cho tất cả, nhưng Allah rất buồn lòng bởi việc bà ấy đã làm. Người không đồng tình với việc lấy đi một mạng sống, dù là mạng sống của người khác hay là của chính bản thân, bởi vì Người nói rằng cuộc sống là thiêng liêng. Con biết đấy...” Ông kéo ghế lại gần hơn, nắm bàn tay Mariam trong hai tay mình. “Con biết đấy, ta biết mẹ con từ trước khi con ra đời, từ khi mẹ con còn là một cô bé, và ta có thể nói với con ngay từ hồi đó mẹ con đã bất hạnh rồi. Ta e rằng cội rễ cho những việc bà ấy làm đã nảy nở từ rất lâu. Điều ta muốn nói đó là chuyện đó không phải do lỗi của con. Nó không phải do lỗi của con, con gái ạ.”
“Lẽ ra con không nên rời bỏ mẹ. Lẽ ra con...”
“Đừng nghĩ như thế nữa. Những ý nghĩ đó là không tốt, Mariam ạ. Con nghe ta nói không? Không tốt. Chúng sẽ hủy hoại con. Đó không phải lỗi của con. Đó không phải lỗi của con. Hoàn toàn không.”
Mariam gật đầu, nhưng dù mong muốn đến tuyệt vọng thì cô cũng không thể ép mình nghe theo những lời nói của ông.
Vào một buổi chiều của tuần lễ tiếp theo, có tiếng gõ cửa và một người phụ nữ dáng người dong dỏng bước vào. Bà có làn da trắng, mái tóc hung đỏ và móng tay để dài.
“Tôi là Afsoon, mẹ của Niloufar,” bà nói. “Cháu tắm rửa rồi xuống nhà dưới nhé.”
Mariam nói rằng cô muốn được ở trong phòng hơn.
“Không, na fahmidi, cháu không hiểu rồi. Cháu phải xuống. Chúng ta có chuyện muốn nói với cháu. Đó là chuyện quan trọng.”
7
Jalil và các bà vợ của ông ta ngồi đối diện Mariam, phía bên kia cái bàn dài màu nâu thẫm. Ở giữa họ, chính giữa của chiếc bàn, là một bình pha lê cắm hoa cúc vạn thọ và một bình nước đang tỏa hơi nước lên thành. Người đàn bà tóc đỏ, người đã tự giới thiệu là mẹ của Niloufar, tên là Afsoon, ngồi bên phải Jalil. Hai người khác, Khadija và Nargis, ngồi bên trái. Mỗi bà vợ đều mang một cái khăn đen mỏng, họ không đội nó trên đầu mà buộc hờ quanh cổ như là một thứ phụ trang, vốn dĩ không thể tưởng tượng được rằng họ lại mặc đồ đen để để tang cho Nana nên Mariam cho một trong số bọn họ, mà cũng có thể là Jalil, đã gợi ý điều đó ngay trước khi họ gọi cô xuống.
Afsoon rót nước từ cái bình và đặt một cốc trước mặt Mariam, trên cái khay vải kẻ ô vuông. “Mới mùa xuân mà trời đã ấm rồi,” bà nói. Bà làm điệu bộ quạt tay.
“Cháu có cảm thấy thoải mái khi ở đây không?” Nargis hỏi, bà có cái cằm nhỏ và mái tóc màu đen lượn sóng. “Chúng ta hy vọng cháu cảm thấy thoải mái. Sự... thử thách này... hẳn là rất nặng nề đối với cháu. Rất khó khăn.”
Hai người kia gật đầu. Mariam thấy những hàng mi được tỉa tót của họ, những cái cười khẽ và thương cảm họ dành cho cô. Có tiếng ong ong khó chịu trong đầu cô. Cổ họng cô khô cháy. Cô uống một chút nước.
Qua ô cửa sổ rộng phía sau Jalil, Mariam có thể nhìn thấy một hàng táo đang trổ hoa. Sát bức tường cạnh cửa sổ có một cái tủ gỗ tối màu. Trong đấy có một cái đồng hồ, một bức ảnh đóng khung chụp Jalil và ba đứa con trai đang nâng một con cá. Ánh nắng chiếu lấp lánh trên vẩy cá. Jalil và mấy đứa con trai đang cười toe toét.
“Ừm,” Afsoon bắt đầu. “Tôi... thế này, chúng tôi... gọi cháu xuống đây bởi vì chúng tôi có một vài tin tức rất tốt lành cho cháu.”
Mariam ngước lên.
Cô bắt gặp cái liếc mắt của những người đàn bà về phía Jalil, lúc này đang ngồi thõng người trên ghế nhìn đờ đẫn vào cái bình nước trên bàn. Sau đó Khadija, bà vợ có vẻ lớn tuổi nhất, quay sang nhìn Mariam chằm chằm, và Mariam có cảm giác rằng ngay cả cái nhiệm vụ này nữa cũng đã được họ bàn bạc trước, phân công nhau trước khi gọi cô.
“Cháu có một người tới cầu hôn,” Khadija nói.
Mariam rụng rời. “Một gì ạ?” cô nói qua đôi môi đã đột nhiên tê cứng.
“Một khastegar. Một người cầu hôn. Tên anh ta là Rasheed,” Khadija tiếp tục. “Anh ta là bạn của một người làm ăn quen với bố cháu. Anh ta là người Pashtun, sinh ra ở Kandahar, nhưng sống ở Kabul, ở quận Deh-Mazang và có một căn nhà hai tầng ở đó.”
Afsoon gật đầu. “Và anh ta cũng nói tiếng Farsi như chúng ta, như cháu. Bởi vậy cháu sẽ không phải học nói tiếng Pashto.”
Ngực Mariam thắt lại. Căn phòng nghiêng ngả, đất sụt xuống dưới chân cô.
“Anh ta là thợ đóng giày,” bây giờ thì là Khadija nói. “Nhưng không phải cái kiểu moochi làm giày bình thường bên lề phố đâu, không, không phải thé. Anh ta có cửa hiệu riêng, và là một trong những người đóng giày đắt hàng nhất ở Kabul. Anh ta làm giày cho các nhà ngoại giao, các thành viên của gia đình tổng thống - cho những người thuộc tầng lớp đó. Cháu thấy đấy, anh ta sẽ không khó khăn gì trong việc chu cấp cho cháu.”
Mariam dán chặt mắt vào Jalil, trái tim cô lộn nhào trong lồng ngực. “Có phải thế không? Những điều bà ấy nói có phải thật không?”
Nhưng Jalil không nhìn cô. Ông ta tiếp tục cắn môi chăm chăm nhìn cái bình nước.
“Anh ta thì lớn tuổi hơn cháu một chút,” Afsoon nói xen vào. “Nhưng anh ta không thể nhiều hơn... bốn mươi. Cùng lắm là bốn mươi lăm. Có phải thế không, Nargis?”
“Đúng thế. Nhưng tôi còn thấy các cô gái chín tuổi được gả cho những người đàn ông lớn hơn hôn phu của cháu hai mươi tuổi cơ, Mariam ạ. Tất cả chúng ta đều đã gặp những trường hợp đó. Cháu thì sao nhỉ, mười lăm à? Tuổi đó với con gái là thích hợp để lấy chồng rồi.” Những người khác hăng hái gật đầu phụ họa. Nhưng Mariam không thể thoát khỏi ý nghĩ rằng không ai đả động gì đến những người chị em cùng cha khác mẹ của cô, Saideh và Naheed, những người cũng cùng độ tuổi với cô, đều đang học tại trường Mehri ở Herat và đều đang có dự định theo học trường Đại học Kabul. Mười lăm hiển nhiên không phải là cái tuổi thích hợp để họ cưới chồng.
“Còn gì nữa nào,” Nargis tiếp tục, “anh ta cũng có những mất mát lớn trong cuộc sống. Chúng tôi được biết là vợ anh ta đã chết khi sinh con mười năm trước đây. Và sau đó, cách đây ba năm, đứa con trai của anh ta chết đuối trong một cái hồ.”
“Chuyện đó thật buồn, đúng thế. Anh ta đã tìm vợ suốt mấy năm, nhưng chưa kiếm được nơi nào phù hợp.”
“Con không muốn,” Mariam nói. Cô nhìn Jalil. “Con không muốn chuyện này. Đừng bắt con làm thế.” Cô ghét cái tiếng sụt sịt, cái giọng van nài của mình nhưng không thể không làm vậy.
“Hãy cư xử đúng mực nào, Mariam,” một trong các bà vợ nói.
Mariam không còn quan tâm ai đang nói nữa. Cô quay sang nhìn chằm chặp vào Jalil, đợi cho ông ta cất tiếng, để nói rằng không có gì trong số những điều này là thật.
“Cháu không thể sống cả đời ở đây được.”
“Cháu không muốn có một gia đình của riêng mình à?”
“Đúng thế. Một căn nhà, những đứa trẻ của riêng cháu?”
“Cháu phải tiến bước chứ.”
“Đúng ra thì sẽ tốt hơn nếu cháu lấy chồng ở đây, một người Tajik, nhưng Rasheed rất khỏe mạnh, và anh ta cũng quan tâm tới cháu. Anh ta có nhà và có công việc. Tất cả vấn đề là ở đó, có phải không nào? Còn Kabul thì là một thành phố xinh đẹp và sôi động. Có thể cháu sẽ không có cơ hội như thế này lần thứ hai đâu.”
Mariam lại hướng về phía các bà vợ.
“Cháu sẽ sống với Giáo sĩ Faizullah,” cô nói. “Ông ấy sẽ cho cháu ở cùng. Cháu biết ông ấy sẽ làm thế.”
“Như thế thật không tốt,” Khadija nói. “Ông ấy già và quá...” Bà cố tìm một từ thích hợp và Mariam hiểu điều bà thực sự muốn nói là ông ấy ở quá gần đây. Cô biết ý họ muốn gì. Cháu có thể sẽ không có cơ hội tốt như thế này lần nữa đâu. Và cả họ cũng thế. Họ cảm thấy xấu hổ nhục nhã bởi việc cô ra đời, và đây là cơ hội để họ xóa bỏ, một lần cho mãi mãi, cái dấu vết cuối cùng của vụ tai tiếng ầm ĩ mà chồng họ gây ra. Cô đang bị người ta tống đi bởi vì cô là hiện thân biết đi đứng và hít thở của nỗi hổ thẹn của họ.
“Ông ấy quá già và yếu,” cuối cùng thì Khadija nói. “Và cháu sẽ làm gì một khi ông ấy qua đời? Cháu sẽ trở thành gánh nặng cho gia đình ông ấy.”
Giống như cháu đang là gánh nặng đối với bọn ta. Mariam hầu như có thể nhìn thấy những ẩn ngữ không được nói ra từ miệng Khadija, giống như hơi thở đọng thành sương trong một ngày lạnh giá.
Mariam hình dung mình đang ở Kabul, một thành phố lớn, xa lạ và đông đúc, thành phố mà có lần Jalil đã nói với cô là nó nằm cách Herat sáu trăm rưỡi cây số về hướng Đông. Sáu trăm rưỡi cây số. Nơi xa nhất mà cô từng đi tới là hai cây số đi bộ từ kolba tới nhà Jalil. Cô tưởng tượng cảnh mình sẽ sống ở đó, ở Kabul, ở đầu kia của cái khoảng cách không thể tưởng tượng ra đó, sống trong ngôi nhà của một người lạ, chịu đựng tính khí và những yêu cầu, đòi hỏi của ông ta. Cô sẽ phải dọn dẹp, nấu ăn, giặt quần áo cho người đàn ông đó, Rasheed. Và còn nhiều công việc lặt vặt khác nữa - mẹ Nana đã nói cho cô biết những gì các ông chồng thường làm đối với các bà vợ của mình. Chỉ riêng những suy nghĩ về việc ân ái vợ chồng, mà cô tưởng tượng như những hành động hư hỏng và gây đau đớn, cũng đã làm cho cô cảm thấy vô cùng sợ hãi và mồ hôi toát ra khắp người.
Cô lại quay về phía Jalil. “Hãy nói với họ đi. Nói với họ rằng bố không cho phép họ làm thế đi.”
“Thực ra thì bố cháu đã trả lời với Rasheed rồi,” Afsoon nói. “Rasheed đang ở đây, tại Herat; anh ta đã vượt qua bao nhiêu dặm đường từ Kabul tới đây. Nikka* sẽ diễn ra sáng ngày mai, và rồi sẽ có một chuyến xe bus đi Kabul vào buổi trưa.”
Lễ cưới.
“Nói với họ đi!” Mariam gào lên.
Đám đàn bà bây giờ cũng đều im lặng. Mariam cảm thấy họ cũng đang quan sát ông ta. Chờ đợi. Một sự im lặng bao trùm khắp căn phòng. Jalil vẫn ngồi xoay chiếc nhẫn cưới ở ngón tay, khuôn mặt tối sầm và bất lực. Từ bên trong tủ, tiếng đồng hồ vẫn tích tắc đều đều.
“Jalil yêu quý?” cuối cùng thì một bà lên tiếng.
Mắt Jalil nhướng lên chậm rãi, gặp ánh mắt của Mariam, chần chừ trong giây lát, rồi lại cụp xuống. Miệng ông ta mở ra, nhưng tất cả những gì thoát ra từ đó chỉ là một tiếng rên đau đớn.
“Hãy nói gì đi,” Mariam nói.
Rồi thì Jalil nói, với một giọng yếu ớt và buồn tẻ. “Trời ạ, Mariam, đừng làm thế với bố,” ông ta nói như thể chính ông ta mới là người phải chịu trận.
Và, sau khi ông ta nói vậy, Mariam cảm thấy sự căng thẳng trong căn phòng đã biến mất.
Khi các bà vợ của Jalil bắt đầu một đợt trấn an mới - hoạt náo hơn - dành cho cô, Mariam nhìn xuống bàn. Mắt cô lần theo nét tròn trịa của chân bàn, đường cong hình sin ở các góc bàn, ánh sáng mờ mờ phản chiếu từ mặt bàn màu nâu thẫm. Cô nhận ra rằng mỗi khi cô thở ra, trên mặt bàn sẽ đọng lại một lớp sương mỏng, rồi cô biến mất khỏi cái bàn của bố mình.
Afsoon đưa Mariam lên phòng của cô trên lầu. Khi bà đóng cửa, cô nghe thấy tiếng chìa khóa lách cách quay trong ổ.
8
Sáng hôm sau, Afsoon đưa cho Mariam một chiếc váy có ống tay dài màu xanh đậm để mặc bên ngoài chiếc quần vải cô tông màu trắng, một cái hijab màu xanh lá cây và một đôi xăng đan.
Cô được đưa tới căn phòng có cái bàn dài màu nâu, chỉ khác bây giờ ở giữa bàn có một bát kẹo quả hạnh bọc đường, một quyển kinh Koran, một tấm mạng che mặt màu xanh lá cây và một cái gương. Hai người đàn ông Mariam chưa từng gặp bao giờ - có lẽ là những người làm chứng, cô nghĩ thế - và một giáo sĩ mà cô không quen đã ngồi ở đó từ trước.
Jalil dắt cô đến một cái ghế. Ông ta mặc bộ com lê màu nâu nhạt và đeo cà vạt đỏ. Tóc ông ta mới gội. Và khi kéo ghế cho cô, ông ta cố gắng mỉm cười khích lệ. Lần này thì Khadija và Afsoon ngồi cùng phía bàn với cô.
Vị giáo sĩ ra hiệu về phía tấm mạng và Nargis gài nó lên đầu Mariam trước khi bà ngồi xuống. Mariam nhìn xuống hai bàn tay mình.
“Có thể gọi anh ta vào được rồi,” Jalil nói với một ai đó.
Mariam ngửi thấy, trước khi nhìn thấy ông ta. Mùi thuốc lá và nước hoa Cologne nồng nặc, không thoang thoảng như mùi của Jalil. Cái mùi hương đó xộc đầy vào mũi cô. Qua tấm mạng, từ khóe mắt của mình, Mariam nhìn thấy một người đàn ông cao lớn, bụng to và bờ vai rộng đang cúi khom ở lối ra vào. Thân hình to lớn của ông ta làm cô há hốc miệng kinh ngạc, và cô phải cụp mắt xuống, trái tim đập loạn nhịp. Cô cảm thấy ông ta ngập ngừng một chút ở lối đi. Rồi ông ta chậm rãi bước những bước nặng nề ngang qua căn phòng. Bát kẹo trên bàn leng keng theo nhịp bước chân của ông ta. Với một tiếng “ừm” lớn trong cổ họng, ông ta thả người xuống chiếc ghế bên cạnh cô. Ông ta thở thành tiếng.
Vị giáo sĩ chào họ. Ông nói đây sẽ không phải là một nikka theo nghi lễ truyền thống.
“Tôi được biết rằng agha* Rasheed đã có vé cho chuyến xe bus sắp xuất phát tới Kabul. Vì vậy, để tiết kiệm thời gian, chúng ta sẽ bỏ qua một số nghi lễ truyền thống để cho mọi việc có thể tiến hành nhanh chóng.”
Cách gọi thể hiện sự tôn trọng.
Vị giáo sĩ nói một vài câu ban phước, giảng vài câu về sự quan trọng của hôn nhân. Ông hỏi Jalil liệu ông có lý do nào để phản đối cuộc hôn nhân này không và Jalil lắc đầu. Sau đó vị giáo sĩ hỏi Rasheed xem ông ta có thực sự mong muốn được kết hôn với Mariam không. Rasheed trả lời, “Có.” Giọng nói khàn đục của ông ta gợi cho Mariam nhớ đến âm thanh của những chiếc lá khô mùa thu nát vụn dưới gót chân.
“Và con, Mariam thân mến, con có chấp nhận người đàn ông này làm chồng mình không?”
Mariam im lặng. Có những tiếng hắng giọng.
“Cô ấy chấp nhận,” một giọng phụ nữ vang lên từ phía cuối bàn.
“Thực ra,” vị giáo sĩ nói, “cô ấy phải tự mình trả lời. Và cô ấy nên đợi tôi hỏi ba lần. Vấn đề là anh ấy cầu hôn cô ấy, chứ không phải ngược lại.”
Ông hỏi lại câu hỏi đó hai lần nữa. Khi Mariam không trả lời, ông lại hỏi thêm một lần, lần này có vẻ thúc bách hơn. Mariam có thể cảm thấy Jalil đang nhấp nhổm trên chiếc ghế bên cạnh cô, có thể cảm thấy những cẳng chân vắt chéo vào nhau rồi duỗi ra bên dưới chiếc bàn. Lại có nhiều tiếng hắng giọng hơn. Một bàn tay nhỏ nhắn, trắng trẻo vươn ra búng một vết bụi ra khỏi mặt bàn.
“Mariam,” Jalil thì thầm.
“Có,” cô run run nói.
Một cái gương được luồn vào phía dưới mạng. Trong gương, Mariam nhìn thấy khuôn mặt của mình trước tiên, đôi lông mày không cong và không sắc nét, mái tóc bẹp dí, đôi mắt xanh buồn rầu và nằm sát nhau đến nỗi ai đó có thể nhầm là cô bị lác. Làn da thô và điểm những vết lốm đốm xám xịt. Cô nghĩ trán cô quá rộng, cằm quá hẹp và môi thì quá mỏng. Ấn tượng chung là một khuôn mặt dài, khuôn mặt hình lưỡi cày hơi giống kiểu mặt chó săn. Ấy thế nhưng Mariam nhận thấy rằng, thật kỳ lạ làm sao, tất cả những nét không đáng nhớ đó tạo nên một khuôn mặt không xinh đẹp, tuy nhiên chẳng hiểu sao lại rất ưa nhìn.
Trong gương, Mariam thoáng nhìn thấy Rasheed lần đầu tiên: khuôn mặt to, vuông, hồng hào; cái mũi khoằm; đôi má ửng đỏ toát lên một sự vui sướng kín đáo; đôi mắt đỏ ngầu, mọng nước; hàm răng ken dày, hai chiếc răng cửa chìa ra ngoài như cái mái hiên; đường viền mái tóc thấp xuống dưới trán đến không tưởng tượng được, chỉ cách khoảng hai đốt tay phía trên đám lông mày rậm rạp; mảng tóc muối tiêu thô dày.
Ánh mắt của họ gặp nhau một thoáng trên mặt gương rồi lại lướt đi.
Đây là gương mặt người chồng của mình, Mariam nghĩ.
Họ đeo cho nhau đôi nhẫn cưới mỏng bằng vàng được Rasheed rút ra từ túi áo khoác. Móng tay của ông ta màu vàng xỉn, giống như phần bên trong của một quả táo thối, một số móng cong vồng lên. Hai bàn tay của Mariam run lên khi cô cố đút chiếc nhẫn vào ngón tay ông ta và Rasheed đã phải giúp cô. Nhẫn của cô hơi chật một chút, nhưng Rasheed không gặp khó khăn gì để ấn nó qua các đốt ngón tay cô.
“Được rồi,” ông ta nói.
“Một chiếc nhẫn đẹp,” một trong số những bà vợ nói. “Trông nó thật tuyệt, Mariam ạ.”
“Tất cả những gì còn phải làm bây giờ là ký vào bản hôn thú,” vị giáo sĩ nói.
Mariam viết tên mình - chữ meem, chữ reh, chữ yah, rồi lại chữ meem* - mọi con mắt đều chăm chú dõi theo tay cô. Lần thứ hai khi Mariam ký tên mình vào một tờ giấy, hai mươi bảy năm sau đó, cũng có mặt một vị giáo sĩ.
Những chữ cái Farsi trong tên của Mariam.
“Bây giờ thì các con đã thành vợ chồng,” vị giáo sĩ tuyên bố. “Tabreek. Xin chúc mừng.”
Rasheed đợi trong một chiếc xe bus màu sắc sặc sỡ. Mariam không thể nhìn thấy ông ta từ phía đuôi xe - nơi cô đang đứng với Jalil, mà chỉ thấy khói từ điếu thuốc của ông ta cuộn lên từ cửa sổ để mở. Xung quanh họ, mọi người đang bắt tay nhau và nói lời từ biệt. Họ hôn lên những cuốn kinh Koran và chuyển cho nhau. Những đứa trẻ đi chân đất nhấp nhô giữa các hành khách, khuôn mặt của chúng bị che khuất sau những khay kẹo cao su và thuốc lá.
Jalil thì đang mải nói với cô rằng Kabul rất đẹp, rằng vị hoàng đế Babur của vương triều Moghul đã yêu cầu chôn cất thi hài của mình ở đó. Mariam biết rằng tiếp theo ông sẽ nói về những khu vườn ở Kabul, những cửa hiệu, cây cối và không khí ở đấy, và rồi chẳng bao lâu nữa cô sẽ ngồi trên xe và ông ta sẽ bước bên cạnh xe, vẫy tay một cách vui vẻ, nhẹ nhàng, thanh thản.
Cô không cho phép mình chấp nhận điều đó.
“Tôi đã từng tôn thờ ông,” cô nói.
Jalil im bặt giữa chừng. Ông ta khoanh tay rồi lại duỗi ra. Một đôi vợ chồng trẻ người Hindu đi ngang qua, người vợ ẵm một đứa bé, còn người chồng kéo theo một cái va li. Jalil dường như thầm cám ơn sự chen ngang đó. Cặp vợ chồng nói xin lỗi và ông ta cười lại một cách lịch sự.
“Vào mỗi ngày thứ Năm, tôi ngồi đó hằng giờ để chờ đợi ông. Tôi đã lo lắng đến phát ốm rằng ông sẽ không tới.”
“Đường dài đấy con ạ. Con nên ăn một chút gì đó.” Ông ta nói sẽ mua cho cô một ít bánh mì và pho mát dê.
“Lúc nào tôi cũng nghĩ tới ông. Tôi thường cầu nguyện rằng ông sẽ sống lâu trăm tuổi. Tôi đã không biết. Tôi đã không biết rằng ông xấu hổ vì tôi.”
Jalil nhìn xuống đất, và, giống như một đứa trẻ to xác, ông ta đào đất bằng mũi giày.
“Ông đã cảm thấy xấu hổ vì tôi.”
“Bố sẽ tới thăm con,” ông ta lẩm bẩm. “Bố sẽ tới Kabul gặp con. Chúng ta sẽ...”
“Không. Không,” cô nói. “Đừng tới. Tôi sẽ không gặp ông đâu. Ông đừng tới. Tôi không muốn nghe gì về ông hết. Không bao giờ. Không bao giờ.”
Ông nhìn cô đầy đau khổ.
“Giữa chúng ta tới đây là hết. Hãy nói lời từ biệt đi.”
“Đừng bỏ đi như thế,” ông ta nói giọng yếu ớt.
“Ông thậm chí còn nhẫn tâm không cho tôi thời gian chào tạm biệt Giáo sĩ Faizullah nữa.”
Cô quay người và đi vòng qua phía bên kia xe. Cô có thể nghe tiếng ông ta đi theo cô. Khi cô với tay lên cánh cửa xe, cô nghe thấy ông ta nói phía sau mình.
“Mariam thân yêu.”
Cô trèo lên bậc xe, và mặc dù từ khóe mắt, cô có thể nhìn thấy Jalil đang bước song song với cô nhưng cô không nhìn ra ngoài cửa sổ. Cô bước xuống phía cuối xe, nơi Rasheed đang ngồi với chiếc va li của cô kẹp giữa hai chân. Cô đã không quay lại để nhìn thấy hai bàn tay của Jalil ép vào cửa kính, khi những đốt ngón tay của ông cứ gõ nhẹ, gõ nhẹ lên đó. Khi chiếc xe bus chồm lên phía trước, cô không quay lại nhìn ông đang chạy theo nó. Và khi chiếc xe đã chạy xa, cô không quay trở lại nhìn bóng ông đang khuất dần, nhìn ông đang biến mất vào trong đám khói bụi.
Rasheed đang chiếm hai chiếc ghế giữa và gần cửa sổ, đặt bàn tay thô kệch của mình lên tay cô.
“Được rồi, cô gái. Nào. Nào,” ông nói. Ông ta nhìn xéo ra ngoài cửa sổ trong khi nói, như thể đang nhìn thấy một cái gì đó thú vị hơn.
9
Chập tối ngày hôm sau thì họ tới nhà của Rasheed.
“Chúng ta đang ở Deh-Mazang,” ông nói. Họ đang đứng trên lề đường. Ông xách va li của cô ở một tay còn tay kia mở khóa chiếc cổng gỗ. “Ở phía Tây Nam thành phố. Vườn thú cũng gần đây, cả trường đại học nữa.”
Mariam gật đầu. Cô nhận ra rằng phải rất chăm chú lắng nghe mỗi khi ông ta nói thì mới có thể hiểu được lời ông ta. Cô không quen với phương ngữ Kabul trong tiếng Farsi của ông ta và cái giọng Pashto ẩn dưới đó, thứ ngôn ngữ mẹ đẻ của ông ta ở Kandahar. Trái lại, ông ta dường như không có khó khăn gì để hiểu thứ tiếng Farsi ở Herat của cô.
Mariam vội ngó quanh con đường nhỏ không lát đá chạy qua nhà Rasheed. Nhà cửa trên con đường này nằm sát nhau và có tường chung cộng với khoảng sân nhỏ có tường bao quanh ở phía trước xen giữa chúng với con đường. Hầu hết đều là nhà mái bằng, lát bằng gạch nung, một số trát bùn có màu bụi bặm như màu rặng núi bao quanh thành phố. Các rãnh nước ngăn giữa con đường với vỉa hè ở cả hai phía mang theo dòng nước đục ngầu. Mariam nhìn thấy từng ụ rác chi chít ruồi bâu bừa bãi đây đó trên phố. Nhà Rasheed có hai tầng. Mariam có thể thấy rằng ngôi nhà trước kia từng được sơn xanh.
Khi Rasheed mở cổng trước, Mariam thấy mình đang ở trong một khoảng sân bỏ hoang với những đám cỏ vàng úa mọc um tùm trên những ô đất nhỏ. Mariam nhìn thấy một cái nhà xí ở bên phải hông nhà, bên trái là một cái giếng bơm tay, một hàng cây non đã chết. Gần giếng là phòng để dụng cụ và có một cái xe đạp dựa vào tường.
“Bố em nói là em thích câu cá,” Rasheed nói trong khi họ đi qua sân để vào nhà. Nhà không có sân sau, Mariam thấy thế. “Có mấy thung lũng về phía Bắc. Sông rất nhiều cá. Có thể hôm nào đó tôi sẽ đưa em tới đấy.”
Ông ta mở cửa trước và để cô đi vào nhà.
Nhà Rasheed nhỏ hơn nhiều so với nhà Jalil, nhưng nếu so với kolba của Mariam và Nana thì nó là cả một lâu đài. Có một cái sảnh, một phòng khách ở dưới lầu và một phòng bếp, tại đây ông ta chỉ cho cô xoong chảo, một cái nồi áp suất và một cái bếp dầu hỏa. Phòng khách có một chiếc trường kỷ bọc da màu hồ trăn. Nó có một vết rách ở bên thành được vá lại một cách vụng về. Các bức tường trống không. Có một cái bàn, hai cái ghế mây, hai cái ghế gấp và ở góc nhà có một cái lò gang đen.
Mariam đứng ở giữa phòng khách ngó quanh. Ở kolba, cô có thể chạm đầu ngón tay mình vào trần nhà. Cô có thể nằm trên giường mà vẫn nói được lúc này là mấy giờ bằng cách nhìn vào bóng nắng chiếu qua cửa sổ. Cô biết mở cánh cửa rộng đến chừng nào thì bản lề sẽ kêu kẽo kẹt. Cô biết từng vết xước và chỗ nứt trên cả ba mươi tấm ván sàn. Giờ đây tất cả những thứ quen thuộc đó đã mất đi. Mẹ Nana đã chết, còn cô thì ở đây, trong một thành phố xa lạ, tách biệt với cuộc sống mà cô từng biết giữa những thung lũng và trùng điệp núi non đỉnh cao tuyết phủ và những vùng đất đai cằn cỗi mênh mông. Cô ở trong nhà một người lạ, với tất cả những căn phòng không chút quen thuộc, sặc mùi thuốc lá, với những tủ bếp lạ lẫm chất đầy xoong chảo, với những chiếc rèm cửa nặng nề màu xanh đậm và cái trần nhà mà cô biết mình không thể với tới được. Cái không gian đó làm cho Mariam cảm thấy nghẹt thở. Nỗi thương nhớ khôn nguôi cào xé tâm can cô, về mẹ Nana, về Giáo sĩ Faizullah, về cuộc sống trước kia của cô.
Rồi Mariam òa khóc.
“Sao lại khóc thế?” Rasheed cáu kỉnh hỏi. Ông ta thò tay vào trong túi quần, duỗi các ngón tay của Mariam ra, và đặt vào lòng bàn tay cô một chiếc khăn mùi soa. Rồi ông ta châm một điếu thuốc và dựa lưng vào tường. Ông ta quan sát trong lúc Mariam thấm chiếc khăn tay lên mắt.
“Xong chưa?”
Mariam gật đầu.
“Chắc chứ?”
“Vâng.”
Ông ta nắm khuỷu tay cô dẫn tới cửa sổ phòng khách.
“Cái cửa sổ này nhìn ra hướng Bắc,” ông ta nói, gõ gõ vào mặt kính bằng móng tay trỏ vẹo vọ. “Thẳng ngay phía trước chúng ta kia là núi Asmai. Thấy không? Bên trái là núi Ali Abad. Trường đại học nằm ở chân núi đó. Đằng sau chúng ta, về hướng Đông, em không nhìn thấy được từ đây đâu, là núi Shir Darwaza. Hằng ngày, vào buổi trưa người ta sẽ bắn một phát đại bác từ đấy. Thôi không khóc nữa nào. Tôi bảo rồi.”
Mariam chấm nhẹ lên mắt.
“Tôi không chịu được thứ đó,” ông ta nói, vẻ cau có, “tiếng khóc của phụ nữ. Tôi xin lỗi. Tôi không kiên nhẫn được.”
“Em muốn về nhà,” Mariam nói.
Rasheed thở dài bực bội. Một làn hơi thở nồng nặc mùi thuốc đập vào mặt Mariam. “Tôi sẽ không để bụng chuyện này. Lần này thôi.”
Ông ta lại nắm lấy khuỷu tay cô dẫn lên trên tầng.
Có một hành lang nhỏ sáng mờ mờ và hai phòng ngủ. Cánh cửa căn phòng lớn hơn hé mở. Qua đó, Mariam có thể nhìn thấy nó, cũng như hầu hết các phòng khác trong căn nhà, ít đồ đạc: một cái giường ở trong góc với một cái chăn màu nâu và một cái gối, một tủ tường và một bàn trang điểm. Các bức tường trống không ngoại trừ có một tấm gương nhỏ. Rasheed đóng cửa lại.
“Đấy là phòng tôi.”
Ông ta nói rằng cô có thể ở phòng của khách. “Tôi hy vọng em không phiền. Tôi quen ngủ một mình rồi.”
Mariam không nói với ông ta rằng cô cảm thấy nhẹ nhõm đến nhường nào, ít nhất là trong chuyện này.
Căn phòng dành cho Mariam nhỏ hơn nhiều so với căn phòng mà cô đã ở tại nhà của Jalil. Có một cái giường, một bàn trang điểm cũ màu nâu và một cái tủ tường nhỏ. Cửa sổ nhìn ra sân, dưới kia là đường phố. Rasheed đặt va li của cô vào một góc.
Mariam ngồi xuống giường.
“Em không nhận ra à,” ông ta nói. Ông ta đang đứng trên ngưỡng cửa, khom người một chút cho vừa vặn. “Nhìn lên bậu cửa sổ mà xem. Em có biết chúng là gì không? Tôi đã để ở đấy trước khi lên đường tới Herat.”
Chỉ tới lúc này Mariam mới nhìn thấy một cái giỏ đặt trên bậu cửa sổ. Những bông hoa huệ trắng vươn ra từ hai bên.
“Em thích không? Chúng làm em vui chứ?”
“Vâng.”
“Thế thì em có thể cám ơn tôi được rồi.”
“Cám ơn. Em xin lỗi. Tashakor*.”
Cám ơn.
“Em đang run. Có lẽ là tôi làm em sợ chăng? Có phải tôi làm em sợ không? Em sợ tôi à?”
Mariam không nhìn ông ta, nhưng cô có thể cảm thấy vẻ vui sướng ngấm ngầm sau những câu hỏi đó, như một sự bỡn cợt. Cô lập tức lắc đầu và chợt nhận ra rằng đó chính là lời nói dối đầu tiên trong cuộc hôn nhân của họ.
“Không à? Thế thì tốt rồi. Tốt cho em. Ừm, bây giờ đây đã là nhà em rồi. Em rồi sẽ thấy thích ở đây. Rồi em sẽ thấy. Tôi đã nói với em là ở đây chúng ta có điện chưa nhỉ? Trong tất cả các buổi tối và hầu hết buổi ngày?”
Rồi ông ta rời khỏi phòng. Đến ngưỡng cửa, ông ta dừng lại, rít một hơi dài, đưa mắt theo làn khói thuốc. Mariam tưởng ông ta sắp sửa nói điều gì đó. Nhưng không. Rasheed đóng cửa lại, bỏ cô một mình với chiếc va li và những bông hoa.
10
Trong những ngày đầu, Mariam hầu như không rời phòng mình. Cô bị đánh thức từ tờ mờ sáng bởi tiếng gọi cầu kinh azan* từ phía xa xa, cầu nguyện xong cô lại bò trở lại giường. Cô vẫn nằm trên giường khi nghe tiếng Rasheed rửa ráy trong nhà tắm và khi ông ta bước vào phòng để xem cô thế nào trước khi tới cửa hàng. Từ trên cửa sổ phòng mình, cô nhìn thấy chồng ở ngoài sân, đang xếp hộp cơm trưa vào chiếc túi phía sau xe đạp rồi dắt xe ngang qua sân ra đường. Cô dõi theo chồng đạp xe đi cho đến khi bóng dáng của ông ta với đôi vai u dày khuất sau khúc cua cuối đường.
Tiếng gọi cầu kinh buổi sáng được xướng lên từ tháp nhà thờ Hồi giáo.
Hầu như ngày nào cũng vậy, Mariam nằm lì trên giường cảm nhận nỗi chơi vơi và cô độc. Cũng có lúc cô xuống bếp, sờ tay lên mặt bàn bếp dinh dính dầu mỡ, chạm vào những rèm cửa bằng nhựa vinyl in hoa ám mùi đồ ăn khét lẹt. Cô nhìn lướt qua những ngăn kéo xộc xệch, thấy đủ loại thìa và dao mỗi thứ một kiểu, một cái chảo và những chiếc bay bằng gỗ sứt mẻ, những đồ vật này đây rồi sẽ gắn bó với cuộc sống thường nhật mới của cô và tất cả chúng đều gợi lại trong cô cái tai ương đã giáng xuống cuộc đời mình, khiến cô cảm thấy mình chơ vơ, bất ổn, như thể một kẻ xâm phạm đời sống của người khác vậy.
Ở kolba, cô luôn cảm thấy thèm ăn. Ở đây, không mấy khi cô có cảm giác ấy. Đôi khi cô mang một đĩa cơm thừa và một mẩu vụn bánh mì tới ngồi bên cửa sổ trong phòng khách. Từ đó, cô có thể nhìn thấy mái những ngôi nhà một tầng ở dưới đường. Cô cũng có thể thấy trong các sân nhà là những người phụ nữ vừa giặt quần áo vừa xua lũ trẻ nghịch ngợm ra chỗ khác, bầy gà đang bới đất, thấy nào xẻng nào thuổng, cả những con bò được cột vào gốc cây.
Cô nhớ cồn cào những đêm hè cùng mẹ Nana ngủ trên cái mái phẳng của kolba, ngắm nhìn ánh trăng rọi sáng cả vùng Gul Daman, những buổi đêm nóng đến nỗi áo của họ dính vào ngực như thể chiếc lá ướt dính vào cửa sổ. Cô nhớ những buổi chiều mùa đông ngồi đọc sách trong kolba cùng Giáo sĩ Faizullah, nhớ tiếng leng keng của nhũ băng rơi từ trên cây xuống mái nhà, nhớ tiếng quạ kêu vẳng ra từ giữa những cành cây trĩu xuống vì tuyết.
Cô đơn trong căn nhà hiu quạnh, Mariam cứ bước đi không dừng, từ bếp tới phòng khách, leo lên trên phòng mình rồi lại đi xuống. Cuối cùng, cô quay trở lại phòng, cầu nguyện hoặc ngồi yên trên giường, nhớ mẹ và cảm thấy mệt mỏi.
Khi mặt trời đã trườn về hướng Tây thì nỗi lo lắng trong Mariam thực sự trỗi dậy. Hai hàm răng cô va vào nhau lách cách khi nghĩ về buổi đêm, nghĩ tới lúc Rasheed có thể cuối cùng cũng quyết định sẽ làm chuyện đó với cô, cái chuyện mà những ông chồng làm với các bà vợ của họ. Cô nằm trên giường, rối bời vì lo lắng, trong khi chồng cô ăn tối một mình ở nhà dưới.
Ông ta luôn dừng lại ở cửa phòng cô và thò đầu vào.
“Cô hẳn chưa thể ngủ đâu. Mới có bảy giờ thôi. Cô còn thức không? Trả lời tôi đi nào. Nào, nói đi chứ.”
Ông ta sẽ tiếp tục dồn ép cho đến khi từ trong bóng tối, Mariam lên tiếng, “Em đây.”
Ông ta thả người ngồi xuống lối ra vào. Từ trên giường, Mariam có thể nhìn thấy thân hình to lớn của ông ta, đôi chân dài và khói thuốc xoáy vòng quanh cái mũi khoằm, đầu điếu thuốc màu hổ phách sáng bừng lên rồi lịm đi.
Ông ta kể cho cô nghe về ngày làm việc của mình, về đôi giày ông ta làm riêng theo yêu cầu của ông Thứ trưởng Bộ Ngoại giao, người mà Rasheed nói chỉ mua giày ở cửa hàng của ông ta thôi, về đơn đặt hàng xăng đan từ vợ chồng một nhà ngoại giao Ba Lan. Ông ta cũng kể cho cô nghe bao nhiêu điều mê tín mà người ta quan niệm về giày: đặt giày ở trên giường thì sẽ gọi thần chết tới nhà, cãi lộn thể nào cũng xảy ra nếu xỏ giày chân trái trước.
“Ngoại trừ khi người ta vô ý làm điều đó vào ngày thứ Sáu,” ông ta nói. “Và em có biết người ta thường cho rằng sẽ là một điềm xấu nếu ta buộc hai chiếc giày lại với nhau và treo lên đinh?”
Bản thân Rasheed không tin những điều này. Theo ý ông ta, những thứ mê tín phần lớn là trò bận tâm của đàn bà.
Ông ta kể lại với cô đủ thứ chuyện ông ta đã nghe được trên phố, như chuyện tổng thống Mỹ Richard Nixon đã phải từ chức sau một vụ xì căng đan như thế nào.
Mariam, chưa bao giờ được nghe về tổng thống Nixon hay về cái vụ xì căng đan khiến ông ta bị mất chức, không hề đáp lại. Cô chờ đợi trong lo lắng cho đến khi Rasheed thôi không nói nữa, dụi tắt điếu thuốc và bước ra. Chỉ khi nào nghe tiếng ông ta bước ngoài hành lang, tiếng cửa phòng ông ta mở ra rồi đóng lại, cô mới thấy nhẹ nhõm.
Rồi một đêm, ông ta dụi điếu thuốc và thay vì nói lời chúc ngủ ngon thì lại dựa mình vào lối ra vào.
“Cô định sẽ không bao giờ mở cái đó ra à?” ông ta nói và hất đầu về phía cái va li của cô. Ông ta khoanh tay trước ngực. “Tôi đã nghĩ chắc cô cần ít thời gian. Nhưng như thế này thì thật nực cười. Đã hơn một tuần rồi mà... Xem nào, thế thì bắt đầu từ buổi sáng ngày mai, tôi muốn cô xử sự như một người vợ. Fahmidi? Cô rõ rồi chứ?”
Răng Mariam bắt đầu va vào nhau lập cập.
“Tôi cần một câu trả lời.”
“Vâng.”
“Tốt,” ông ta nói. “Cô đã nghĩ cái gì chứ? Cô tưởng đây là khách sạn à? Và tôi là thằng quản lý khách sạn hay sao? Nào... ồ, ồ. La illah u ilillah*. Tôi đã nói về chuyện khóc lóc như thế nào? Mariam. Tôi đã nói với cô về chuyện khóc lóc như thế nào rồi?”
Một câu cảm thán khi ai đó đang bực dọc, giống như “Ôi trời đất ơi!”.
Sáng hôm sau, sau khi Rasheed đi làm, Mariam dỡ quần áo của mình ra cất vào trong tủ. Cô kéo một xô nước từ dưới giếng lên rồi dùng giẻ lau cửa sổ phòng mình và phòng khách tầng dưới. Cô lau sàn, quét đám mạng nhện đang rung rinh trên góc trần nhà. Cô mở cửa sổ cho không khí bên ngoài tràn vào trong nhà.
Cô đong ba bát đậu lăng rồi ngâm trong nồi, cô tìm thấy một con dao và gọt vài củ cà rốt với khoai tây, sau đó cũng bỏ chúng vào ngâm. Cô tìm thùng bột mì, thấy nó nằm tít trong một cái tủ, sau một dãy lọ gia vị bụi bặm, và bắt đầu làm bột, cô nhào bột theo cách mẹ Nana đã chỉ, ấn bột xuống bằng gan bàn tay, cuộn mép bên ngoài vào trong, lật miếng bột và lại tiếp tục ấn dẹp nó xuống. Sau khi làm bột xong, cô bọc nó vào trong một miếng vải ẩm, choàng hijab và đi ra ngoài, tới lò nướng công cộng.
Rasheed đã chỉ cho cô chỗ nướng bánh, ở dưới phố, qua một lần rẽ trái rồi ngay sau đấy rẽ phải, nhưng tất cả những gì Mariam phải làm là đi theo đám phụ nữ và trẻ con cũng đi về phía đó. Những đứa trẻ mà Mariam nhìn thấy đang chạy đuổi theo sau hoặc vượt lên trước mẹ của chúng, đều mặc những chiếc áo vá chằng vá đụp. Chúng mặc những chiếc quần trông quá rộng hoặc là quá chật và đi những đôi dép với quai buộc bằng giẻ cứ đập lên đập xuống. Chúng lấy que lăn những cái lốp xe đạp cũ đã bỏ đi.
Những bà mẹ đi thành từng nhóm ba hoặc bốn người, người mặc burqa*, người thì không. Mariam có thể nghe thấy tiếng trò chuyện rôm rả, tiếng cười sảng khoái của họ. Trong lúc cúi gằm mặt mà đi, cô có thể nghe được vài câu nói đùa của họ, dường như luôn dính dáng đến những đứa con ốm yếu hay những ông chồng lười biếng, vô ơn.
Áo trùm ngoài từ đầu tới chân của phụ nữ Ả rập.
Cứ như là cơm tự nó chín trong nồi ấy.
Wallah o billah*, chẳng có lấy một phút nghỉ ngơi nào cả!
Và lão ấy nói với tôi, tôi thề đây là sự thật, lão ấy đã nói với tôi...
Thề có Thượng đế!
Cuộc trò chuyện không dứt này, tuy giọng điệu đều đều nhưng vui vẻ một cách kỳ lạ, cứ bay lượn xoay tròn. Nó cứ thế tiếp tục trên đường xuống phố, vòng qua ngã rẽ và quanh quẩn trong hàng người ở chỗ lò nướng. Những ông chồng cờ bạc. Những ông chồng chỉ biết tôn thờ mẹ mình mà không bao giờ chi ra cho vợ lấy một đồng rupi. Mariam tự hỏi không biết có bao nhiêu người phụ nữ phải chịu cùng một sự bất hạnh khi mà tất cả đều lấy phải những người đàn ông tồi tệ như thế. Hay đây chỉ là trò chơi của các bà vợ mà cô chưa được biết đến, một thứ nghi thức hằng ngày giống như ngâm gạo hay nhào bột? Và có lẽ họ đang chờ cô mau nhập bọn với họ chăng?
Ở chỗ xếp hàng chờ nướng bánh, Mariam bắt gặp những cái liếc ngang nhằm vào mình và nghe thấy những tiếng thì thầm. Hai bàn tay cô bắt đầu đổ mồ hôi. Cô cảm thấy tất cả bọn họ đều biết rằng cô sinh ra là một harami, nguồn gốc của sự hổ thẹn đối với bố cô và gia đình ông ta. Tất cả bọn họ đều biết rằng cô đã quay lưng lại với mẹ và tự làm ô nhục bản thân.
Cô thấm mồ hôi ở môi trên bằng một góc của chiếc hijab và cố gắng bình tĩnh lại.
Sau một vài phút thì cô cảm thấy đỡ hơn. Rồi có ai đó vỗ nhẹ lên vai cô. Mariam quay lại và nhìn thấy một người phụ nữ mập mạp, da sáng và cũng choàng hijab như cô. Bà ta có mái tóc đen, ngắn và xoăn tít, khuôn mặt hóm hỉnh, tròn vành vạnh. Môi bà dày hơn môi Mariam nhiều và môi dưới hơi trễ, như thể bị kéo xuống bởi cái nốt ruồi lớn màu đen nằm ngay dưới viền môi. Bà có đôi mắt to màu xanh ánh lên những tia sáng mời gọi với Mariam.
“Cháu là vợ mới của Rasheed thân mến đấy phải không?” bà ta hỏi, tươi cười. “Cô gái đến từ Herat. Cháu còn trẻ quá! Cháu là Mariam phải không? Tôi tên là Fariba. Tôi sống ở cùng phố với cháu, cách nhà cháu năm nhà về phía trái, ngôi nhà có cửa màu xanh. Đây là Noor, con trai tôi.”
Thằng bé đứng cạnh bà ta có khuôn mặt thân thiện, vui vẻ và mái tóc xoăn như mẹ mình. Nó có một đám lông đen trên dái tai bên trái. Đôi mắt nó ánh lên nét tinh nghịch và bạo dạn. Nó chìa tay ra.
“Salaam, Khala Jan.*”
Chào cô thân mến.
“Noor năm nay mười tuổi. Tôi còn có một đứa lớn hơn, tên là Ahmad.”
“Anh ấy mười ba tuổi,” Noor nói.
“Mười ba sắp sang tuổi mười bốn,” Fariba cười lớn. “Chồng tôi tên là Hakim,” bà nói. “Ông ấy là giáo viên ở đây, Deh-Mazang. Lúc nào cháu ghé qua nhé, chúng ta sẽ cùng uống trà.”
Và rồi đột nhiên, các bà khác như thể được khuyến khích, lao qua Fariba và mau chóng vây tròn xung quanh Mariam.
“Thế ra cháu là cô dâu trẻ của Rasheed thân mến.”
“Cháu thấy Kabul thế nào?”
“Tôi cũng đã từng tới Herat. Tôi có một người anh họ ở đấy.”
“Thế cháu muốn có con trai hay con gái trước?”
“Những thánh đường! Ôi, tuyệt đẹp! Thật là một thành phố tráng lệ!”
“Con trai thì tốt hơn, Mariam thân mến ạ, chúng sẽ nối dõi tông đường.”
“Ôi dào! Bọn con trai lấy vợ xong rồi bay nhảy hết. Con gái thì sẽ ở lại chăm sóc chúng ta lúc về già.”
“Chúng tôi đã nghe tin cháu tới.”
“Sinh đôi đi cháu ạ. Cả trai cả gái! Như thế thì ai cũng vui cả.”
Mariam lùi lại. Cô thở gấp. Tai cô ù đi, mạch máu đập dồn dập, mắt cô quay cuồng giữa các khuôn mặt. Cô lại lùi lại nhưng chẳng còn chỗ nữa - cô đang đứng ở trung tâm của vòng tròn. Cô nhìn thấy Fariba, lúc này đang cau có vì bà biết cô đang bối rối.
“Để cô ấy yên!” Fariba nói. “Lui ra nào, để cô ấy yên! Các bà đang làm cô ấy sợ đấy!”
Mariam giữ chặt túi bột trước ngực và lách qua đám đông đang bủa vây lấy mình.
“Cháu đi đâu thế, hamshira*?”
Từ để gọi người phụ nữ, dành cho những người không phải là chị, em ruột.
Cô chen ra ngoài cho tới khi, bằng cách nào đó, tới được chỗ trống và chạy ngược ra phố. Mãi đến khi tới giao lộ cô mới nhận ra mình đã nhầm đường. Cô quay đầu chạy theo hướng ngược lại, đầu chúi xuống đất, vấp ngã một lần khiến đầu gối bị trầy xước mạnh, rồi cô lại đứng lên và chạy, vụt qua đám phụ nữ.
“Có chuyện gì thế cháu?”
“Cháu chảy máu rồi kìa, hamshira!”
Mariam rẽ ở một góc phố, rồi sau đó lại một góc phố khác. Bây giờ thì cô đã tìm đúng phố nhưng bỗng nhiên cô không thể nhớ nhà của Rasheed là nhà nào. Cô chạy lên đầu phố rồi lại xuống cuối phố, thở hổn hển gần như sắp khóc, bắt đầu mò mẫm thử từng nhà một. Một vài nhà thì cửa khóa, số khác thì cửa mở để lộ những khoảng sân xa lạ, đám chó sủa ầm ĩ và lũ gà giật mình hoảng hốt. Cô tưởng tượng ra cảnh Rasheed trên đường về nhà thì thấy cô vẫn đang tìm kiếm trên con đường này, đầu gối chảy máu và bị lạc trên chính phố nhà mình. Bây giờ thì cô bắt đầu khóc. Cô đẩy các cánh cửa, miệng lẩm nhẩm cầu nguyện trong cơn hốt hoảng, mặt đầm đìa nước mắt cho đến khi một cánh cửa mở được và cô nhìn thấy, lòng đầy nhẹ nhõm, cái nhà xí, cái giếng, gian để dụng cụ. Cô đóng sập cánh cửa phía sau lưng mình và xoay chốt lại. Sau đó, cô bò lại gần bức tường và bắt đầu nôn khan. Xong rồi cô bò đi, ngồi tựa vào tường, hai chân duỗi ra trước mặt. Cô chưa bao giờ cảm thấy cô đơn như thế trong đời.
Đêm ấy khi Rasheed về nhà, ông ta mang theo một túi giấy màu nâu. Mariam thất vọng vì ông ta không nhận thấy cửa sổ sạch sẽ, sàn nhà đã được cọ rửa và mạng nhện đã được quét sạch. Nhưng ông ta có vẻ hài lòng vì cô đã bày sẵn bữa tối cho ông ta trên một tấm thảm ăn sofrah sạch sẽ trải trên nền phòng khách.
“Em đã nấu daal,” Mariam nói.
“Tốt. Tôi sắp chết đói đây.”
Cô dội nước từ cái afiawa cho chồng rửa tay. Và khi ông ta đã lau khô tay, cô đặt trước mặt ông ta một tô daal còn đang bốc khói và một đĩa cơm trắng bông. Đây là bữa đầu tiên cô nấu cho ông ta và Mariam ước gì cô ở trong tâm trạng tốt hơn khi chuẩn bị bữa cơm đó. Cô vẫn còn rùng mình về chuyện đã xảy ra ở lò nướng bánh trong khi nấu ăn, và suốt cả ngày cô cứ băn khoăn mãi về độ đặc và màu sắc của món daal, sợ chồng mình sẽ nghĩ rằng cô quấy quá nhiều gừng hoặc cho không đủ nghệ.
Rasheed nhúng thìa vào trong bát daal màu vàng.
Mariam hơi phân vân đôi chút. Nếu ông ấy thất vọng hoặc nổi giận thì sao? Hoặc nếu ông ấy không bằng lòng và đẩy đĩa thức ăn ra?
“Ông cẩn thận,” cô cố nói. “Còn nóng đấy.”
Rasheed bụm môi lại thổi, rồi đút một thìa vào miệng.
“Ngon lắm,” ông nói. “Có vẻ hơi ít muối một chút nhưng ngon. Thậm chí còn trên cả ngon ấy chứ.”
Cảm thấy nhẹ nhõm, Mariam ngồi nhìn trong lúc ông ta ăn. Cô không giấu được vẻ tự hào. Cô đã làm tốt - thậm chí còn trên cả ngon - và sự cảm động mà cô cảm nhận từ lời khen ngợi nhỏ đó của ông ta đã làm cô ngạc nhiên. Những khó chịu đầu ngày giảm đi một chút.
“Ngày mai là thứ Sáu,” Rasheed nói. “Em nghĩ sao nếu tôi đưa em đi chơi?”
“Quanh Kabul ạ?”
“Không. Calcutta.”
Mariam chớp mắt.
“Đùa đấy. Tất nhiên là Kabul. Còn có thể là nơi nào khác chứ?” Ông ta thò tay vào trong cái túi màu nâu. “Nhưng trước tiên tôi phải nói điều này với em.”
Ông ta rút từ trong túi ra một cái burqa màu xanh da trời. Thước vải xổ xuống quá đầu gối ông ta khi ông ta nhấc nó lên. Ông ta cuộn cái burqa lại và nhìn Mariam.
“Tôi có nhiều khách hàng, Mariam ạ, là đàn ông, họ mang theo vợ tới cửa hàng. Những người phụ nữ đó tới cửa hàng mà không hề bịt mặt, họ nói chuyện trực tiếp với tôi, nhìn thẳng vào mắt tôi mà không hề xấu hổ. Họ trang điểm và mặc váy ngắn đến gối. Có khi họ thậm chí còn đặt chân ngay trước mặt tôi, để cho tôi đo cỡ chân, và chồng họ đứng đó nhìn. Những người đàn ông ấy cho phép điều đó. Họ không nghĩ gì hết về chuyện một người lạ đụng chạm vào đôi bàn chân trần của vợ họ! Có lẽ họ nghĩ họ là những người đàn ông hiện đại, có học thức, tin tưởng vào học vấn của mình. Họ không thấy rằng họ đang hủy hoại nang và namoos, danh dự và niềm kiêu hãnh của bản thân.”
Ông ta lắc đầu.
“Hầu như tất cả bọn họ sống ở các khu giàu có của Kabul. Tôi sẽ đưa em tới đó. Rồi em sẽ thấy. Nhưng họ cũng sống ở đây nữa, những người đàn ông mềm yếu đó, cũng sống ở ngay quanh đây thôi. Có một tay thầy giáo ở cuối phố, tên là Hakim, tôi thấy bà vợ Fariba của lão ta lúc nào cũng đi lại trên phố mà không có thứ gì trên đầu ngoại trừ một cái khăn quàng. Thẳng thắn mà nói, tôi thấy xấu hổ khi phải nhìn một người đàn ông không còn kiểm soát được vợ mình.”
Ông ta nhìn Mariam trừng trừng.
“Nhưng tôi thì không phải loại đàn ông đó, Mariam ạ. Ở quê tôi, một cái nhìn sai trái, một lời nói thiếu đúng đắn sẽ gây ra đổ máu. Ở quê tôi, khuôn mặt người phụ nữ là chỉ dành cho chồng của cô ta thôi. Tôi muốn em nhớ lấy điều đó. Em hiểu chứ?”
Mariam gật đầu. Khi ông ta đưa cái túi, cô cầm lấy nó.
Niềm vui sướng ban đầu khi được chồng khen ngợi việc nấu nướng bây giờ đã bốc hơi hết. Thay vào đó là cảm giác lo sợ. Người đàn ông này đối với Mariam sẽ đường bệ và không thể lay chuyển được như dãy núi Safid-koh tỏa bóng to lù lù khắp làng Gul Daman.
Rasheed đẩy cái túi giấy qua chỗ cô. “Như vậy là chúng ta đã hiểu nhau. Bây giờ thì để tôi ăn thêm một chút daal nữa nhé.”
11
Trước kia Mariam chưa từng mặc burqa. Rasheed phải giúp cô mặc nó. Cái mũ độn bông gây cảm giác vừa chật vừa nặng ở trên đầu, và cô thấy thật lạ khi nhìn thế giới qua tấm mạng. Cô tập đi xung quanh phòng trong bộ áo đó nhưng liên tục giẫm vào viền áo và vấp ngã. Cảm giác không thể nhìn rõ mọi thứ xung quanh thật khó chịu, và cô không thích sự ngột ngạt khi mép vải cứ ép chặt vào miệng.
“Rồi em sẽ quen thôi,” Rasheed nói. “Tôi dám chắc rằng rồi dần dần em sẽ còn thích nó nữa kia.”
Họ đi xe bus tới một nơi mà Rasheed gọi là Công viên Shar-e-Nau, ở đó có những đứa trẻ đẩy xích đu cho nhau và đập bóng chuyền qua những cái lưới rách buộc vào thân cây. Họ cùng nhau đi lang thang ngắm nhìn các cậu bé đang thả diều, Mariam đi bên cạnh Rasheed, thỉnh thoảng lại vấp phải gấu áo burqa. Tới bữa trưa, Rasheed dẫn cô tới ăn ở một quán kebab nhỏ gần một nhà thờ mà ông ta gọi là Haji Yaghoub. Sàn nhà thì nhớp nháp còn không khí thì sặc sụa mùi khói. Các bức tường thoảng mùi thịt sống, còn âm nhạc, thứ mà Rasheed miêu tả là logari, thì quá ồn ào. Đầu bếp là những chàng trai gầy gò, một tay quạt những xiên thịt nướng còn một tay thì đập muỗi. Mariam chưa bao giờ tới quán ăn cho nên lúc đầu cô cảm thấy thật kỳ cục khi phải ngồi trong một căn phòng đông đúc với rất nhiều người lạ, rồi lại phải nhấc burqa lên để đút từng miếng thức ăn vào miệng. Một cảm giác lo lắng y như hôm ở lò nướng bánh chợt xuất hiện, nhưng sự có mặt của Rasheed xoa dịu cô được phần nào, và sau một thoáng cô không còn để ý nhiều đến âm nhạc, đến khói và thậm chí cả những người xung quanh nữa. Và cô ngạc nhiên khi nhận ra rằng cái burqa cũng thật thoải mái. Nó giống như cửa sổ một chiều. Từ bên trong, cô có thể quan sát xung quanh nhưng lại được che chở khỏi những ánh mắt soi mói của người lạ. Cô không còn phải lo lắng rằng những người kia chỉ bằng một cái liếc mắt sẽ phát hiện ra tất cả những bí mật đáng xấu hổ của cô trong quá khứ.
Trên phố, Rasheed chỉ tên nhiều tòa nhà công vụ; đây là tòa Đại sứ quán Mỹ, ông ta nói, còn kia là trụ sở Bộ Ngoại giao. Ông ta chỉ những chiếc xe hơi, đọc tên và xuất xứ của chúng: xe Volga của Liên Xô, Chevrolet của Mỹ, Opel của Đức.
“Em thích cái nào?” Rasheed hỏi.
Mariam lưỡng lự rồi trỏ vào một chiếc Volga, và Rasheed cười lớn.
Kabul đông đúc hơn nhiều so với Herat nhỏ bé mà Mariam từng được thấy. Ở đây ít cây cối và gari hơn, nhưng lại nhiều ô tô hơn, các tòa nhà cũng cao hơn, có nhiều đèn giao thông và nhiều con đường được lát gạch hơn. Và ở đâu, Mariam cũng nghe thấy phương ngữ khác biệt của thành phố: như “thân mến” thì được gọi là jon thay vì jo, “chị” thì là hamshira thay cho hamshireh và còn nhiều nữa.
Rasheed mua cho cô một bát kem từ một người bán hàng rong. Đó là lần đầu tiên cô được ăn kem và Mariam chưa bao giờ tưởng tượng ra được những trò vui thích như thế lại có thể được chơi ở trong vòm miệng. Cô ăn ngấu nghiến hết cả bát, từ lớp hạt hồ trăn xay nhỏ ở trên mặt, đến lớp sợi bún gạo mỏng ở dưới đáy. Cô ngạc nhiên trước những hoa văn kỳ thú và cái vị ngòn ngọt của nó.
Họ đi đến một nơi được gọi là Kocheh-Morgha, phố Gà. Đó là một cái chợ nhỏ đông đúc trong một khu mà Rasheed nói là một trong những nơi giàu có nhất Kabul.
“Xung quanh đây là nơi ở của quan chức ngoại giao, thương gia giàu có, hoàng thân quốc thích và những người tương tự. Đây không phải là chỗ dành cho chúng ta.”
“Em không nhìn thấy con gà nào cả,” Mariam nói.
“Đó là thứ em không thể tìm thấy được ở phố Gà,” Rasheed bật cười.
Con phố ken kín các cửa hiệu, các quầy hàng nhỏ bán mũ da cừu và những chiếc chapan sặc sỡ bảy sắc cầu vồng. Rasheed dừng lại, ngắm nghía con dao nạm bạc ở một cửa hàng và một khẩu súng cổ ở một cửa hàng khác mà người bán hàng đảm bảo với Rasheed rằng nó là di vật còn lại từ cuộc kháng chiến chống quân Anh lần thứ nhất*.
Kéo dài từ năm 1839 tới 1842, khi người Anh tiến vào để tranh giành ảnh hưởng với người Nga trong khu vực.
“Còn tôi là Moshe Dayan*,” Rasheed lầm bầm. Ông ta cười nửa miệng, dường như đối với Mariam thì nụ cười đó chỉ dành riêng cho cô. Một nụ cười riêng tư, của một cặp vợ chồng.
Một vị tướng và cũng là chính khách của Israel, biểu tượng của cuộc đấu tranh cho sự ra đời của nhà nước Israel mới, sau này trở thành bộ trưởng Bộ Quốc phòng và bộ trưởng Bộ Ngoại giao Israel.
Họ đi qua các hàng thảm, cửa hiệu bán đồ thủ công mỹ nghệ, cửa hàng làm bánh, cửa hàng hoa, những cửa hàng bán com lê cho đàn ông và váy áo cho phụ nữ, và bên trong đó, phía sau những tấm rèm có viền đăng ten, Mariam nhìn thấy những cô gái trẻ đang đơm cúc áo và là phẳng cổ áo. Hết lần này tới lần khác, Rasheed chào hỏi các chủ cửa hàng mà ông ta quen biết, đôi lúc bằng tiếng Farsi, thỉnh thoảng bằng tiếng Pashto. Khi họ bắt tay và hôn má nhau thì Mariam đứng cách xa mấy bước. Rasheed không vẫy tay gọi cô lại và cũng không giới thiệu cô.
Ông ta bảo cô đứng đợi ở ngoài một cửa hàng thêu. “Tôi biết chủ cửa hàng. Tôi sẽ chỉ vào trong một phút thôi, để chào salaam*.”
Một kiểu chào của người đạo Hồi, áp tay vào trán và cúi thấp.
Mariam đứng đợi bên ngoài trên vỉa hè đông người. Cô ngắm nhìn những chiếc xe hơi bò trên phố Gà, luồn lách giữa đám bán hàng rong và khách bộ hành, nhấn còi đuổi đám trẻ con và lũ lừa đứng lì trên đường. Cô quan sát những thương gia vẻ mặt buồn chán đang ở trong các quầy hàng nhỏ của mình, hút thuốc lá hoặc khạc nhổ vào những chiếc ống đồng, thỉnh thoảng họ ló mặt ra khỏi bóng râm để rao bán các thứ hàng dệt và áo poostin cổ lông thú với người qua đường.
Nhưng những người đàn bà mới làm cho Mariam chú ý hơn cả.
Đàn bà ở khu này khác với đàn bà ở các khu nghèo hơn quanh đó - chẳng hạn như khu mà cô và Rasheed sống, nơi có rất nhiều người trùm kín từ đầu đến chân. Những người phụ nữ này - Rasheed dùng từ gì ấy nhỉ? - “hiện đại”. Đúng vậy, những người phụ nữ Afghanistan hiện đại cưới những người đàn ông Afghanistan hiện đại, những người không quan tâm tới chuyện vợ mình đi giữa những người lạ, với son phấn trên mặt và không có gì trên đầu. Mariam ngắm nhìn họ đi lại thoải mái trên phố, có khi thì với một người đàn ông, có khi đi một mình, hoặc đôi khi đi cùng với những đứa trẻ má ửng hồng, đi giày bóng loáng và đeo đồng hồ có quai da, tay dắt những chiếc xe đạp có ghi đông nhô cao với những chiếc nan hoa màu vàng, không giống với trẻ con ở Deh-Mazang với những nốt mụn ruồi trên má, tay cầm que lăn những chiếc lốp xe đạp cũ.
Phụ nữ ở đây ai cũng vung vẩy túi xách tay và xúng xính váy áo. Mariam thậm chí còn nhìn thấy một bà vừa lái xe vừa hút thuốc. Móng tay họ dài và được sơn nhũ hồng hoặc da cam, và môi họ đỏ như những bông hoa tuy líp. Họ đi giày cao gót, và tất bật như thể bận việc liên miên. Họ đeo những cặp kính chống nắng sẫm màu và khi họ lướt qua, Mariam ngửi thấy mùi nước hoa thoang thoảng. Cô tưởng tượng rằng tất cả họ đều có bằng đại học, rằng họ làm việc trong các tòa nhà văn phòng, bên chiếc bàn của riêng mình, nơi họ đánh máy chữ, hút thuốc và gọi những cuộc điện thoại quan trọng tới các nhân vật quan trọng. Những người phụ nữ ấy làm cho Mariam cảm thấy hoang mang. Họ khiến cô nhận thấy sự thấp kém, vẻ ngoài thô kệch, sự thiếu khát vọng và thiếu hiểu biết của mình.
Rồi sau đó Rasheed vỗ nhẹ vào vai cô và đưa cho cô một vật gì đó.
“Này.”
Đó là một chiếc khăn choàng màu hạt dẻ có tua rua đính hạt và viền thêu chỉ vàng.
“Em thích không?”
Mariam ngước nhìn. Lúc đó, Rasheed đã làm một việc khiến cô cảm động. Ông ta nháy mắt và ngoảnh đi tránh cái nhìn của cô.
Mariam nghĩ về Jalil, về cái vẻ mạnh mẽ mà vui nhộn mỗi khi ông ta tặng cho cô những món đồ nữ trang, về niềm vui sướng không thể cưỡng lại hòa trộn với sự biết ơn. Mẹ Nana đã đúng về những món quà của Jalil. Chúng chỉ là những biểu hiện miễn cưỡng của sự ăn năn, giả dối, và ông ta làm để xoa dịu lương tâm mình thì hơn là mong muốn điều tốt đẹp cho cô. Còn cái khăn này, Mariam thấy, nó là một món quà thực thụ.
“Nó đẹp lắm,” cô nói.
Đêm đó, Rasheed lại đến phòng cô. Nhưng ông ta không ngồi hút thuốc lá ở cửa mà bước hẳn vào trong và đến ngồi bên cạnh cô khi cô nằm trên giường. Những chiếc lò xo kêu cọt kẹt khi chiếc giường bị trũng xuống bên ông ta.
Sau một thoáng do dự, bàn tay của ông ta đặt lên trên cổ cô, những ngón tay thô kệch ngửa ra từ từ ép xuống cổ họng cô. Ngón tay cái trượt xuống và bây giờ đã chạm vào khoảng hõm trên xương đòn, rồi sau đó là vùng da thịt phía dưới. Mariam bắt đầu run lẩy bẩy. Bàn tay ông ta vẫn trườn xuống sâu hơn, sâu hơn nữa, móng tay của ông ta cạo vào lớp vải áo cô.
“Em không thể,” cô rền rĩ, nhìn thân hình ông ta dưới bóng trăng, bờ vai u dày, vòm ngực nở rộng với những đám lông xám nhô ra từ ngực áo để mở.
Bàn tay ông ta bây giờ đang ở trên ngực phải của cô, bóp mạnh nó từ bên ngoài lớp áo, và cô có thể nghe thấy ông ta thở mạnh.
Ông ta trườn vào tấm chăn cạnh cô. Cô có thể cảm thấy bàn tay ông ta đang cởi thắt lưng của ông và dây quần của cô. Hai tay cô ghì chặt tấm chăn. Ông ta đè lên người cô, quằn quại và trườn lên trườn xuống, cô bật khóc thút thít. Mariam nhắm nghiền mắt, răng nghiến chặt.
Cơn đau đến đột ngột và khủng khiếp. Hai mắt cô choàng mở. Cô rít không khí qua kẽ răng và cắn vào đốt ngón tay cái. Cô choàng cánh tay kia qua lưng Rasheed và những ngón tay của cô bấu vào áo ông ta.
Rasheed vùi mặt xuống chiếc gối của cô, còn Mariam mở to mắt nhìn trừng trừng vào trần nhà phía trên vai ông ta, toàn thân cô run rẩy, môi mím lại và cảm thấy sức nóng từ hơi thở dồn dập của ông ta trên vai mình. Khoảng không khí giữa họ sực mùi thuốc lá, mùi hành, mùi thịt cừu nướng mà họ đã ăn trước đó. Thỉnh thoảng tai ông ta cọ vào má cô, và cảm giác dặm dặm cho cô biết rằng ông ta mới cạo liền.
Khi đã xong xuôi, ông ta lăn xuống khỏi người cô, thở hổn hển. Ông ta vắt thõng cánh tay trước trán. Trong bóng tối cô có thể nhìn thấy những chiếc kim đồng hồ dạ quang từ chiếc đồng hồ đeo tay của ông ta. Họ nằm đó một lúc, ngửa mặt lên, không ai nhìn ai.
“Không có gì phải ngượng cả, Mariam,” ông ta nói líu nhíu. “Đó là điều mà mọi cặp vợ chồng đều làm. Đấng tiên tri và các bà vợ của người cũng đã làm như thế. Không có gì đáng xấu hổ cả.”
Một lát sau, ông ta đẩy cái chăn và bước ra khỏi căn phòng, bỏ lại cô với vết hằn của cái đầu ông ta trên gối, bỏ lại cô nằm chờ cho nỗi đau đớn dịu xuống, nhìn lên những vì sao đông cứng trên bầu trời và một đám mây bao quanh mặt trăng như chiếc mạng che mặt cô dâu trong ngày cưới.
12
Lễ Ramadan đến vào mùa thu năm đó, năm 1974. Lần đầu tiên trong đời Mariam nhận thấy hình dáng của con trăng lưỡi liềm có thể làm thay đổi cả một thành phố như thế nào, thay đổi cả nhịp sống và tính cách của nó. Cô nhận thấy một sự im lặng uể oải xâm chiếm Kabul. Giao thông lừ đừ, thưa thớt, thậm chí là tĩnh lặng. Cửa hàng cửa hiệu trống không. Nhà hàng tắt đèn đóng cửa. Mariam không còn nhìn thấy người đứng hút thuốc dưới phố, những tách trà nghi ngút khói trên các bậu cửa sổ. Và đến iftar*, khi mặt trời lặn xuống phía Tây và khẩu đại bác từ trên núi Shir Darwaza gầm lên, cả thành phố chấm dứt thời gian nhịn đói, và Mariam cũng vậy, với bánh mì và một quả chà là, cô nếm vị ngọt ngào của lần đầu tiên trong mười lăm năm cuộc đời mình được chia sẻ cảm giác hòa mình với cộng đồng.
Thời gian được phép ăn tối trong dịp lễ Ramadan, cũng là lúc mặt trời lặn.
Trừ chừng mươi ngày trong dịp lễ, còn thì Rasheed không tuân thủ việc ăn chay. Những ngày hiếm hoi ăn chay, ông ta trở về nhà với tâm trạng bực dọc. Cái đói khiến ông ta ăn nói cộc lốc, dễ cáu kỉnh và hay sốt ruột. Một tối, khi Mariam chuẩn bị bữa tối muộn vài phút, ông ta bèn ăn bánh mì với củ cải. Thậm chí khi Mariam đã đặt đĩa cơm với thịt cừu và món qurma mướp tây trước mặt ông ta thì ông ta cũng chẳng đoái hoài. Ông ta chẳng nói gì và tiếp tục nhai bánh mì, hai thái dương động đậy, những mạch máu trên trán căng phồng giận dữ. Ông ta tiếp tục nhai và nhìn chằm chằm về phía trước, rồi khi Mariam nói với ông ta thì ông ta đưa mắt về phía cô nhưng cũng chẳng buồn chú mục vào mặt cô rồi lại tiếp tục đút một miếng bánh mì khác vào miệng.
Mariam cảm thấy nhẹ cả người khi tháng Ramadan kết thúc.
Nhớ lại hồi ở kolba, trong ngày đầu tiên của ba ngày lễ Eid-ul-Fitr theo sau lễ Ramadan, Jalil sẽ tới thăm Mariam và Nana. Mặc com lê và thắt cà vạt, ông đem theo những món quà của lễ Eid. Có năm ông tặng Mariam một cái khăn quàng cổ bằng len. Ba người bọn họ ngồi uống trà rồi sau đó Jalil xin lỗi phải đi.
“Về dự lễ Eid cùng với gia đình thật của ông ta,” Nana nói thế khi ông vượt qua con suối và vẫy tay tạm biệt. Giáo sĩ Faizullah cũng đến. Ông mang cho Mariam những viên kẹo sô cô la bọc trong giấy bạc, một giỏ trứng luộc nhuộm màu và bánh quy. Sau khi ông đi rồi, Mariam trèo lên một cây liễu cùng với bữa tiệc của mình. Ngồi vắt vẻo trên một cành cao, cô bé ăn những viên sô cô la mà Giáo sĩ Faizullah mang cho và thả những chiếc vỏ giấy bạc cho đến khi chúng nằm rải rác xung quanh thân cây như thể cái cây đang nở ra những bông hoa màu bạc. Ăn hết sô cô la, cô bé lại bắt đầu với bánh quy, và với một chiếc bút chì, cô bé vẽ những khuôn mặt lên các quả trứng Giáo sĩ Faizullah mang cho. Mariam cảm thấy sợ hãi khi nghĩ đến lễ Eid, đấy là khoảng thời gian của lòng hiếu khách và các nghi lễ, khi các gia đình trong những bộ cánh đẹp nhất đi thăm viếng lẫn nhau. Cô hình dung bầu không khí ở Herat như đang vỡ ra với niềm vui sướng, và ai nấy đều ánh mắt bừng sáng, hân hoan bày tỏ niềm yêu mến và thiện chí đối với nhau. Nỗi cô độc phủ xuống Mariam như một tấm vải liệm và nó chỉ được nhấc ra khi Eid đã qua đi.
Năm nay, lần đầu tiên Mariam được tận mắt nhìn thấy Eid mà thời thơ ấu cô đã hình dung.
Rasheed đưa cô ra phố. Mariam chưa bao giờ được đi giữa một chốn sôi động như vậy. Chẳng sợ thời tiết lạnh giá, người người tràn ra trên những nẻo đường náo nhiệt để đi thăm viếng họ hàng. Trên phố nhà họ, Mariam nhìn thấy Fariba và cậu con trai Noor diện com lê. Fariba choàng một chiếc khăn màu trắng đi phía sau một người đàn ông dáng người nhỏ nhắn, trông có vẻ hơi rụt rè với cặp kính trên mắt. Cậu con trai cả của bà cũng ở đó, tự nhiên Mariam nhớ ra hôm ở lò nướng, Fariba đã nói tên cậu ta là Ahmad. Cậu ta có cặp mắt sâu ủ ê, khuôn mặt suy tư và nghiêm trang hơn so với cậu em, một khuôn mặt cho thấy sự trưởng thành sớm ở nơi cậu trong khi ở đứa em là nét trẻ con. Quanh cổ Ahmad đeo sợi dây chuyền có mặt là chữ ALLAH sáng lấp lánh.
Fariba chắc hẳn đã nhận ra Mariam đang đi bên cạnh Rasheed trong bộ burqa. Bà vẫy tay gọi to “Eid mubarak!”*
Một lời chúc nhau, ở đây là “Chúc mừng lễ Eid!”.
Từ bên trong chiếc burqa, Mariam khẽ gật đầu.
“Thế em biết bà ta à, bà vợ ông giáo ấy?” Rasheed hỏi.
Mariam nói cô không biết.
“Tốt nhất là em nên tránh xa. Bà ấy là người ưa buôn chuyện, hay thọc mạch. Còn ông chồng bà ta thì tự xem mình là học giả. Nhưng ông ta là một con chuột. Em nhìn xem. Có phải ông ta trông như một con chuột không?”
Họ đến Shar-e-Nau, nơi bọn trẻ con đang nô đùa trong những bộ quần áo mới, những chiếc áo vest sáng màu có đính hạt, và so quà tặng Eid với nhau. Phụ nữ thì bày các đĩa kẹo. Mariam nhìn thấy đèn lồng ngày hội treo ở cửa sổ các cửa hàng và nghe thấy tiếng nhạc om sòm phát ra từ loa phóng thanh. Những người lạ chào “Eid mubarak” khi cô đi ngang qua.
Buổi tối hôm đó họ tới Chaman, và đứng đằng sau Rasheed, Mariam ngắm nhìn pháo hoa rực rỡ trên bầu trời lóe ánh sáng màu xanh, hồng và vàng. Cô lại nhớ những khi cùng ngồi với Giáo sĩ Faizullah ở bên ngoài kolba, nhìn pháo sáng bắn lên xa xa từ Herat, những màu sắc bùng lên một cách đột ngột phản chiếu vào đôi mắt hiền dịu, mờ đục và bí ẩn của ông. Nhưng cô nhớ mẹ hơn mọi thứ. Mariam ước gì bà còn sống để bà có thể nhìn thấy cảnh tượng này. Và hơn hết là để được nhìn thấy cô. Để được thấy rằng cuối cùng thì sự mãn nguyện và vẻ đẹp không phải là những gì không thể đạt tới. Thậm chí là cho những kẻ như họ.
Họ có khách khứa tới thăm trong lễ Eid. Tất cả đều là đàn ông, bạn của Rasheed. Khi có tiếng gõ cửa, Mariam biết rằng mình phải lên tầng trên, vào phòng đóng cửa lại. Cô ở yên đó, trong khi đám đàn ông uống trà ở dưới nhà với Rasheed, hút thuốc và tán chuyện. Rasheed bảo Mariam không được xuống nhà cho đến khi khách khứa đã về hết.
Mariam không bận tâm. Trái lại, cô còn cảm thấy thật hãnh diện. Rasheed đã cho thấy sự ràng buộc thiêng liêng trong mối quan hệ của họ. Danh dự, phẩm giá của cô, namoos của cô là một điều ông ta thấy đáng giữ gìn. Cô cảm thấy vinh dự bởi sự bảo vệ đó. Cảm thấy mình được nâng niu và thật quan trọng.
Trong ngày thứ ba và cũng là ngày cuối cùng của Eid, Rasheed tới thăm một vài người bạn. Mariam bị đầy bụng suốt cả tối hôm trước nên cô đun một ít nước và pha cho mình một chén trà xanh rắc bột hạt đậu khấu. Trong phòng khách, cô dọn dẹp mớ chiến trường mà những vị khách để lại tối hôm qua: cốc chén nằm lăn lóc, hạt dưa cắn dở găm vào trong nệm, đĩa thức ăn tối qua đóng bánh ở ngoài viền. Mariam vừa dọn dẹp đống lộn xộn vừa tự hỏi những người đàn ông lười biếng đó không biết đã chè chén say sưa tới chừng nào.
Cô không chủ ý tới phòng của Rasheed. Nhưng công việc dọn dẹp đã đưa cô từ phòng khách tới cầu thang, rồi từ đó tới hành lang ở trên lầu và tới cửa phòng ông, và điều tiếp theo mà cô biết là cô đã ở trong phòng ông ta lần đầu tiên, ngồi trên giường của ông ta và cảm thấy mình như một kẻ phạm tội.
Cô nhìn thấy một tấm rèm nặng nề màu xanh, những đôi giày được đánh sáng bóng xếp ngay ngắn dọc bức tường, cánh cửa buồng bong tróc lớp sơn xám, để lộ thớ gỗ bên trong. Cô nhìn thấy một gói thuốc lá trên mặt tủ quần áo phía sau giường. Cô đặt một điếu vào môi mình và đứng trước cái gương nhỏ hình ô van treo trên tường. Cô nhả không khí vào gương và làm động tác gảy tàn thuốc. Sau đó cô đút điếu thuốc lại. Cô không bắt chước được cái vẻ thanh nhã của những người phụ nữ Kabul hút thuốc. Ở cô, trông điệu bộ đó thật thô thiển và buồn cười.
Cô kéo ngăn trên cùng của tủ quần áo với cảm giác tội lỗi.
Cô nhìn thấy khẩu súng trước tiên. Đó là một khẩu súng lục màu đen báng gỗ nòng ngắn. Mariam phải đảm bảo mình đã nhớ rõ tư thế, vị trí của nó trước khi cầm lên. Cô lật đi lật lại khẩu súng trên tay. Nó nặng hơn cô tưởng nhiều. Cô cảm thấy cái báng gỗ nhẵn thín trong tay còn nòng súng thì lạnh. Cô cảm thấy không an tâm khi Rasheed sở hữu một vật mà mục đích duy nhất là để giết người. Nhưng chắc chắn ông giữ nó vì sự an toàn của họ. Sự an toàn của cô.
Bên dưới khẩu súng là vài tờ tạp chí quăn mép. Mariam mở một cuốn ra. Có cái gì đó trong cô hẫng xuống. Miệng cô tự dưng há hốc.
Trên mỗi trang đều có hình phụ nữ, những phụ nữ xinh đẹp, không mặc áo, không mặc quần, không tất hay quần lót. Họ không mặc gì cả. Họ nằm trên giường, giữa đống chăn đệm nhàu nhĩ và nhìn chằm chặp vào Mariam với những cặp mắt hé mở. Trong hầu hết các bức ảnh, chân của họ đều giạng ra, và Mariam có thể nhìn thấy toàn bộ khoảng tối ở giữa chúng. Ở một vài bức, những người phụ nữ nằm phủ phục như là - xin Thượng đế tha tội cho ý nghĩ này - tư thế sujda* của người cầu nguyện. Họ ngoảnh nhìn về phía sau với vẻ buồn chán và khinh miệt.
Tư thế quỳ phủ phục.
Mariam vội đặt tờ tạp chí trở lại nơi cô tìm thấy nó. Cô cảm thấy mụ mị. Những người phụ nữ đó là ai? Tại sao họ lại có thể để cho người ta chụp ảnh mình kiểu đó? Trong lòng cô trỗi dậy sự buồn chán. Đó có phải là việc ông ta làm, những đêm mà ông không đến phòng của cô không? Có phải cô đã làm ông ta cảm thấy thất vọng trong chuyện này không? Và còn về tất cả những điều mà ông nói về phẩm giá và sự đứng đắn, về sự miệt thị những khách hàng phụ nữ mà nói cho cùng chỉ đưa chân ra để ông thử giày thì sao? Ông đã nói Khuôn mặt người phụ nữ là dành cho chồng của cô ta thôi. Chắc chắn những người phụ nữ trong các trang báo đã có chồng, một vài người ắt hẳn phải có. Hoặc ít ra họ cũng có anh em trai. Nếu thế, tại sao Rasheed cứ khăng khăng rằng cô phải che mặt trong khi ông không nghĩ gì cả khi nhìn những vùng riêng tư của vợ, chị em gái những người đàn ông khác.
Mariam ngồi trên giường, cảm thấy bối rối và hổ thẹn. Cô úp tay lên mặt và nhắm mắt lại. Cô cứ thở và thở cho đến khi thấy bình tâm hơn.
Rồi từ từ một lời giải thích cũng nảy ra. Rốt cuộc thì ông là đàn ông và đã sống một mình trong nhiều năm trước khi cô chuyển tới. Những nhu cầu của ông khác cô. Đối với cô, trong suốt bao nhiêu ngày tháng ấy, chuyện giường chiếu vẫn là một nỗi đau mà cô âm thầm chịu đựng. Đối với ông thì lại khác, ham muốn mãnh liệt, đôi khi gần như bạo lực. Cái cách ông dằn cô xuống, bàn tay bóp mạnh vào bầu ngực cô và cái hông hoạt động một cách dữ dội. Ông là một người đàn ông. Tất cả những năm đó ông đã sống mà không có người phụ nữ nào bên cạnh. Làm sao cô có thể trách ông vì đã sống theo cái cách mà Thượng đế đã tạo ra ông?
Mariam biết rằng cô sẽ không bao giờ có thể nói chuyện với ông về điều này. Không thể nhắc đến nó được. Nhưng liệu đây có phải là điều không thể tha thứ? Cô chỉ phải nghĩ về một người đàn ông khác trong cuộc đời mình. Jalil, một người chồng của ba bà vợ và người bố của chín đứa con nhưng vẫn có quan hệ ngoài giá thú với Nana. Điều gì là tồi tệ hơn, tờ tạp chí của Rasheed hay những gì Jalil đã làm? Và dù sao thì cô là gì mà phán xét chứ? Một kẻ quê mùa, một harami?
Mariam thử xem ngăn tủ dưới cùng.
Ở đó cô tìm thấy bức ảnh một bé trai, là Yunus. Đó là một tấm ảnh đen trắng. Cậu bé khoảng bốn tuổi, mà cũng có thể là năm. Nó mặc một chiếc áo kẻ sọc có đeo nơ bướm. Nó là một cậu bé xinh xắn với chiếc mũi thon thả, tóc nâu và đôi mắt đen hơi lấp lánh, đang lơ đãng nhìn đi đâu đó, như thể là nó vừa nhìn thấy một cái gì ngay khi đèn máy ảnh lóe sáng.
Ở dưới đó, Mariam thấy một cái ảnh khác, cũng là ảnh đen trắng, cái ảnh này thì hơi sần hơn một chút. Đó là ảnh một người phụ nữ đang ngồi, phía sau chị ta là một Rasheed gầy hơn và trẻ trung hơn với mái tóc đen. Người phụ nữ đó khá đẹp. Có lẽ không đẹp bằng những người phụ nữ trong cuốn tạp chí, nhưng chị ta đẹp. Và hiển nhiên xinh đẹp hơn nhiều so với cô, Mariam. Chị ta có chiếc cằm thanh tú, mái tóc đen dài rẽ ngôi ở giữa. Xương gò mà cao và vầng trán thanh mảnh, cao quý. Mariam tự hình dung ra khuôn mặt mình với đôi môi mỏng và cái cằm dài, cô cảm thấy thoáng chút ghen tị.
Cô nhìn bức ảnh này lâu hơn một chút. Cô cảm thấy một nỗi lo lắng mơ hồ về cái cách mà Rasheed dường như áp chế người đàn bà. Hai tay ông đặt lên vai chị ta. Ông cười mãn nguyện, môi căng ra, còn chị ta không cười, khuôn mặt ủ ê. Cái cách mà chị ta hơi nghiêng người về phía trước như thể đang muốn lẩn tránh hai bàn tay ông.
Mariam đặt mọi thứ vào vị trí cũ.
Sau đó, lúc giặt quần áo, cô thấy hối hận vì đã lén lục lọi phòng ông. Để làm gì chứ? Thực chất thì cô đã biết gì về ông? Rằng ông có một khẩu súng, rằng ông là một người đàn ông với những nhu cầu của đàn ông? Và cô lẽ ra đã không nên xem bức ảnh của ông và bà vợ cũ chừng nào còn có thể. Trước mắt cô hiện ra những hình ảnh ngẫu nhiên từ các tấm hình cô đã thấy.
Điều mà bây giờ Mariam cảm thấy, khi cái dây phơi đầy quần áo đang đung đưa một cách nặng nề trước mặt cô, là một sự thương cảm dành cho Rasheed. Ông cũng đã có một cuộc sống khó khăn, một cuộc sống đánh dấu bởi mất mát và những bước ngoặt định mệnh nghiệt ngã. Ý nghĩ của cô quay lại với cậu con trai Yunus của ông, hẳn đã từng đắp người tuyết trong cái sân này, bàn chân đã từng giẫm lên cũng những bậc thang này. Cái hồ đã cướp đi đứa con từ tay Rasheed, nuốt lấy nó, giống như con cá voi đã nuốt một tín đồ trùng tên với thằng bé trong kinh Koran. Mariam đau đớn, rất đau đớn, khi hình dung cảnh Rasheed đau khổ, hốt hoảng và tuyệt vọng đi trên bờ hồ và cầu xin hồ nước đưa con ông trở lại bờ đất khô ráo. Và lần đầu tiên cô cảm thấy đồng cảm với chồng mình. Cô tự nhủ rồi cuối cùng họ sẽ hình thành một mối quan hệ tốt đẹp.
13
Trên chuyến xe từ phòng khám trở về, điều kỳ lạ nhất đã xảy đến với Mariam. Nhìn vào đâu cô cũng thấy các màu sắc sặc sỡ: trên những căn hộ bê tông xám xịt buồn tẻ, những mái tôn, những cửa hàng đang mở cửa, cả dòng nước đục ngầu bùn đất đang chảy trong các rãnh. Như thể là đã có một cái cầu vồng tan vào trong mắt cô vậy.
Rasheed đang gõ nhịp bằng những ngón tay đeo găng của mình và ư ử một bài hát. Mỗi khi chiếc xe bus chạy qua ổ gà và nảy xóc lên thì bàn tay ông ta lại giơ ra đỡ lấy bụng cô như muốn che chở.
“Thế Zalmai thì thế nào?” ông ta nói. “Đó là một cái tên Pashtun hay.”
“Thế nếu nó là con gái thì sao?” Mariam hỏi lại.
“Tôi nghĩ nó là con trai. Đúng vậy, một đứa con trai.” Có tiếng rì rầm lan khắp xe bus. Một vài hành khách đang chỉ trỏ gì đó, những người khác nghiêng người qua các hàng ghế để nhìn.
“Nhìn xem,” Rasheed nói, gõ nhẹ đốt ngón tay lên kính xe. Ông ta mỉm cười. “Ở đó, em thấy không?”
Trên đường phố, Mariam nhìn thấy mọi người dừng lại. Ở cột đèn giao thông, những gương mặt thò ra từ cửa kính ô tô và ngửa mặt lên trời hướng về phía những bông tuyết mềm mại. Có gì đặc biệt ở những bông tuyết đầu mùa, Mariam tự hỏi, mà lại có sức mê hoặc đến thế? Có phải đó là cơ hội được chiêm ngưỡng một cái gì chưa vấy bẩn, chưa xỉn màu? Để được cảm nhận vẻ duyên dáng ngắn ngủi của một mùa mới trước khi nó bị chà đạp và trở nên ô uế?
“Nếu nó là con gái,” Rasheed nói, “chắc là không phải thế, nhưng, nếu nó là con gái, thì em có thể chọn bất kỳ cái tên nào mà em muốn.”
Sáng hôm sau, Mariam bị đánh thức bởi tiếng cưa và tiếng búa. Cô quấn một cái khăn choàng xung quanh người và bước ra khoảng sân tuyết thổi. Trận tuyết nặng hạt đêm qua đã dứt. Nay chỉ còn những bông tuyết lác đác rơi nhẹ, cuộn tròn trong không khí, mơn trớn hai má cô. Không khí tĩnh lặng và có mùi như mùi than đang cháy. Kabul yên tĩnh một cách kỳ lạ, bị bao phủ bởi một màu trắng, đây đó những làn khói cuộn lên.
Cô thấy Rasheed ở gian để dụng cụ, đang đóng đinh vào một tấm gỗ. Khi nhìn thấy cô, ông ta bỏ chiếc đinh đang ngậm ở một bên khóe miệng ra.
“Sẽ có một điều ngạc nhiên đây. Thằng bé sẽ cần một cái cũi. Tôi không muốn em nhìn thấy nó cho đến khi tôi làm xong.”
Mariam ước gì ông không làm như thế, cứ khăng khăng hy vọng rằng cô sẽ sinh cho ông một đứa con trai. Cũng vui sướng như cô khi mong chờ đứa trẻ ra đời, nhưng kỳ vọng của ông đè gánh nặng lên cô. Ngày hôm qua, Rasheed đi ra ngoài và khi trở về, ông ta mang theo một cái áo khoác da mùa đông cho bé trai, mặt trong áo lót một lớp da cừu mềm, ống tay áo thêu chỉ tơ đỏ và vàng rất đẹp.
Rasheed nhấc một tấm ván dài và hẹp lên. Khi bắt đầu cưa nó ra làm đôi, ông ta nói rằng các bậc cầu thang làm ông ta thấy lo lắng. “Chắc chắn sau này phải sửa lại nó, khi thằng bé đã đủ lớn để trèo cầu thang.” Cái bếp lò cũng làm ông ta lo lắng nữa, ông ta nói vậy. Dao và thìa dĩa phải được xếp gọn ghẽ ở đâu đó mà thằng bé không với tới. “Cẩn thận bao nhiêu cũng không đủ. Bọn con trai nghịch ngợm lắm.”
Mariam trùm tấm khăn quàng lên để tránh cái lạnh.
Buổi sáng ngày hôm sau, Rasheed nói ông ta muốn mời bạn bè tới ăn tối để chúc mừng. Suốt cả buổi sáng, Mariam rửa đậu lăng và ngâm gạo. Cô thái cà tím cho món borani, nấu tỏi tây và thịt bò xay cho món aushak. Cô lau sàn nhà, đập rèm cửa, mở cửa sổ cho thông thoáng căn nhà, bất chấp ngoài trời tuyết lại đang rơi. Cô sắp xếp lại các tấm đệm và thảm chùi chân dọc theo bức tường của phòng khách, đặt bát đựng kẹo và quả hạnh rang lên trên bàn.
Cô đang ngồi trong phòng mình khi vị khách đầu tiên tới nơi. Cô nằm trên giường trong khi những tiếng la ó và cười đùa ở dưới nhà bắt đầu rộ lên. Cô không thể ngừng sờ vào bụng mình. Cô nghĩ về sinh linh đang lớn lên trong đó và niềm hạnh phúc dâng trào như một cơn gió mạnh ùa qua cánh cửa mở rộng. Hai mắt cô đẫm nước.
Mariam nghĩ về chuyến xe dài sáu trăm năm mươi cây số cùng với Rasheed, từ Herat ở phía Tây, gần biên giới Iran, tới Kabul ở phía Đông. Họ đã vượt qua những thị trấn nhỏ, những thành phố lớn, những cụm làng nối tiếp nhau. Họ đã vượt qua những rặng núi, ngang qua những sa mạc cháy dở, từ tỉnh này qua tỉnh khác. Và bây giờ thì cô ở đây, trên những sườn đồi đá cuội khô nẻ, với gia đình của mình, người chồng của mình, đang hướng tới một đích đến đầy yêu thương: Làm mẹ. Thật khoan khoái làm sao khi nghĩ về đứa trẻ, đứa con của cô, đứa con của họ. Thật kỳ diệu biết bao khi biết rằng tình yêu của cô dành cho đứa trẻ đã khiến cho tất cả những cảm xúc khác của cô từ trước đến nay trở nên thật nhỏ bé, rằng từ nay cô sẽ không còn cần tới trò chơi với những viên cuội nữa.
Ở dưới nhà, ai đó đang chỉnh thanh một cái đàn đạp hơi. Sau đó là tiếng búa lanh canh chỉnh lại cái trống tabla. Một ai đó vừa hắng giọng. Và sau đấy có tiếng huýt sáo và vỗ tay, tiếng bắt nhịp và tiếng hát.
Mariam vuốt ve cái bụng mềm mại của mình. Không lớn hơn một cái móng tay, ông bác sĩ nói thế.
Mình sắp trở thành một bà mẹ, cô nghĩ.
“Mình sắp trở thành một bà mẹ,” cô nói. Rồi cô cười một mình và nhắc đi nhắc lại mãi câu đó, nhâm nhi vị ngọt ngào của từng chữ.
Khi Mariam nghĩ về đứa trẻ, trái tim cô như muốn vỡ ra vì xúc động. Nó cứ rộn ràng, rộn ràng cho đến khi tất cả những mất mát, tất cả những đau khổ, tất cả những cô đơn, những hèn kém trong cô được gột rửa sạch. Đây chính là lý do vì sao Thượng đế đã đưa cô đến đây, sau tất cả những chặng đường dài băng qua đất nước này. Bây giờ thì cô đã biết điều đó. Cô nhớ lại một đoạn thơ trong kinh Koran mà Giáo sĩ Faizullah đã dạy cô: Và Đức Allah là phương Đông và phương Tây, vì thế nơi nào con đi tới cũng là chủ ý của Người... Cô trải tấm thảm cầu nguyện và đọc một bài kinh namaz. Khi nguyện xong, cô úp hai tay lên mặt và xin Thượng đế không để tất cả những may mắn này tuột mất khỏi tay cô.
Chính Rasheed là người nảy ra ý tưởng đi hamam. Mariam chưa bao giờ đi tới nhà tắm hơi nhưng ông nói không có gì tuyệt vời hơn khi bước ra khỏi phòng tắm và hít thở không khí lành lạnh bên ngoài, để được cảm thấy hơi nóng bốc lên từ da thịt.
Trong nhà tắm hơi nữ, những thân hình di chuyển trong làn hơi nước bao bọc xung quanh Mariam, đây thấp thoáng một cái hông, kia là đường viền một bờ vai. Tiếng kêu ré của các cô gái, tiếng làu bàu của những bà già và tiếng nước chảy nhỏ giọt vang vọng giữa các bức tường khi có người đang kỳ cọ lưng và gội đầu. Mariam ngồi một mình ở góc xa, cọ gót chân bằng một viên đá bọt, tách biệt với những bóng hình qua lại kia bằng một bức tường hơi nước.
Sau đấy thì có máu và cô thét lên.
Bây giờ thì là tiếng bước chân, lép nhép trên sàn đá cuội ướt. Những khuôn mặt ngó cô chằm chặp từ sau làn hơi nước. Tiếng lưỡi chậc chậc.
Tối hôm đó, khi nằm trên giường, Fariba kể với chồng rằng khi nghe tiếng thét, bà chạy tới và nhìn thấy cô vợ của Rasheed co rúm ở một góc, hai tay ôm gối, dưới chân là một vũng máu lớn.
“Ông có thể nghe thấy tiếng răng cô ấy đánh vào nhau lập cập, Hakim ạ, cô ấy run rẩy rất dữ.”
Khi Mariam nhìn thấy bà, Fariba nói, cô hỏi với giọng thảng thốt, van nài, Không sao, phải không? Có phải không? Điều này là bình thường phải không?
Lại một chuyến xe bus nữa cùng với Rasheed. Lại có tuyết rơi. Lần này thì tuyết rơi dày. Tuyết rơi thành đống trên lối đi, trên mái nhà, tụ thành từng mảng trên các thân cây mọc lẻ tẻ. Mariam nhìn những người bán hàng đang cào tuyết ở phía trước các cửa hàng. Một lũ trẻ con đang lùa theo một con chó đen. Chúng vẫy tay hào hứng với chiếc xe bus. Mariam nhìn sang Rasheed. Hai mắt ông ta nhắm chặt. Ông ta không ừ hử gì. Mariam ngả đầu vào ghế và cũng nhắm mắt lại. Cô muốn thoát ra khỏi đôi tất lạnh cóng, thoát ra khỏi cái áo len ẩm ướt đang châm kim trên da cô, cô muốn thoát ra khỏi chuyến xe này.
Về đến nhà, Rasheed đắp chăn cho cô khi cô đang nằm trên giường, nhưng có gì đó cứng nhắc và chiếu lệ trong hành động ấy.
“Trả lời cái kiểu gì thế không biết?” ông ta đay lại. “Đấy là cách nói của giáo sĩ đấy chứ. Trả tiền cho ông bác sĩ thì phải có câu trả lời tốt hơn câu ‘Đó là ý của Thượng đế’ chứ.”
Mariam co hai đầu gối bên dưới chăn và nói ông ta nên đi nghỉ một chút.
“Ý của Thượng đế,” ông ta giận dữ.
Ông ta ngồi trong phòng mình hút thuốc cả ngày.
Mariam nằm trên giường, tay kẹp giữa hai đầu gối, nhìn những xoáy tuyết lượn vòng và xoay xoay bên ngoài cửa sổ. Cô nhớ mẹ Nana có lần đã nói rằng mỗi bông tuyết là một tiếng thở dài nặng nhọc của một người đàn bà phiền muộn đâu đó trên thế gian này. Rằng tất cả những tiếng thở dài đó bay lên tận trời cao, tụ thành mây rồi vỡ ra thành các đốm nhỏ li ti, lặng lẽ rơi xuống con người phía dưới.
Như một sự gợi nhắc rằng những người đàn bà như chúng ta đau khổ biết bao, bà nói. Chúng ta đã chịu đựng tất cả rơi xuống đầu mình một cách thật lặng lẽ.
14
Đau khổ vẫn chưa buông tha Mariam. Chỉ cần cô nghĩ đến chiếc cũi chưa làm xong trong gian để dụng cụ hay cái áo da ở trong buồng Rasheed là nó ùa đến. Đứa bé ra đời thì cô có thể nghe thấy nó ọ ẹ đòi ăn, tiếng nó huyên thuyên ríu rít. Cô cảm thấy nó đang khụt khịt trên hai bầu ngực. Nỗi đau xâm chiếm cô, vầy vò cô. Mariam chết lặng người khi nhận thấy mình nhớ thương với nỗi niềm tê dại đến chừng ấy về một sinh linh bé nhỏ mà cô chưa bao giờ nhìn thấy.
Về sau có những ngày mà nỗi buồn đau dường như đã bớt cào xé trong lòng Mariam. Những ngày mà một thoáng ý nghĩ về quãng đời xưa cũ dường như không còn làm cô quá kiệt sức, khi mà cô không phải cố gắng hết sức mới có thể ra khỏi giường, cầu nguyện, tắm rửa, nấu ăn cho Rasheed.
Mariam sợ đi ra ngoài. Cô đột nhiên trở nên ghen tị với những người đàn bà hàng xóm đông con. Có những người có bảy tám đứa con mà không hiểu được rằng họ đã may mắn đến chừng nào, rằng hạnh phúc biết bao khi những đứa trẻ lớn dần trong bụng họ, ngọ nguậy trên tay và bú sữa từ những bầu vú của họ. Những đứa trẻ mà họ đã không rửa trôi cùng với nước xà phòng và cáu ghét của người lạ xuống đường thoát nước của một cái nhà tắm hơi công cộng nào đó. Mariam bực bội với họ khi cô thoáng nghe họ phàn nàn với nhau về những đứa con trai bất trị và những đứa con gái lười biếng.
Một giọng nói trong đầu cô cố làm cô nguôi ngoai bằng lời an ủi thiện chí nhưng lầm lạc.
Con sẽ có những đứa khác, Inshallah*. Con còn trẻ. Chắc chắn con còn nhiều cơ hội khác.
Nếu đó là ý chí Thượng đế.
Nhưng nỗi đau buồn của Mariam không vu vơ hay chung chung. Mariam đau khổ vì đứa bé này, đứa bé cụ thể này, đứa bé đã làm cho cô rất hạnh phúc.
Có những ngày cô tin rằng đứa bé đã không được ban phước, rằng cô đang bị trừng phạt vì những gì đã làm với mẹ Nana. Chẳng phải cũng gần như là cô đã quàng sợi dây thòng lọng vào cổ mẹ mình sao? Những đứa con gái bội bạc không xứng được làm mẹ, và đó đơn giản là sự trừng phạt. Cô chập chờn mơ thấy jinn của mẹ Nana lẻn vào phòng cô trong đêm, bập những móng vuốt của nó vào bụng cô và lôi đứa trẻ đi. Trong những giấc mơ đó, mẹ Nana cười khúc khích đầy vui sướng và thỏa mãn.
Những ngày khác, Mariam bị bao bọc bởi sự giận dữ. Chính Rasheed là người có lỗi vì đã ăn mừng quá sớm. Vì đã tin tưởng điên rồ rằng cô đang có mang con trai. Đã đặt tên cho nó như thế. Lấy ý của Thượng đế để mà đặt tên. Lỗi của ông ta vì đã đưa cô tới nhà tắm hơi. Có thứ gì đấy ở đó, có thể là hơi nước, là nước bẩn, là xà phòng, một thứ gì đấy ở đó đã làm chuyện này xảy ra. Không. Không phải Rasheed. Cô mới là người có tội. Cô trở nên tức giận chính bản thân vì đã ngủ không đúng tư thế, ăn đồ ăn quá cay, không ăn đầy đủ hoa quả và uống quá nhiều nước chè.
Chính Thượng đế có lỗi, vì đã nhạo báng cuộc đời cô như thế. Vì đã không cho cô cái mà Người đã ban tặng cho biết bao nhiêu phụ nữ khác. Vì đã đung đưa trêu ngươi trước mắt cô cái mà Người biết rằng sẽ mang lại cho cô niềm hạnh phúc lớn lao nhất, rồi lại giật nó đi xa.
Nhưng tất cả những sai lầm đó, tất cả những lời kêu gào buộc tội đang nhảy múa trong đầu cô đó, chúng không đem lại ích lợi gì. Thật là kojr, thật là báng bổ, khi có những ý nghĩ ấy. Đức Allah không có ác ý. Người không phải là một Thượng đế nhỏ mọn. Những lời của Giáo sĩ Faizullah thì thầm trong đầu cô: Thiêng liêng thay Người với bàn tay là cả vương quốc, và Người có quyền lực đối với mọi thứ, Người tạo ra sự sống và cái chết mà Người có thể mang đến cho mỗi chúng ta.
Cảm thấy đầy tội lỗi, Mariam quỳ xuống và cầu xin được tha thứ cho những ý nghĩ đó.
Trong khi đó, một sự thay đổi đã trùm lên Rasheed kể từ cái ngày ở nhà tắm ấy. Hầu như tối nào về nhà, ông ta cũng im như thóc. Ông ta ăn, hút thuốc, đi ngủ, thỉnh thoảng quay lại vào giữa đêm, làm một trận mây mưa chớp nhoáng và khá thô bạo. Thời gian này, ông ta dường như dễ trở nên bực bội hơn, ông ta chê đồ cô nấu, phàn nàn về sự bừa bộn quanh sân hoặc thậm chí chỉ ra những vết bẩn rất nhỏ ở trong nhà. Thi thoảng ông ta dẫn cô vòng quanh thành phố vào ngày thứ Sáu, như vẫn từng làm trước đây, nhưng thường ông ta đi rất nhanh trên vỉa hè và luôn luôn ở phía trước cô vài bước chân, không nói năng gì, không để ý gì đến Mariam đang gần như phải chạy để theo kịp. Ông ta không còn cười trong mỗi lần đi ra ngoài nữa. Ông ta không mua kẹo hay quà tặng, không dừng lại và chỉ tên các địa điểm cho cô như trước đây ông ta vẫn từng làm. Những câu hỏi của cô dường như làm ông ta khó chịu.
Một tối, họ ngồi trong phòng khách nghe đài. Mùa đông đang qua đi. Những cơn gió mạnh như trát tuyết lên mặt người và làm chảy nước mắt nay đã dịu lại. Những nạm tuyết óng ánh bạc đang tan chảy trên cành những cây du cao vút và chỉ vài tuần nữa sẽ bị thay thế bởi những chồi non mập mạp màu xanh nhạt. Rasheed lơ đãng giậm chân theo điệu trong của một bài ca Hamahang, mắt ông ta đưa theo làn khói thuốc.
“Anh giận em phải không?” Mariam hỏi.
Rasheed không nói gì. Bài hát đã kết thúc và tiếp theo là mục tin tức. Một giọng phụ nữ thông báo rằng tổng thống Daoud Khan đã trục xuất một nhóm chuyên gia Liên Xô nữa trở về Moskva, trước thái độ không hài lòng có thể thấy trước của Kremlin.
“Em sợ anh giận em.”
Rasheed thở dài.
“Anh có giận không?”
Ông ta đưa mắt nhìn cô. “Tại sao tôi lại giận chứ?”
“Em không biết, nhưng kể từ khi đứa bé...”
“Em xem tôi là loại người như thế à? Sau tất cả những gì tôi làm cho em?”
“Không. Tất nhiên là không rồi.”
“Thế thì đừng quấy rầy tôi nữa!”
“Em xin lỗi. Bebakhsh, Rasheed. Em xin lỗi.”
Ông ta bóp nát điếu thuốc rồi châm một điếu khác. Ông ta vặn tiếng đài to lên.
“Em nghĩ là,” Mariam nói, cố cao giọng để át tiếng nhạc.
Rasheed lại thở dài, lần này tỏ vẻ cáu kỉnh hơn, vặn nhỏ đài đi. Ông ta vò trán một cách mệt mỏi. “Gì nữa đây?”
“Em đang nghĩ là có lẽ chúng ta nên chôn cất tử tế. Ý em là đứa bé ấy. Chỉ anh với em, một vài bài kinh cầu, chỉ thế thôi.”
Mariam đã nghĩ về điều này lâu nay. Cô không muốn quên đi đứa bé này. Có vẻ như không đúng đắn nếu không ghi dấu sự mất mát này bằng một cách gì đó vĩnh cửu.
“Để làm gì chứ? Thật ngu ngốc.”
“Như vậy sẽ làm cho em cảm thấy dễ chịu hơn, em nghĩ thế.”
“Thế thì cô đi mà làm,” ông ta trả lời tức thì. “Tôi đã từng chôn một đứa con trai. Tôi sẽ không chôn thêm đứa nữa. Bây giờ, nếu cô không phiền, tôi đang muốn nghe đài.”
Ông ta lại vặn tiếng to lên, ngả đầu ra sau và nhắm mắt lại.
Một buổi sáng rạng nắng trong tuần đó, Mariam chọn một chỗ trong khoảng sân và đào một cái hố.
“Nhân danh Đức Allah và cùng với Đức Allah, và nhân danh người mang tin của Đức Allah, người mang đến phước lành và sự bình yên từ Đức Allah,” cô vừa thầm thì vừa dùng xẻng đào từng miếng đất nhỏ. Cô đặt chiếc áo da mà Rasheed mua cho đứa bé vào trong hố rồi lấp đất lên trên.
“Người tạo ra ngày nối tiếp đêm và đêm nối tiếp ngày, Người tạo ra sự sống từ cái chết và Người tạo ra cái chết từ sự sống, và Người ban phát cho những kẻ Người yêu thương vô bờ.”
Cô vỗ nấm đất bằng mặt sau của chiếc xẻng. Rồi cô ngồi xổm bên cạnh, hai mắt nhắm lại.
Xin hãy ban phát, Đức Allah.
Xin hãy ban phát cho con.
15
THÁNG TƯ, 1978
Vào ngày 17 tháng Tư năm 1978, năm Mariam mười chín tuổi, một người đàn ông tên Mir Akbar Khyber đã bị giết. Hai ngày sau, một cuộc biểu tình lớn nổ ra ở Kabul. Tất cả mọi người trong khu đều đổ ra ngoài đường bàn tán về nó. Qua cửa sổ, Mariam nhìn thấy hàng xóm tụ tập thành từng đám, đang bàn tán rất sôi nổi, áp sát tai vào những chiếc đài bán dẫn. Cô nhìn thấy Fariba đang dựa vào tường, nói chuyện với một người đàn bà vừa mới tới Deh-Mazang. Fariba đang cười, hai bàn tay bà đặt trên cái bụng chửa phình to của mình. Người đàn bà kia Mariam không nhớ tên, trông lớn tuổi hơn Fariba và có mái tóc nhuộm màu tía lạ mắt. Bà ta nắm tay một đứa trẻ con. Mariam biết cậu bé tên là Tariq vì cô nghe thấy người đàn bà gọi cậu bằng cái tên đó.
Mariam và Rasheed không nhập bọn với những người hàng xóm. Họ nghe tin tức trên đài trong khi có khoảng vài chục nghìn người đã đổ ra các đường phố và diễu hành xuôi ngược ở khu trung tâm của Kabul. Rasheed nói rằng Mir Akbar Khyber là một người cộng sản lỗi lạc và những người ủng hộ ông ta cáo buộc chính phủ của Tổng thống Daoud Khan tội giết người. Rasheed không nhìn cô khi ông ta nói điều đó. Dạo này, ông ta không còn nhìn cô khi nói nữa, và Mariam không chắc là có phải ông đang nói với mình hay không.
“Người cộng sản là người như thế nào?” cô hỏi.
Rasheed khịt mũi và nhướng đôi lông mày. “Cô không biết cộng sản là gì à. Một thứ đơn giản như thế. Tất cả mọi người đều biết. Đấy là một kiến thức sơ đẳng. Cô không... Chà. Tôi không hiểu sao mình lại ngạc nhiên.” Rồi ông ta bắt chéo chân trên bàn và lầm bầm trong miệng rằng đó là những người theo Chủ nghĩa Marx.
“Chủ nghĩa Marx là ai?”
Rasheed thở dài.
Trên đài, một giọng nữ đang nói rằng Taraki, thủ lĩnh nhóm Khalq của PDPA, Đảng Cộng sản Afghanistan, hiện ở trên đường phố đọc diễn văn kích động những người biểu tình.
“Ý em là, họ muốn gì?” Mariam hỏi. “Những người cộng sản ấy, họ tin vào điều gì?”
Rasheed cười như nắc nẻ và lắc đầu, nhưng Mariam nghĩ rằng cô nhìn thấy sự khác thường trong cái cách ông ta khoanh tay, cái cách ông ta đưa mắt nhìn. “Cô không biết gì cả, phải không? Cô giống như một đứa trẻ. Đầu óc cô rỗng tuếch. Không có gì trong đó cả.”
“Em hỏi bởi vì...”
“Chupko. Im đi.”
Mariam im lặng.
Thật khó lòng chấp nhận cách ông ta nói với cô như thế, khó mà chịu đựng nổi sự miệt thị, sự nhạo báng, sự xúc phạm của ông ta, cái cách ông ta đi ngang cô như thể cô chẳng hơn gì một con mèo trong nhà. Nhưng sau bốn năm vợ chồng, Mariam đã thấy rất rõ đàn bà có khả năng chịu đựng đến mức nào khi họ sợ hãi. Và Mariam đang sợ hãi. Cô sống trong sợ hãi bởi cái tính khí hay thay đổi, sự nóng giận bất thường, cái cách ông ta nhất quyết biến các tranh cãi nhỏ nhặt nhất thành những cuộc xung đột mà ông ta có thể sẽ giải quyết bằng những cái tát, bằng đấm đá, và đôi khi ông ta cố gắng cải thiện tình hình bằng những lời xin lỗi gượng gạo, đôi khi thì không.
Trong bốn năm kể từ sau cái ngày ở nhà tắm hơi, đã có sáu lần hy vọng được nhen nhóm lên rồi lại tàn lụi, mỗi một lần mất mát, mỗi một lần sụp đổ, mỗi một lần đi đến bác sĩ đều làm tan nát Mariam hơn lần trước đó. Với mỗi một lần thất vọng, Rasheed càng trở nên xa cách và phẫn uất hơn. Giờ đây, cô chẳng thể làm gì khiến ông ta hài lòng. Cô lau dọn nhà cửa, luôn chú ý để quần áo ông ta mặc lúc nào cũng được giặt sạch sẽ và nấu những món mà ông ta thích. Có một lần, thật thảm hại, cô thậm chí còn mang đồ trang điểm ra hy vọng chồng mình sẽ hài lòng. Nhưng khi Rasheed về đến nhà, ông ta nhìn cô một cái rồi nhăn mặt khó chịu đến nỗi cô chạy thẳng vào nhà tắm mà gột rửa sạch sẽ, nước mắt của sự tủi nhục hòa lẫn với nước xà phòng, son phấn và mascara.
Bây giờ thì Mariam sợ hãi tiếng ông ta trở về nhà vào mỗi buổi tối. Tiếng chìa khóa lạch cạch, tiếng kẹt cửa - những âm thanh ấy làm tim cô đập loạn nhịp. Từ giường mình, cô nghe tiếng gót giày ông ta lạch cạch, tiếng ông ta xoa chân vào nhau sau khi tháo giày. Cô dùng tai hình dung những việc ông ta đang làm: tiếng chân cái ghế tựa kéo lê trên sàn, tiếng cọt kẹt ai oán của nó khi ông ta ngồi lên, tiếng leng keng của cái thìa va vào đĩa, tiếng sột soạt giở báo, tiếng húp nước xì xụp. Và trong khi tim cô đập thình thịch, đầu óc cô lại lo lắng không hiểu tối hôm đó ông ta sẽ dùng lý do gì để buộc tội cô. Luôn luôn có điều gì đó, một điều rất nhỏ nhặt nào đó làm ông ta điên lên, bởi vì bất kể cô đã làm gì để vừa lòng ông ta, bất kể cô đã chiều chuộng những nhu cầu, mong muốn của ông ta kỹ lưỡng như thế nào, tất cả đều không đủ. Cô không thể lấy lại cho ông ta đứa con trai. Trong chuyện quan trọng nhất này, cô đã làm ông ta thất vọng bảy lần, cô đã thất bại - và bây giờ cô chẳng là gì, chỉ là gánh nặng đối với ông ta. Cô có thể nhìn thấy điều đó trong cái cách ông ta nhìn cô, khi ông ta nhìn cô. Cô là gánh nặng đối với ông ta.
“Chuyện gì sẽ xảy ra?” lúc này cô hỏi ông ta.
Rasheed liếc xéo cô. Ông ta vừa như thở dài vừa như làu bàu, hạ hai chân xuống khỏi bàn và tắt đài. Ông ta mang nó lên phòng mình. Ông ta đóng cửa lại.
Vào ngày 27 tháng Tư, câu hỏi của Mariam đã được trả lời bằng những âm thanh lốp bốp và những tiếng gầm mãnh liệt, đột ngột. Cô chạy chân trần xuống phòng khách và thấy Rasheed đã đứng đó bên cửa sổ trong chiếc áo lót, mái tóc rối bù, hai bàn tay áp vào cửa kính. Mariam đến bên cửa sổ cạnh ông ta. Ở trên cao, cô có thể nhìn thấy những chiếc máy bay quân sự bay vọt qua, hướng lên phía Bắc và phía Đông. Tiếng rít chói tai của chúng làm cô đau tai. Xa xa, những tiếng nổ lớn vang dội và những cột khói bất thần vươn lên trời cao.
“Chuyện gì vậy, Rasheed?” cô hỏi. “Tất cả những điều này là gì?”
“Có trời mà biết,” ông ta lẩm bẩm. Ông ta thử dò sóng đài nhưng chỉ có tín hiệu nhiễu loạn.
“Chúng ta làm gì đây?”
Rasheed trả lời một cách nóng nảy, “Chúng ta đợi.”
Ngày hôm đó, Rasheed vẫn cố gắng bắt sóng đài phát thanh trong khi Mariam thì nấu cơm và canh rau bi na ở trong bếp. Mariam nhớ có thời gian cô đã thích thú, thậm chí là mong chờ được nấu ăn cho Rasheed. Bây giờ thì nấu ăn là một sự hành xác trong nỗi lo lắng cao độ. Món qurma thì luôn luôn quá mặn hoặc quá nhạt đối với khẩu vị của ông ta. Cơm thì hoặc quá khô hoặc quá nhão, bánh mì thì quá dai hoặc quá giòn. Những sự bắt bẻ của Rasheed làm cô phát ốm trong nhà bếp, làm cô ngờ vực chính bản thân mình.
Khi cô mang đĩa thức ăn đến cho ông ta, quốc ca đang cử trên đài.
“Em làm món sabzi,” cô nói.
“Để xuống đấy rồi im lặng đi.”
Sau khi nhạc tắt, một giọng đàn ông nói trên đài. Ông ta tuyên bố mình là Tướng Abdul Qader của lực lượng Không quân. Ông thông báo buổi sớm ngày hôm nay Sư đoàn xe bọc thép số Bốn của quân đảo chính đã chiếm sân bay và các vị trí trọng yếu trong thành phố. Đài phát thanh Kabul, các tòa nhà trụ sở của Bộ Truyền thông và Nội vụ, Bộ Ngoại giao cũng đã bị chiếm giữ. Kabul bây giờ đang ở trong tay của nhân dân, ông tự hào nói. Những phi cơ MIG của lực lượng nổi dậy đã tấn công Dinh Tổng thống. Xe tăng đã phá rào vào trong và một trận chiến khốc liệt đang diễn ra ở đó. Những lực lượng trung thành với Daoud chỉ là kẻ bại trận, Abdul Qader nói bằng giọng chắc chắn.
Những ngày sau đó, khi lực lượng cộng sản bắt đầu cuộc tổng hành quyết những người dính líu tới chế độ của Daoud Khan, khi khắp Kabul lan truyền tin đồn về việc móc mắt và giết người bằng cách nối điện vào bộ phận sinh dục ở nhà tù Pol-e-Charkhi, Mariam nghe tin về vụ thảm sát trong Phủ Tổng thống. Daoud Khan đã bị giết, nhưng chỉ sau khi những người cộng sản giết khoảng hai mươi người trong gia đình ông ta, kể cả phụ nữ và trẻ con. Cũng có tin đồn rằng ông đã tự kết liễu cuộc đời mình, rằng ông đã bị bắn hạ trong một trận chiến quyết liệt; tin khác thì nói rằng ông đã được cứu sống để rồi bắt buộc phải chứng kiến cảnh thảm sát gia đình mình, trước khi bị bắn chết.
Rasheed vặn tiếng to lên và nghiêng người lại gần hơn.
“Một hội đồng cách mạng của các lực lượng vũ trang đã được thiết lập, và watan* của chúng ta từ nay sẽ là Cộng hòa Dân chủ Afghanistan,” Abdul Qader nói. “Kỷ nguyên của bọn quý tộc và vây cánh, của bất bình đẳng đã qua đi, hỡi hamwatan*. Chúng ta đã chấm dứt hàng bao thập kỷ của chế độ độc tài. Quyền lực bây giờ ở trong tay quần chúng và những người yêu tự do. Một kỷ nguyên mới rục rỡ trong lịch sử đất nước ta đã mở ra. Một đất nước Afghanistan mới đã ra đời. Chúng tôi đảm bảo rằng các bạn sẽ không phải sợ bất cứ điều gì, hỡi những người dân Afghanistan. Chế độ mới sẽ đảm bảo sự tôn trọng tối cao cho các nguyên tắc của cả đạo Hồi và của nền dân chủ. Đây là thời gian để vui sướng và ăn mừng.”
Quê hương.
Đồng bào.
Rasheed tắt đài.
“Như thế thì là tốt hay xấu?” Mariam hỏi.
“Xấu cho bọn giàu, nghe có vẻ thế,” Rasheed nói. “Có thể đối với chúng ta thì không đến nỗi quá tồi tệ.”
Mariam chợt nghĩ về Jalil. Cô tự hỏi liệu những người cộng sản có tìm kiếm ông không? Liệu họ có bỏ tù ông không? Bỏ tù những đứa con trai của ông? Lấy đi công ăn việc làm và tài sản của ông?
“Còn nóng không?” Rasheed hỏi, mắt nhìn vào đĩa cơm.
“Em vừa mới xới ra khỏi nồi.”
Ông ta làu bàu rồi bảo cô đưa cho ông ta cái đĩa.
Dưới phố, khi màn đêm đột nhiên rực sáng bởi những ánh đèn chớp đỏ và vàng, Fariba mệt lử chống người lên hai khuỷu tay. Mái tóc bà bết lại vì mồ hôi, mồ hôi đọng thành giọt ở vành môi trên. Bên cạnh giường, bà đỡ già Wajma đứng nhìn chồng và hai cậu con trai của Fariba đi vòng xung quanh đứa trẻ sơ sinh. Họ trầm trồ trước mái tóc sáng màu của đứa trẻ, đôi má phớt hồng nhăn nheo, đôi môi như nụ hồng và đôi mắt như hai rãnh nhỏ xíu màu xanh ngọc chuyển động dưới mí mắt húp híp. Họ mỉm cười với nhau khi nghe đứa bé gái phát ra những âm thanh đầu tiên, một tiếng khóc mới đầu nghe như tiếng meo meo của một con mèo sau bung ra thành một tiếng ngoao to, khỏe mạnh. Noor bảo mắt em bé giống như những viên đá quý. Ahmad, vốn sùng tín nhất trong gia đình, hát một bài kinh azan vào tai cô em nhỏ bé và thổi vào mặt em ba lần.
“Đặt tên con là Laila nhé?” Hakim hỏi, tung nựng đứa nhỏ trong tay.
“Đặt tên là Laila,” Fariba nói và mỉm cười mệt mỏi. “Vẻ đẹp của đêm. Tên đó thật tuyệt.”
Rasheed lấy ngón tay vê cơm thành cục tròn. Ông ta bỏ vào miệng nhai một miếng, rồi miếng thứ hai, sau đó nhăn mặt ghê tởm và nhổ cơm ra cái thảm ăn sofrah.
“Sao thế anh?” Mariam hỏi, căm ghét cái vẻ có lỗi trong giọng mình. Cô có thể cảm thấy các mạch máu đập nhanh hơn, da cô co rúm lại.
“Sao thế?” ông ta eo éo, bắt chước cô. “Sao với giăng là cô lại vẫn nấu như thế.”
“Nhưng em đã nấu lâu hơn bình thường năm phút mà.”
“Nói dối không biết ngượng mồm.”
“Em thề...”
Ông ta giận dữ vẩy cơm dính trên ngón tay và hất cái đĩa ra xa, làm đổ canh và cơm trên tấm sofrah. Mariam nhìn ông ta lao ra khỏi phòng khách, sau đó lao ra khỏi nhà, đóng sầm các cánh cửa sau lưng.
Mariam quỳ xuống đất, cố gắng gom cơm bỏ lại vào trong đĩa, nhung đôi tay cô run rẩy quá đỗi nên cô phải đợi một lúc cho chúng dừng lại. Sự khiếp sợ đè nặng trên ngực cô. Cô cố hít thở thật sâu. Cô nhìn thấy vẻ xanh xao của mình phản chiếu trên ô cửa sổ đang tối lại của phòng khách và quay đi chỗ khác.
Rồi cô nghe tiếng cửa trước mở ra và Rasheed quay trở lại phòng khách.
“Đứng dậy,” ông ta nói. “Lại đây. Đứng dậy.”
Ông ta giằng lay bàn tay cô, mở nó ra và thả vào đấy một nắm sỏi.
“Bỏ hết vào mồm!”
“Gì cơ?”
“Bỏ. Hết. Vào mồm.”
“Đừng làm thế, Rasheed, em...”
Hai bàn tay bạo liệt của ông ta siết chặt hàm cô. Ông ta thô bạo chọc hai ngón tay vào miệng cô và cậy cho nó mở ra, sau đó nhét những viên sỏi cứng, lạnh ngắt vào trong. Mariam vùng vẫy phản kháng, bụm miệng lại, nhưng ông ta vẫn ấn những viên sỏi vào, cái môi trên của ông ta cong lên khinh bỉ.
“Bây giờ thì nhai đi,” ông ta nói.
Từ trong cái miệng đã đầy đá vụn và sỏi, Mariam lầm bầm một tiếng van xin. Nước mắt trào ra từ hai khóe mắt cô.
“NHAI!” ông ta gầm lên. Luồng hơi thở ám mùi khói của ông ta đập vào mặt cô.
Mariam nhai. Có gì đó trong hàm cô vỡ ra.
“Tốt,” Rasheed nói. Hai má ông ta giật giật. “Bây giờ thì cô biết cơm cô nấu ăn như thế nào rồi đấy. Bây giờ thì cô đã biết cô mang lại cho tôi cái gì trong cuộc hôn nhân này rồi đấy. Thức ăn dở và không gì khác.”
Sau đó ông ta đi, để Mariam lại đó, nhổ ra khỏi miệng đá cuội, máu, và những mảnh vỡ của hai chiếc răng hàm.
Chương trước
Mục lục
Chương sau
Ngàn Mặt Trời Rực Rỡ
Khailed Hosseini
Ngàn Mặt Trời Rực Rỡ - Khailed Hosseini
https://isach.info/story.php?story=ngan_mat_troi_ruc_ro__khailed_hosseini