Never lend books, for no one ever returns them; the only books I have in my library are books that other folks have lent me.

Anatole France

 
 
 
 
 
Tác giả: Michael Ondaatje
Thể loại: Tiểu Thuyết
Nguyên tác: The English Patient
Biên tập: Yen Nguyen
Upload bìa: Yen Nguyen
Số chương: 10
Phí download: 2 gạo
Nhóm đọc/download: 0 / 1
Số lần đọc/download: 0 / 16
Cập nhật: 2023-06-17 16:09:57 +0700
Link download: epubePub   PDF A4A4   PDF A5A5   PDF A6A6   - xem thông tin ebook
 
 
 
 
Nam Cairo 1930-1938
au Herodotus, trong nhiều thế kỷ giới Tây phương không chú ý đến vùng sa mạc. Từ năm 425 trước Công nguyên cho đến đầu thế kỷ XX chỉ có những đôi mắt lảng tránh. Sự thinh lặng. Thế kỷ XIX là thời đại của những người tìm kiếm sông ngòi. Rồi trong thập niên 1920, có một tái bút lịch sử thú vị về vùng đất này của trái đất, viết bằng những cuộc thám hiểm phần lớn do tư nhân tài trợ, theo sau là những bài thuyết trình khiêm tốn tại Hội Địa lý London ở Kensington Gore. Diễn giả của những bài thuyết trình này là những người đàn ông kiệt sức, da cháy nắng. Như những thủy thủ của Conrad[67], họ không tự nhiên lắm với cách đi taxi, hoặc sự dí dỏm nhanh nhạy và nhạt nhẽo của những người soát vé trên xe bus.
Khi họ đi bằng xe lửa địa phương từ khu ngoại ô về hướng Knightsbridge trên đường đến những buổi họp của Hội, họ thường đi lạc, mất vé xe, chỉ bám vào những tấm bản đồ cũ kỹ của mình và mang những ghi chép cho bài thuyết trình - những ghi chép họ đã viết chậm chạp và khó khăn - trong túi ba lô lúc nào cũng có mặt và sẽ mãi mãi là một phần thân thể họ. Những người này đến từ những quốc gia khác nhau, ra đi lúc chạng vạng tối, khoảng sáu giờ, trong ánh sáng của ngọn đèn đường đơn độc. Đấy là thời gian vô danh, hầu hết thành phố đang đi về nhà. Những nhà thám hiểm đến Kensington Gore quá sớm, ăn ở tiệm Căn Nhà Góc Đường Lyons rồi vào Hội Địa lý, ngồi trong hành lang trên lầu bên cạnh cái xuồng Maori lớn, xem lại những ghi chép của mình. Lúc tám giờ, bài thuyết trình bắt đầu.
Cách mỗi tuần lại có một bài thuyết trình. Một người sẽ giới thiệu bài thuyết trình và một người ngỏ lời cảm ơn. Diễn giả cuối cùng thường tranh luận hoặc thử thách giá trị của bài nói chuyện, phê bình đúng chỗ nhưng không bao giờ xấc xược. Mọi người tin rằng những diễn giả chính đi sát sự kiện, và ngay cả những giả định thái quá cũng được trình bày một cách khiêm tốn.
Cuộc hành trình của tôi xuyên qua sa mạc Libya, từ Sokum bên bờ biển Địa Trung Hải đến El Obeid ở Sudan được thực hiện trên một trong vài lối đi trên bề mặt trái đất có một số vấn đề địa lý thú vị…
Những năm chuẩn bị và nghiên cứu và gây quỹ không bao giờ được nhắc đến trong các căn phòng gỗ sồi này. Diễn giả của tuần trước ghi lại cái chết của ba mươi người trong lớp băng Nam Cực. Những cái chết tương tự trong hơi nóng cực độ hoặc gió bão được thông báo với lời ca tụng tối thiểu. Tất cả hành vi con người và tài chính nằm ở phía bên kia của vấn đề đang được bàn thảo - bề mặt trái đất và “những vấn đề địa lý thú vị” của nó.
Liệu những vết trũng khác trong khu vực này, ngoài wadi Rayan đã được bàn đến nhiều, có thể được dùng trong việc thủy lợi của lưu vực sông Nile không? Phải chăng các nguồn nước giếng phun của những ốc đảo đang cạn dần? Chúng ta sẽ tìm “Zerzura” bí mật ở đâu? Có còn những ốc đảo “bị mất” nào khác để khám phá không? Những đầm lầy rùa của Ptolemy ở đâu?
John Bell, Giám đốc của Viện Khảo sát Sa mạc ở Ai Cập, đã hỏi những câu này vào năm 1927. Đến thập niên 1930, những bài viết trở nên khiêm tốn hơn nữa. “Tôi muốn thêm vào một vài nhận xét về những điểm nêu lên trong cuộc bàn thảo lý thú về ‘Địa lý Tiền sử của ốc đảo Kharga’.” Đến giữa thập niên 1930, Ladislaus de Almásy và đoàn thám hiểm của ông tìm ra ốc đảo đã mất Zerzura.
Năm 1939, thập niên huy hoàng của những cuộc thám hiểm sa mạc Libya kết thúc, và vùng đất mênh mông, lặng lẽ này trở thành một trong những bãi chiến trường.
Trong phòng ngủ cây lá, người bệnh nhân bị bỏng nhìn mãi tận xa vời. Như người hiệp sĩ đã chết ở Ravenna, với thân hình bằng cẩm thạch dường như sống động, gần như uyển chuyển, gối đầu trên một chiếc gối đá để ông có thể nhìn khung cảnh xa hơn hai chân mình. Xa hơn cơn mưa khao khát của châu Phi. Đến cuộc sống của họ ở Cairo. Công việc và đời sống của họ.
Hana ngồi bên giường ông, và nàng du hành như một người hầu bên cạnh ông trong những chuyến đi này.
Năm 1930, chúng tôi bắt đầu vẽ bản đồ phần lớn cao nguyên Gilf Kebir, tìm ốc đảo đã mất tên là Zerzura. Thành phố Cây Keo.
Chúng tôi là những người châu Âu sa mạc. John Bell nhìn thấy Gilf vào năm 1917. Rồi Kemal el Din. Rồi Bagnold, người tìm ra lối đi về hướng nam vào Biển Cát. Madox, Walpole của Viện Khảo sát Sa mạc, ngài Wasfi Bey, nhiếp ảnh gia Casparius, Tiến sĩ Kadar nhà địa chất học và Bermann. Gilf Kebir - cao nguyên rộng lớn nằm trong sa mạc Libya, cùng cỡ với Thụy Sĩ như Madox thích nói - là trái tim của chúng tôi, hai phía đông tây là những vách thẳng đứng, thoai thoải về phía bắc. Nó nhô lên trên sa mạc ở bốn trăm dặm về phía tây của sông Nile.
Những nhà Ai Cập học đầu tiên cho rằng phía tây của những thị trấn ốc đảo không có nước. Thế giới chấm dứt ngoài ấy. Bên trong sa mạc không có nước. Nhưng trong khoảng trống vắng của sa mạc, vây quanh bạn vẫn là lịch sử đã bị quên lãng. Bộ lạc Tebu và Senussi đã lang thang ở đấy, sở hữu những cái giếng họ giữ vô cùng bí mật. Người ta đồn đãi về những vùng đất phì nhiêu nép mình trong sa mạc. Những người viết Ả Rập trong thế kỷ XIII nói đến Zerzura. “Ốc đảo của những con Chim Nhỏ.” “Thành phố Cây Keo.” Trong Cuốn sách về những kho tàng ẩn giấu, Kitab al Kanuz, Zerzura được mô tả là một thành phố màu trắng, “trắng như chim câu”.
Nhìn vào một bản đồ sa mạc Libya, người ta sẽ thấy những cái tên. Năm 1925, Kemal el Din gần như đơn độc hoàn thành cuộc thám hiểm quan trọng đầu tiên trong thời hiện đại. Bagnold vào những năm 1930-1932. Almásy-Madox vào những năm 1931-1937. Chỉ trong khu vực phía bắc của Hạ Chí Tuyến[68].
Chúng tôi là một tập hợp quốc gia nho nhỏ giữa những cuộc chiến, vẽ bản đồ và thám hiểm lại. Chúng tôi tập hợp ở Dakhla và Kufra như thể đấy là quán rượu hay tiệm cà phê. Một xã hội ốc đảo, như Bagnold gọi. Chúng tôi biết những chuyện riêng tư của nhau, tài năng và nhược điểm của nhau. Chúng tôi tha thứ cho Bagnold tất cả mọi điều vì cách ông viết về những đụn cát. “Những rãnh gợn và mặt cát uốn lượn giống như vòm miệng của một con chó.” Đấy mới thực sự là Bagnold, một người sẵn sàng thò bàn tay tìm hiểu của mình vào trong hàm của một con chó.
Năm 1930. Chuyến đi đầu tiên của chúng tôi từ Jaghbub về hướng nam vào sa mạc trong khu vực dành riêng cho bộ lạc Zwaya và Majabra. Chuyến đi bảy ngày đến El Taj. Madox và Bermann, thêm bốn người nữa. Vài con lạc đà, một con ngựa và một con chó. Khi chúng tôi ra đi, họ nhắc lại câu nói đùa cũ kỹ, “Khởi hành trong bão cát là điềm lành.”
Đêm đầu tiên, chúng tôi dựng trại hai mươi dặm về phía nam. Sáng hôm sau chúng tôi thức dậy và ra khỏi lều lúc năm giờ sáng. Lạnh quá không ngủ được. Chúng tôi bước đến đống lửa, ngồi trong ánh lửa giữa bóng tối vây quanh. Trên đầu chúng tôi là những vì sao cuối cùng. Hai giờ nữa mặt trời mới lên. Chúng tôi chuyền nhau những ly trà nóng. Mấy con lạc đà được cho ăn, nửa thức nửa ngủ nhai trái chà là cùng hột chà là. Chúng tôi ăn điểm tâm rồi uống thêm ba ly trà nữa.
Nhiều giờ sau, chúng tôi ở giữa cơn bão cát chẳng biết từ đâu ào đến trong buổi sáng đẹp trời. Ngọn gió hiu hiu mát đã dần dà mạnh thêm. Cuối cùng chúng tôi nhìn xuống, và bề mặt sa mạc đã biến đổi. Đưa cuốn sách cho tôi… đây này. Đây là lời kể tuyệt diệu của Hassanein Bey về những cơn bão như thế…
“Dưới bề mặt dường như có những ống hơi với hàng ngàn lỗ, phun những tia hơi nước bé xíu. Cát bốc lên thành những tia phụt và xoáy lốc nhỏ. Sự xáo động lớn dần khi cơn gió càng lúc càng mạnh. Dường như cả bề mặt sa mạc đang dâng lên vì một lực đẩy từ bên dưới. Những viên sỏi lớn đập vào ống chân, vào đầu gối, vào đùi. Những hạt cát leo lên thân người cho đến khi chúng tạt vào mặt rồi lên quá đầu. Bầu trời bị che khuất, tất cả phai đi trong tầm mắt trừ những vật gần nhất, vũ trụ bị lấp kín.”
Chúng tôi phải tiếp tục đi. Nếu bạn ngừng, cát sẽ dồn lại như thường dồn lại chung quanh một vật bất động, bao phủ bạn. Bạn sẽ vĩnh viễn biến mất. Một cơn bão cát có thể kéo dài năm giờ đồng hồ. Thậm chí những năm sau này khi chúng tôi ở trong xe tải, chúng tôi phải tiếp tục lái xe dù không thấy đường. Buổi tối là đáng sợ nhất. Một lần, ở phía bắc của Kufra, chúng tôi gặp một cơn bão trong bóng tối. Lúc ba giờ sáng. Luồng gió cuốn lều dứt khỏi cọc và chúng tôi lăn theo lều, cát vào lều như nước vào một cái xuồng đang chìm, trì chúng tôi xuống, làm chúng tôi nghẹt thở, cho đến khi một người dẫn lạc đà cắt lều cho chúng tôi thoát ra.
Chúng tôi đi qua ba cơn bão trong vòng chín ngày. Chúng tôi không tìm ra những thị trấn sa mạc nhỏ nơi chúng tôi dự định tìm thêm nguồn cung cấp. Con ngựa biến mất. Ba con lạc đà chết. Không có thức ăn trong hai ngày cuối cùng, chỉ có trà. Liên hệ cuối cùng với bất cứ thế giới nào khác là tiếng lách cách của ấm trà đen muội khói và cái thìa dài và cái ly hướng về phía chúng tôi trong bóng tối của mỗi buổi sáng. Sau đêm thứ ba, chúng tôi thôi không nói chuyện nữa. Điều quan trọng là ngọn lửa và chất lỏng màu nâu tối thiểu.
Chỉ nhờ may mắn chúng tôi mới gặp được thị trấn sa mạc El Taj. Tôi đi qua souk[69], ngõ bán đồng hồ ngân nga tiếng chuông, vào con đường bán phong vũ biểu, qua những quầy bán đạn súng trường, những gian hàng bán xốt cà chua Ý và đồ ăn đóng hộp từ Benghazi, vải in hoa từ Ai Cập, đồ trang trí bằng lông đuôi đà điểu, thợ chữa răng đường phố, thương buôn sách. Chúng tôi vẫn câm lặng, mỗi người tản đi theo hướng của riêng mình. Chúng tôi chậm chạp đón nhận thế giới mới này, như đang tỉnh lại sau khi suýt bị chết đuối. Ở quảng trường trung tâm của El Taj, chúng tôi ngồi ăn thịt cừu, cơm, bánh badawi, và uống sữa pha hạnh nhân giã nát. Tất cả những thứ này sau thời gian chờ đợi rất lâu cho ba ly trà long trọng có vị hổ phách và bạc hà.
Trong năm 1931, tôi theo một đoàn lữ hành người Bedouin và được bảo rằng trong đoàn còn có một người trong số chúng tôi. Hóa ra là Fenelon-Barnes. Tôi đến lều của ông ta. Ông ta đi vắng hết ngày hôm ấy trong một chuyến thám hiểm ngắn, kê mục lục những cây hóa thạch. Tôi nhìn quanh lều của ông, cuộn bản đồ, những tấm hình gia đình ông luôn mang theo, v.v... Lúc sắp đi ra, tôi thấy một tấm gương gắn cao trên bức vách bằng da thuộc, phản chiếu hình cái giường. Dưới lớp khăn trải giường hình như có một khối u nhỏ, có thể là một con chó. Tôi kéo chiếc áo choàng djellaba lên. Bên dưới là một cô gái Ả Rập bé nhỏ bị trói đang ngủ.
Đến năm 1932, Bagnold thôi không thám hiểm nữa, trong khi Madox và những người còn lại trong số chúng tôi có mặt khắp nơi. Tìm đội quân đã mất của Cambyses. Tìm Zerzura. Năm 1932 và 1933 và 1934. Nhiều tháng ròng không gặp nhau. Chỉ có những người Bedouin và chúng tôi qua lại đường Bốn Mươi Ngày. Những dòng sông là các bộ lạc sa mạc, những người đẹp nhất tôi từng gặp trong đời. Chúng tôi là người Đức, người Anh, người Hungary, người châu Phi - đối với họ tất cả chúng tôi là vô nghĩa. Dần dà chúng tôi trở thành vô quốc gia. Dần dà tôi ghét những quốc gia. Chúng ta bị những quốc gia làm cho méo mó. Madox chết vì những quốc gia.
Sa mạc không thể bị tranh đoạt hay chiếm hữu - nó là một mảnh vải cuốn theo gió, không bao giờ bị những hòn đá chặn lại, tên nó đã biến đổi hàng trăm lần, rất lâu trước khi Canterbury hiện hữu, rất lâu trước khi những trận chiến và hiệp ước chia cắt ngang dọc châu Âu và phương Đông. Những đoàn lữ hành của sa mạc, những hội hè và văn hóa du mục kỳ lạ, không để lại dấu vết, dù chỉ là một tàn lửa. Tất cả chúng tôi, thậm chí những người có gia đình và con cái ở châu Âu xa xôi, mong ước được cởi bỏ lớp áo quốc gia của mình. Đấy là nơi chốn của lòng tin. Chúng tôi biến vào trong khung cảnh. Lửa và cát. Chúng tôi rời những ốc đảo nương náu. Nơi có làn nước đến vuốt ve… Ain, Bir, Wadi, Foggara, Khottara, Shaduf. Tôi không muốn so sánh tên mình với những cái tên đẹp đẽ đến thế. Hãy xóa đi tên họ! Hãy xóa đi quốc gia! Sa mạc đã dạy cho tôi những điều ấy.
Dù vậy, một số người muốn để lại dấu ấn của mình ở đấy. Trên dòng nước đã khô cạn ấy, trên gò đá cuội này. Những hư danh nho nhỏ trong mảnh đất vùng Tây Bắc Sudan, phía nam Cyrenaica. Fenelon-Barnes muốn những cây hóa thạch ông tìm ra mang tên ông. Thậm chí ông muốn có một bộ lạc mang tên ông, và tốn hết một năm thương thuyết. Thế rồi Bauchan qua mặt ông, có một loại đồi cát mang tên mình. Nhưng tôi muốn xóa bỏ tên mình và quê hương mình. Sau mười năm trong sa mạc, khi cuộc chiến bắt đầu, tôi len lách dễ dàng qua những biên giới, không thuộc về bất cứ ai, bất cứ quốc gia nào.
Năm 1933 hoặc 1934, tôi quên mất năm nào. Madox, Casparius, Bermann, tôi, hai tài xế người Sudan và một đầu bếp. Lúc này chúng tôi di chuyển bằng xe Ford loại A, thân xe vuông vức, lần đầu tiên có những bánh xe lớn thổi phồng được gọi là bánh hơi. Chúng chạy tốt hơn trên cát, nhưng điều mạo hiểm là không biết chúng có chịu nổi những cánh đồng đá và lớp đá vụn không.
Chúng tôi rời Kharga vào ngày 22 tháng Ba. Bermann và tôi lý luận rằng Zerzura bao gồm ba wadi[70] Williamson đã nhắc đến vào năm 1838. Ở Tây Nam của Gilf Kebir, ba khối núi đá hoa cương nằm riêng rẽ nổi lên trên đồng bằng - Gebel Arkanu, Gebel Uweinat, và Gebel Kissu. Mỗi khối núi cách nhau mười lăm dặm. Nhiều khe núi có nước ngọt, mặc dù mấy cái giếng ở Gebel Arkanu có vị đắng, không uống được ngoại trừ lúc cấp bách. Williamson nói Zerzura được hình thành từ ba wadi, nhưng ông không hề xác định vị trí của nó và chuyện này được xem như là hoang đường. Dù thế, chỉ một ốc đảo mưa trong những ngọn đồi hình lòng chảo này là đủ để giải câu đố làm thế nào Cambyses và đạo quân của ông có thể thử vượt qua một sa mạc như thế, những cuộc đột kích của người Senussi trong cuộc Đại chiến[71], khi những dũng sĩ da đen khổng lồ băng qua sa mạc ai cũng cho rằng không có nước uống hoặc cỏ gặm. Đây là một thế giới đã có nền văn minh hàng bao thế kỷ, hàng ngàn con đường và lối đi.
Chúng tôi tìm thấy những bình nước ở Abu Ballas với hình dáng vò hai quai cổ điển của Hy Lạp. Herodotus nhắc đến những bình nước như thế.
Bermann và tôi nói chuyện với một ông già bí ẩn như rắn trong pháo đài El Jof - trong căn phòng bằng đá đã từng là thư viện của tộc trưởng bộ lạc Senussi. Một ông già người Tebu, làm nghề hướng dẫn đoàn lữ hành, nói tiếng Ả Rập pha thổ âm. Sau đó Bermann nói giọng ông ta “như tiếng dơi rít”, trích theo lời Herodotus. Chúng tôi nói chuyện với ông ta cả ngày đêm, nhưng ông không tiết lộ điều gì. Tín điều của người Senussi, học thuyết cao cả nhất của họ, vẫn là không tiết lộ những bí mật của sa mạc cho kẻ lạ.
Ở wadi el Melik chúng tôi nhìn thấy những giống chim chưa được biết đến.
Ngày 5 tháng Năm, tôi trèo lên một vách đá để tiến vào cao nguyên Uweinat theo một hướng mới. Tôi thấy mình ở trong một wadi rộng lớn đầy những cây keo.
Có một thời, những người vẽ bản đồ đặt tên những nơi chốn họ đi qua bằng tên của người tình hơn là tên của họ. Một người phụ nữ đang tắm trong đoàn lữ hành sa mạc, một tay giữ tấm vải mỏng trước mặt. Người tình của một nhà thơ Ả Rập già nua nào đấy, có đôi vai trắng như chim câu khiến ông diễn tả một ốc đảo bằng tên của nàng. Thùng nước bằng da thuộc giội nước lên thân nàng, nàng quấn mình trong tấm vải, và nhà thơ già quay đi để diễn tả Zerzura.
Một người đàn ông trong sa mạc có thể luồn vào một cái tên như vào trong một miệng giếng đã được khám phá, và trong bóng râm mát rượi của nó không bao giờ muốn rời sự bảo bọc ấy. Ao ước tha thiết của tôi là ở lại đấy, giữa những cây keo. Tôi đang bước đi ở nơi chốn không phải trước đấy chưa có ai đến, mà nơi chốn có những đợt dân cư bất ngờ và ngắn ngủi qua nhiều thế kỷ - một đạo quân thế kỷ XIV, một đoàn lữ hành người Tebu, những dũng sĩ Senussi năm 1915. Giữa những thời điểm này - không có gì ở đấy. Khi không có mưa, cây keo tàn lụi, wadi khô cạn… cho đến khi mưa lại bỗng dưng xuất hiện, năm mươi hoặc một trăm năm sau. Những sự xuất hiện và biến mất đôi khi, như những truyền thuyết và lời đồn trong suốt lịch sử.
Trong sa mạc, làn nước được yêu chuộng nhất, như tên của một người tình, mang màu xanh trong bàn tay bạn, vào cổ họng bạn. Người ta nuốt đi thiếu vắng. Một người đàn bà ở Cairo uốn cong thân hình trắng nuột của nàng, rời khỏi giường và nghiêng ra ngoài cửa sổ vào trong cơn mưa bão để cho sự trần truồng của nàng đón nhận nó.
Hana nghiêng về phía trước, cảm thấy ông đang lạc đề, nhìn ông, không nói gì. Người phụ nữ ấy, bà là ai?
Điểm tận cùng của thế giới không bao giờ là những điểm trên bản đồ bọn thực dân đã lấn chiếm trong khi nới rộng vùng ảnh hưởng của chúng. Một bên là những người đầy tớ và nô lệ và những xu hướng quyền lực và thư tín liên lạc với Hội Địa lý. Một bên là bước chân đầu tiên của một người da trắng qua một dòng sông lớn, ánh mắt đầu tiên (của một con mắt da trắng) nhìn một ngọn núi đã ở đấy tự bao giờ.
Khi chúng ta còn trẻ, chúng ta không soi gương. Chúng ta chỉ làm thế khi chúng ta đã già, lo âu về tên tuổi của mình, huyền thoại của mình, ý nghĩa cuộc đời mình đối với thế hệ tương lai. Chúng ta trở nên kiêu căng vì những cái tên chúng ta chiếm hữu, những khẳng định của chúng ta rằng chúng ta là cặp mắt đầu tiên, đạo quân hùng mạnh nhất, thương gia khôn khéo nhất. Chỉ khi Narcissus già ông ta mới muốn có một hình ảnh chạm khắc của chính mình.
Nhưng chúng tôi chú tâm đến chuyện cuộc đời chúng tôi có ý nghĩa như thế nào đối với quá khứ. Chúng tôi dong thuyền vào quá khứ. Chúng tôi còn trẻ. Chúng tôi biết quyền lực và của cải là những thứ tạm bợ. Tất cả chúng tôi ngủ với sách của Herodotus. “Vì những thành phố lớn trong thời trước giờ đây phải trở thành bé nhỏ, và những thành phố trước kia bé nhỏ trở thành lớn trong thời của ta… Vận may của con người không bao giờ dừng lại một chỗ.”
Năm 1936, một người trẻ tuổi tên Geoffrey Clifton gặp một người bạn ở Oxford, người bạn ấy nhắc đến chuyện chúng tôi đang làm. Geoffrey liên lạc với tôi, thành hôn vào ngày hôm sau, rồi hai tuần sau nữa cùng vợ bay đến Cairo.
Cặp vợ chồng ấy đi vào thế giới của chúng tôi - bốn người chúng tôi. Hoàng tử Kemal el Din, Bell, Almásy và Madox. Cái tên Gilf Kebir vẫn còn tràn ngập miệng chúng tôi. Nép mình đâu đấy trong Gilf là Zerzura, cái tên đã xuất hiện trong những bản văn Ả Rập từ thế kỷ XIII. Khi người ta di chuyển trong khoảng cách xa như thế sẽ đến lúc người ta cần một chiếc máy bay, và chàng trai Clifton giàu có biết lái máy bay và có một chiếc máy bay.
Clifton gặp chúng tôi ở El Jof, phía bắc Uweinat. Anh ngồi trong chiếc máy bay hai người, và chúng tôi rời trại chính bước về phía anh. Anh đứng dậy trong buồng lái, rót một ly rượu từ chai rượu bỏ túi của anh. Cô vợ mới của anh ngồi bên cạnh.
“Tôi đặt tên cho chỗ này là Câu lạc bộ Đồng Quê Bir Messaha”, anh tuyên bố.
Tôi nhìn vẻ thân thiện ngần ngại thoáng qua mặt vợ anh, mái tóc như bờm sư tử của nàng khi nàng kéo cái mũ da ra khỏi đầu.
Họ là những người trẻ tuổi, tựa như hàng con cái chúng tôi. Họ trèo ra khỏi máy bay và bắt tay chúng tôi.
Đấy là năm 1936, phần khởi đầu trong câu chuyện của chúng tôi…
Họ nhảy xuống từ cánh chiếc máy bay Moth. Clifton bước về phía chúng tôi, tay giơ chai rượu, và tất cả chúng tôi đều uống một ngụm rượu ấm. Anh thích lễ nghi. Anh đặt tên chiếc máy bay của anh là Gấu Rupert[72]. Tôi không nghĩ anh yêu sa mạc, nhưng anh dành cho nó một sự cảm mến bắt nguồn từ nỗi kinh ngạc vì lề lối khắc khổ của nhóm chúng tôi, nhóm người anh muốn hòa nhập vào - như cậu sinh viên vui nhộn tôn trọng thái độ im lặng trong thư viện. Chúng tôi không ngờ anh mang vợ theo, nhưng tôi nghĩ chúng tôi đã giữ vẻ lịch sự. Nàng đứng đấy trong khi cát đọng trong mái tóc bồng của nàng.
Chúng tôi là gì đối với cặp nam nữ trẻ tuổi này? Vài người trong số chúng tôi đã viết sách về sự hình thành của đụn cát, sự xuất hiện và biến mất của ốc đảo, những nền văn hóa đã mất của sa mạc. Dường như chúng tôi chỉ thích những thứ không thể mua bán được, những thứ thế giới bên ngoài không màng đến. Chúng tôi tranh cãi về vĩ độ, hoặc về một sự kiện xảy ra bảy trăm năm trước. Những định lý thám hiểm. Rằng Abd el Melik Ibrahim el Zwaya, sống ở ốc đảo Zuck và chăn lạc đà, là người đầu tiên trong số những bộ lạc ấy có thể hiểu khái niệm nhiếp ảnh.
Vợ chồng Clifton đang ở trong những ngày cuối của tuần trăng mật. Tôi để họ lại với những người khác để đến Kufra gặp một người và đi với anh ta vài ngày, kiểm nghiệm những giả thuyết tôi đã giữ kín không nói với những người còn lại trong đoàn thám hiểm. Ba đêm sau tôi trở về trại chính ở El Jof.
Giữa chúng tôi là ngọn lửa sa mạc. Vợ chồng Clifton, Madox, Bell và tôi. Nếu một người ngả về phía sau vài phân người ấy sẽ biến vào bóng tối. Katharine Clifton bắt đầu đọc một bài gì đấy, và tâm trí tôi không còn ở trong vầng lửa trại đốt bằng cành cây.
Khuôn mặt nàng có đường nét của dòng máu cổ điển. Hiển nhiên cha mẹ nàng nổi tiếng trong lĩnh vực lịch sử luật pháp. Tôi là người không thích thơ cho đến khi tôi nghe giọng của một người phụ nữ đọc thơ cho chúng tôi nghe. Trong sa mạc ấy, nàng lôi chuỗi ngày đại học của mình vào giữa chúng tôi để diễn tả những vì sao - như Adam dịu dàng dạy một người đàn bà bằng những ẩn dụ duyên dáng.
Dù không ai nhìn ngắm chúng trong đêm thâu,
Dù con người chẳng là chi, chúng rực rỡ chẳng vì lòng kiêu, hoặc nghĩ,
Rằng Thiên đàng muốn được chiêm ngưỡng, Thượng đế muốn lời ngợi khen;
Triệu triệu Sinh linh bước trên Trái đất
Không ai nhìn thấy, khi chúng ta thức, và khi chúng ta ngủ:
Chúng, những tạo dựng của Ngài không ngớt được ngợi khen
Ngày lẫn đêm: từ dốc Đồi âm vang hoặc Bụi cây
Bao lâu chúng ta được một lần nghe
Những giọng thiên thể ngân trong trời khuya,
Một mình, hoặc đáp lời nhau
Ca ngợi Tạo Hóa tuyệt vời…[73]
Đêm hôm ấy tôi phải lòng một giọng nói. Chỉ một giọng nói. Tôi không muốn nghe gì nữa. Tôi đứng dậy, bước đi.
Nàng là một cây liễu. Nàng sẽ như thế nào trong mùa đông, ở tuổi của tôi? Tôi vẫn nhìn thấy nàng, vẫn bằng ánh mắt Adam. Nàng đã là những chân tay vụng về trèo ra khỏi chiếc máy bay, cúi xuống giữa chúng tôi để khời lửa, khuỷu tay nàng đưa lên về hướng tôi khi nàng uống nước trong bi đông.
Vài tháng sau, nàng nhảy luân vũ với tôi, khi nhóm chúng tôi khiêu vũ ở Cairo. Dù hơi say, nàng mang vẻ mặt của một người không chịu khuất phục. Cho đến bây giờ, tôi tin rằng khuôn mặt biểu lộ nhất của nàng là khuôn mặt ngày hôm ấy, lúc cả hai chúng tôi cùng ngà say, chưa phải là người tình của nhau.
Suốt những năm sau này tôi đã cố gắng tìm hiểu xem vẻ mặt ấy của nàng có ý nghĩa gì. Dường như đấy là vẻ khinh miệt. Tôi thấy như thế. Giờ đây tôi nghĩ nàng đang dò xét tôi. Nàng là người ngây thơ, ngạc nhiên vì một điều gì trong tôi. Tôi đã xử sự như tôi vẫn thường xử sự trong những quán rượu, nhưng lần này không đúng đối tượng. Tôi là người có những quy tắc cư xử khác nhau. Tôi đã quên nàng nhỏ tuổi hơn tôi.
Nàng đang dò xét tôi. Đơn giản thế đấy. Và tôi đang dõi chừng một cử động sai lạc trong ánh mắt đăm đăm như pho tượng của nàng, một điều lộ ra tâm ý của nàng.
Đưa cho tôi một tấm bản đồ và tôi sẽ dựng lên một thành phố. Đưa cho tôi một cây bút chì và tôi sẽ vẽ một căn phòng ở Nam Cairo, với những biểu đồ sa mạc trên tường. Sa mạc luôn luôn ở giữa chúng tôi. Tôi có thể thức giấc và ngước mắt nhìn lên tấm bản đồ của những khu định cư thời xưa dọc theo bờ biển Địa Trung Hải - Gazala, Tobruk, Mersa Matruh - phía nam của chúng là những wadi vẽ bằng tay, chung quanh đấy là những sắc vàng khác nhau chúng tôi đã xâm nhập, đã cố gắng biến mình trong ấy. “Nhiệm vụ của tôi là mô tả ngắn gọn nhiều cuộc thám hiểm vào Gilf Kebir. Sau nữa Tiến sĩ Bermann sẽ mang chúng ta trở lại sa mạc như nó đã hiện hữu hàng ngàn năm trước đây…”
Đấy là cách Madox nói với những nhà địa lý học khác ở Kensington Gore. Nhưng người ta không tìm thấy chuyện ngoại tình trong những biên bản của Hội Địa lý. Căn phòng của chúng tôi không bao giờ xuất hiện trong những báo cáo chi tiết có biểu đồ của mỗi một ngọn đồi và mỗi một sự kiện lịch sử.
Trên con đường bán vẹt nhập cảng ở Cairo, lũ chim gần như biết nói quát tháo người qua lại. Chúng sủa và huýt sáo trong những dãy hàng, như một con đường lông vũ. Tôi biết bộ lạc nào đã du hành con đường tơ lụa hoặc lạc đà nào để đem chúng trong những chiếc kiệu bé tí của chúng băng qua sa mạc. Những cuộc hành trình bốn mươi ngày, sau khi lũ chim bị những nô lệ bắt hoặc bị hái như hái hoa trong những khu vườn xích đạo, rồi bị đặt vào lồng tre để đi vào dòng giao dịch. Chúng xuất hiện như những cô dâu trong một cuộc tán tỉnh thời Trung cổ.
Chúng tôi đứng ở giữa lũ chim. Tôi đang giới thiệu cho nàng một thành phố mới mẻ đối với nàng.
Bàn tay nàng chạm vào cổ tay tôi.
“Nếu em cho anh cuộc đời em, anh sẽ đánh rơi nó. Đúng không?”
Tôi không nói gì.
Bệnh Nhân Người Anh Bệnh Nhân Người Anh - Michael Ondaatje Bệnh Nhân Người Anh