Vấn đề không phải ở chỗ bạn đang gặp khó khăn mà chính ở chỗ bạn xem khó khăn là một vấn đề.

Theodore Rubin

Download ebooks
Ebook "Hãy Phá Vỡ Khối Nặng Im Lặng"
Bạn cần đăng nhập để download eBook.
 
 
 
Sách Mới Đăng
 
Sách Đọc Nhiều
 
Tác giả: Phan Nhật Nam
Thể loại: Tùy Bút
Biên tập: Quoc Tuan Tran
Số chương: 5
Phí download: 2 gạo
Nhóm đọc/download: 0 / 1
Số lần đọc/download: 1293 / 22
Cập nhật: 2016-06-03 15:59:23 +0700
Link download: epubePub   KindleMobi/PRC   PDF A4A4   PDF A5A5   PDF A6A6   - xem thông tin ebook
 
 
 
 
Chương 3: Buổi Con Người Bị Khinh Miệt Tận Diệt
hu nhà tù Hỏa Lò do người Pháp dựng nên sau khi bình định được nước Việt, là trại giam trung ương của Miền Bắc. Sau năm 1954, công an cộng sản Hà Nội xử dụng làm nơi tạm giam các phạm nhân chờ chấp cung, chưa có án, đợi đưa đi các trại. Nhà tù nằm trên phố Hỏa Lò nên nhận danh xưng nầy, và phần hông dài theo góc phố chính Hai Bà Trưng, phía sau là phố Hàng Bông Thợ Nhuộm. Nhà tù gần trung ương, Bộ Nội Vụ, Cục Trại Giam, thuộc quyền Sở Công An Hà Nội để tiện việc bắt giữ, điều hành, quản lý, xét xử. Nhà tù nhận nhiều đợt tù ngay sau khi bộ đội cộng sản vào Hà Nội 10 tháng 10, 1954, từ đây chuyển đi các trại trung ương từ biên giới Việt-Trung đến Nghệï An, Hà tĩnh, các trại tập trung dọc vùng thung lũng sông Mã Thanh Hóa, Hòa Bình, hậu thân của hệ thống trại Lý Bá Sơ, đã thành danh hiệu một Tây Bá Lợi Á của cộng sản Việt Nam từ khi nhà nước vô sản đầu tiên được dựng nên ở Ðông Nam Á, ngày 2 tháng 9, 1945 - cũng là ngày thành hình hệ thống nhà tù cộng sản thay thế ngay lập tức, và có hiệu quả nhà tù thực dân trong những vùng vừa được "giải phóng" với chính sách giam giữ khắc nghiệt, tận khinh miệt con người. Chúng tôi không nói điều mĩa mai, cố ý đặt đễ. Những nhà tù Sơn La, Nghĩa Lộ, Yên Bái với những cùm bằng sắt đã có thời cùm giữ các ủy viên trung ương, cán bộ cộng sản nay được tăng cường số lượng với vòng siết thắt chặt hơn; chén cơm, thức ăn, rau tươi, hoàn toàn bị cắt bỏ thay thế vào đấy những thứ lương thực, thực phẩm như sắn tươi nung khô, bo bo, khoai ủng, rau khô úa mà loài chó, lợn cũng từ chối. Chiếc cùm chân Trường Chinh ở phòng giam nay được giữ lại ở Hỏa Lò như một chứng tích lịch sử của "thời thực dân tàn ác, bóc lột", thật không thấm vào đâu so với khối cùm hộp kẹp vỡ xương ống chân của những con người trong câu chuyện sắp kể ra. Cũng tại nhà tù Hỏa Lò nầy. Thế nên, phải nói thật một điều tưởng chừng như vô lý - Nhà tù Hỏa Lò thời thực dân đã là một thiên đường so với thời "tập trung cải tạo xã hội chủ nghĩa theo lời dạy của Bác Hồ vô vàn kính yêu!!" Chúng ta cần nêu một so sánh để khỏi bị cáo buộc vô bằng cớ. Khi xây khám, người Pháp dự trù chỉ để giam cứu cho vài ba trăm người với những dãy nhà dài rộng. Công an cộng sản chia thành bốn khu chính với những phòng giam ngăn cách bởi những dãy tường đá, trên thả kẻm gai, và mãnh chai vỡ. Một nhân vật của câu chuyện kể (vốn là đại úy Quân Ðội Quốc Gia trước năm 1954) tháng 8, 1961 bị đưa vào tù theo nghị quyết tập trung kể trên, có số tù 4257. Ðiều nầy giúp cho biết, chỉ mới đến tháng 8 lượng tù đã quá số 4000, cuối năm, theo nhịp tập trung bắt giữ như đã xẩy ra ắt hẳn khoản 6000 lượt người, vào và chuyển dần đi. Hỏa Lò nhận một số tù gấp mười lần số lượng dự trù, và diện tích phòng bị co rút lại, thế nên, các phòng giam dẫu treo khẩu hiệu, "Ăn sạch. Ở sạch. Nội vụ sạch", sinh hoạt "điễn hình tiên tiến" ở phòng số 14 đã diễn ra như sau: "Ba chục tên mới vào chen chúc đứng ở chỗ cửa ra vào, rộng khoảng ba thước vuông, đám tù sẵn có chen nhau nằm trên hai sàn, trên lối đi giữa phòng, không một kẻ hở nhỏ. Tất cả phải nằm úp thìa (bụng người nầy sát vào lưng người kia, chân co lại), trong nhà mét (nhà vệ sinh có bề ngang "một mét") hơn một chục tên nằm ngồi ngổn ngang. Tên trực phòng bàn với tù trưởng phòng:
- Bây giờ ba chục tên mới vào nhét vào đâu?
- Ðành phải lèn chúng nó bằng được!
Trực phòng gọi từng tên một đến chêm vào đống người nằm chật trên sàn.. Dồn lại! Dồn lại! Miệng hô, gót chân nện vào bụng, ngực những thằng đương nằm, cố có được một khoảng trống độ mười lăm phân để chêm thêm một tên. Vất vả khoảng mười lăm phút cũng chỉ chêm được bảy tên, nên cuối cùng trưởng phòng có sáng kiến:
- Tao có biện pháp, cho chúng nó "tạc tượng", nghĩa là đứng dựa vào tường đêm nay. Ðêm mai sẽ thay lớp khác. Lập tức hai chục "pho tượng" được đặt dọc theo bức tường".
Nhưng 250 con người trong căn phòng dự trù chỉ hai mươi người ở kia có những nhu cầu sinh tử, trong đêm họ phải đi tiểu, đại tiện (do buổi chiều vừa được thăm nuôi, và chỉ trong vài phút ngắn đã phải ăn cho hết những thức ăn nhiều chất bột, mỡ, đường). Kẻ đi vào phòng vệ sinh phải trở thành một diễn viên xiếc thượng thặng... Trước khi bước phải tìm một kẻ hở giữa đám người nằm để đặt năm đầu ngón chân xuống, có những chỗ quá xa nên phải nhảy tới, rồi bước lò cò; lỡ chân, đạp lên mặt, lên ngực kẻ nằm, hoặc ngã đè lên họ... Vào được phòng vệ sinh, lại phải thêm một phen chen chúc. Một tên ngồi gục đầu trên hố xí, úp mặt xuống lỗ hố xí thối thủm, một tên khác ngồi ở bệ bước lên, nhưng dù sao đấy cũng là "hai chỗ ngủ tốt". Có tên nằm co quắp trong bệ tiểu tiện, phải đánh thức tên nầy dậy mới đi tiểu được, vừa tiểu tiện xong, bệ tiểu đã có một tên nhảy vào ngồi trám chỗ. Từ cửa phòng vệ sinh, lão (người tù có số hiệu 4257) nhìn ra... Căn phòng im lặng lềnh đặc mùi tanh tưởi của máu, mủ, mồ hôi, mùi phân người bốc lên ngầy ngật... Mấy trăm bộ xương da khẳng khiu, lỡ loét ngập tràn, nằm ôm cứng la liệt như đống xác chết như một nấm mồ tập thể, lộ thiên chưa lấp đất.
Chắc hẳn, bạn đọc đã có ý nghĩ: Ðám tù của phòng số 14 nầy phải là những tay anh chị, dân dao búa, vào tù do phạm những tội hình gia trọng?! Cũng có thể đúng như vậy, nhưng trong đám không thiếu những bi kịch thương tâm. Chúng ta hãy nghe người tù già thở than với gã tù trưởng phòng (để gã nầy gia ân cho khỏi ngủ "nhà mét- chuồng xí"... Vâng, thưa bác, cháu chỉ vì đạp xe trái luật, bị cảnh sát phạt hai chục đồng (khoảng một, hai đồng tiền Mỹ). Cháu không đủ tiền nộp, họ giữ ở đồn mấy hôm. Vợ con cháu đói, cháu van lạy công an trả xe, cháu đi làm sẽ nộp phạt sau. Mấy ngày liền cháu lên đồn cầu xin, công an không trả còn mắng chưởi, xua đuổi. Nhà cháu ức quá kêu trời, đất, tên các ông Lê Duẩn, Trường Chinh để kể ra nỗi khổ... Thế là bị giải vào đây, đã mười bốn tháng vì tội "lăng mạ,ï xúc phạm lãnh tụ". Cháu không biết chữ, xin bác làm ơn, làm phúc, viết cái đơn, xin nhà nước tha cho cháu."
Ông lão đạp xích lô không phải là trường hợp riêng biệt, có gã tù trẻ hơn, đói quá đang ngồi bỗng nhiên ngất xĩu, được lão tù (vốn là đại úy quân đội quốc gia vừa kể ra trên) cho uống một ca nước pha chút đường, gã tỉnh lại, rơm rớm nước mắt, kể lễ... "Cháu có tội gì đâu, cháu làm nghề sửa đồng hồ, đạp xe đạp quanh các phố rao mời: "Ðồng hồ nhanh, chậm, hỏng vỡ...Ai cần chữa...". Một hôm quá mệt, cháu rao ngắn hơn... "Hồ hỏng, hồ vỡ, sửa chữa.." Rao được vài phố thì bị công an bắt vào đồn. Ông chấp pháp hỏi cung, bắt cháu phải nhận có ý đồ phản động, xỏ xiên lãnh tụ, xúc phạm bác Hồ!! Cháu giải thích, hôm ấy cháu bị ho, lại quá mệt chứ nào dám xúc phạm Hồ Chủ Tịch, cháu còn hai con nhỏ phải nuôi, làm sao có gan bằng giời như thế! Ông chấp pháp bảo nếu có cố ý thì cứ nhận, đảng sẽ khoan hồng, cho về với vợ con. Cháu tin theo, ký vào biên bản, nhưng không hiểu tại sao cứ bị giam ở đây, đã mười tám tháng... Gã thợ sửa đồng hồ khóc nấc".
Những trường hợp thương tâm, bi hài như trên không phải là hiếm hoi, và hậu quả của khốc hại của chế độ giam giữ không chỉ gây nên đói khổ, ngủ nhà xí, trong bồn đi tiểu. Chúng ta qua khu nữ tù, khu thứ ba của Hỏa Lò để biết ra thêm một khía cạnh bi phẫn: Phận người, phận người tù nữ cũng không kém cường độ khốn khổ, trái lại trong những tình cảnh khốn cùng kia, họ đã là những đơn vị thụ động, bị đánh vỡ trước tiên. Chúng ta hãy nghe câu chuyện: Phòng nữ không quá đông như phòng nam, nhưng cũng chật ních, thêm mùi cầu tiêu, mồ hôi, mùi máu mủ, ghẻ lỡ, lậu, giang mai, kinh nguyệt quyện vào lan tỏa... Ðám nữ tù khi vào buồng, đồng cởi áo quần, nằm ngồi ngỗn ngang, lấy những mảnh giẻ con thấm máu mủ cho nhau. Có tiếng khóc của trẻ con, mụ trưởng phòng đã ngoài bốn mươi, bế đứa nhỏ trong tay, nựng nịu... Khổ thân cho cháu quá, bé tí thế nầy mà đã vào tù, mới mười tháng mà đã trở thành tù nhân, mà cái nầy cũng chỉ tại mẹ mầy, trẻ người non dạ... Mẹ nó còn đường không đấy? Cô giáo đừng ăn đường của con đấy nhé.
Mẹ đứa bé, vốn là cô giáo sùi sụt: Cám ơn các chị thương cháu, cho cháu đường để pha nước cháo, em đâu nỡ ăn đường của con,
Mụ trưởng phòng an ủi: Thôi đừng khóc nữa, trên thế nào cũng chiếu cố cho mẹ con em về,mà em cũng thật dại, bao nhiêu người chồng chết, con chết mà ai dám chưởi như em đâu?
- Em nào dám chưởi đảng bao giờ, nghe tin anh ấy chết, em chỉ gào mỗi câu "nghĩa vụ quốc tế giết chết chồng tôi rồi...". Không biết kiếp trước mẹ con em phạm tội gì mà giời đày đoạ đến thế nầy, chồng thì bỏ mạng ở xứ người, xác không biết chôn đâu, mẹ con em lại phải vào tù đã năm tháng nay.
Với môi trường tù ngục như trên, đứa bé lại thiếu dinh dưỡng, dẫu cô "nữ quái" của phòng đã dùng đến chiến thuật của nghề cũ- Dùng thân xác mình o ép, lập kế dụ các gã bộ đội võ trang (đi tuần hằng đêm) cung cấp hộp sữa để được sờ mó người cô, và dùng sữa nầy nuôi đứa bé - Nhưng bé không chịu đựng nỗi sức nóng của căn phòng, vào những ngày tháng Tám, nóng lên đến quá 40 độ, bé bị sốt cao, rôm sẩy đầy người, la khóc đến nghẹt thở, xong chỉ còn những tiếng rò rè thiêm thiếp. Cô giáo chỉ còn da, xương, mắt quầng thâm, ôm con lo lắng. Một buổi sớm, cô thiếp mê, khi tỉnh dậy thấy thằng bé há hốc chiếc miệng nhỏ xíu, mắt trợn lên, bất động. Cô hoảng loạn kêu ầm... Con tôi chết rồi!! Con tôi chết rồi!
...Gã tự giác vào phòng, giật đứa bé khỏi tay cô giáo, đẩy cô ngã xuống. Cô vùng lên chạy theo, gào thét... Trả con cho tôi! Trả con cho tôi! Tôi tự tử chết! Cô đập đầu vào song sắt. Máu từ đầu chảy xuống hòa nước mắt.
... Nhờ các bạn tù theo dõi, trông chừng, cô giáo không tự tử chết được, chỉ trở nên người mất trí. Trong cơn điên, cô hát lại những câu hát thời thơ ấu, lúc con còn sống, cô thường hát để thay lời ru... Ai yêu Bác Hồ Chí Minh hơn các em nhi đồng. Bác chúng em dáng cao cao, người thanh thanh... Mong Bác sống muôn đời để dìu dắt nhi đồng thành người... Và cô chêm nhữnglời thơ vào bài hát với, lẽ tất nhiên cũng là thơ về Bác Hồ do Tố Hữu viết xưng tụng Bác... Ðàn cá kia còn vui với ai. Thơm cho ai nữa hỡ hoa nhài... Cô vừa hát, vừa ngâm thơ, vừa múa đẹp, thường kết thúc trò vui với lời gào khản.. ới con ơi... ới con ơi!!
Một sáng đầu tháng mười, ông y sĩ trại vào dẫn cô đi. Cô giáo được đưa tới một trại giam người điên bên Châu Quỳ, Gia Lâm. Các bạn tù thì thầm... Nó được Bác Hồ phù hộ đấy. Bác thiêng lắm, hôm Bác mất, giời mưa khóc bác...Thì con điên ấy chẳng thường ngâm, "Người tuôn nước mắt, Trời tuôn mưa" đấy con ơi là con!!
Ðến đây, hẳn bạn đọc có thể nại đến một thắc mắc để có được cớ an ủi: Những người tù vừa kể trên thuộc về những thành phần đại chúng, thấp cổ, bé miệng, không ai biết đến, và hệ thống nhà tù đẩy họ vào chung một hoàn cảnh khốn cùng, hơn nữa, Miền Bắc thời chiến tranh, người dân ngoài xã hội cũng không được phần dư dã, thường xuyên chịu kiểm soát, coi chừng. Không phải như vậy, người bạn của chúng ta sau một hành trình từ bốn giờ sáng, suốt 18 tiếng đồng hồ bằng tất cả những phương tiện, ca nô, xe tải, xe lửa... Chen chúc nhau trong một toa đen bịt kín, nhầy nhụa phân lợn, mười một giờ đêm đến trại Phong Quang, sát biên giới Việt- Hoa, cách nơi khởi hành chỉ hơn 100 cây số, khoảng 60 dặêm anh. Sáng hôm sau, Nguyễn Chí Thiện đến bệnh xá tìm gặp một người... Một người trung niên, mặc áo bông, đứng trước cây ớt chỉ thiên, đầu ngẫn lên nhìn trời, nét mặt xám nhợt, bất động. Phùng Cung, cây bút trẻ tuổi mạnh mẽ nhất của nhóm Nhân Văn, Giai Phẩm, từ thập niên 50 đã nhận chân ra được phần "tài năng" của đám bồi bút đảng, những Xuân Diệu, Huy Cận, Chế Lan Viên... như "Con ngựa già của Chúa Trịnh" nhìn cuộc sống ngoài cung điện:.. "Tất cả những cảnh vật trước mắt nó đồng nhỏ lại và thẳng tắp. Rồi cây cỏ, núi đồi cho đến màu xanh của trời chỉ thu lại là một đường thẳng. Nó không ngờ hai chiếc lá đa che hai bên mắt chỉ cho thấy được một chiều...". Từ, bởi những giòng chữ nầy, người viết văn đã phải nhận ngay trừng phạt với mười năm tù không tuyên án tính đến năm 1970 (và tiếp theo sau một thập niên nữa), nghĩa là ngay sau khi nghị quyết tập trung kể trên kia được thi hành. Khác với tình trạng của Rubashov trong Darkness At Noon vào những giờ phút cuối cùng trước khi bị hành quyết, không còn đến cả người bạn tù bên phòng 406 đáp lại tiếng gõ làm hiệu. Ông ta nhớ lại quảng đời dài 40 năm phục vụ đảng, và cách mạng - phục vụ dâng hiến- không hề đặt nên vấn đề: Phục vụ cho ai từ lúc khởi cuộc? Và khi chạm sát vào cái chết, người tử tù tự hỏi mình ngây thơ như đứa trẻ: Hoá ra đảng đã lấy hết tất cả những gì của mình dâng hiến, và không cho lại được tiếng trả lời sao? Phùng Cung không được chết, dù phải bị bệnh lao, chuyển về đội đan lát, (một đơn vị của trại tù có biệt danh "mầm non nghĩa địa"- gồm những người sắp chết), anh phải sống sót, ra tù để chịu đựng sự đe dọa thường trực "suốt chục năm, sau ngày ra tù, (kể cả sau khi Liên sô sụp đổ 1990), công an thường xuyên tới nhà, lục soát, gọïi lên đồn, đe dọa, khủng bố tinh thần. Có lần không biết ai tố cáo, anh phải nộp 50 bài thơ chép tay; may chỉ là thơ tả cảnh, không đụng gì tới chế độ." Bên cạnh sự khủng bố của công an, còn có tiếp sức của cái đói, "cái đói bám vào thắt lưng mà đánh". Phùng Cung tôn kính hạt gạo vô cùng, ông nói thành lời: Tôi rạp đầu. Bạc tóc rạp đầu. Lạy hạt gạo thiêng!
Vợ chồng ông phải sống trong cảnh: Trệu trạo trái sung. Ruột tím cơ hàn... Và trong lòng là nỗi sợ hãi nơm nớp: Mắt trước, mắt sau. Kinh hoàng di lụy. Quỳ gối, chống tay, vẫn còn sợ ngã!
Có điều nào lầm lỗi trong những chữ nghĩa xót xa nầy, một đời người toàn diện hiến dâng cho độc lập, tự do dân tộc, ngợi ca, gìn giữ phẩm giá con người, từ những năm còn độ tuổi thiếu niên...
Vùng châu thổ Lưỡng Hà vang tiếng gáy
Lớp lớp thương vong bằng an ngồi dậy
Dưới sao Mai ưu ái trong lành
....
Khắp nẻo Nam, Bắc bán cầu
Chim hót Thánh Thi
Cuối cùng, chế độ quyết định kết thúc đời người tại những tình huống tận sống trong cảnh chết qua bi kịch khốc liệt như sau: "Người thanh niên 31 tuổi, vốn là bộ đội giải ngũ vì thương trận, anh can tội đánh cắp kho thuốc tây phố Ðinh Liệt, quận Hoàn Kiếm. Chẳng phải số lượng thuốc bị mất cắp quá lớn để có thể gây thiệt hại đến nền y tế quốc gia, nhưng bởi đấy là kho thuốc của trung ương đảng nên anh bị kêu án tử hình. Aùn xử đã được định sẵn với công tố Ðỗ Xuân Sảng vì trung ương đảng muốn cảnh cáo cho dân chúng biết- Ðánh cắp của ai cũng có thể châm chước (bằng chứng những vụ tham nhũng, làm hư hại, gây lỗ các xí nghiệp, nhân hàng lên đến hàng chục tỷ đồng cũng chỉ bị "cảnh cáo nội bộ"), nhưng đánh cắp của đảng (của đảng viên tung ương đảng) thì chỉ có tội chết mới xứng đáng- bởi đấy là biễu hiệu nhất quán về phản động chính trị- Coi nhẹ pháp chế của đảng. Xúc phạm lãnh tụ...". Cô gái cũng có trường hợp tương tự, vì uất ức tên trưởng khu phố đã lợi dụng chức vụ( dù chỉ là chức "trưởng khu phố") để đòi cô cho hắn ta thỏa mãn (như cách tổng, lý, xã trưởng của đầu thế kỷ khi còn chế độ quân chủ, phong kiến), còn bứt bách mẹ cô vốn là một cô giáo. Quá phẫn uất, cô gái dùng xăng đốt nhà gã nầy cho đến chết. Cô bị kết án tử hình lúc 19 tuổi. Hai người đối diện nhau qua dãy hành lang của khu khám tử hình và sống cùng nhau trong những giờ phút cận kề, chạm mặt cái chết:
... Hai đứa bị tử hình mà không thương nhau thời thương ai? Thấy mặt anh ngây ra, em buồn cười quá. Chắc chúng mình có duyên nợ nhau từ kiếp trước. Năm nay em mười chín tuổi, ở ngoài, em chưa yêu ai đâu!
- Em mười chín tuổi, chỉ mới trăng tròn lẻ bốn tuổi, chưa mảnh tình vắt vai, tuổi mới bước vào đời mà phải bước ra. Tiếc thật, giá anh có thể chết thay cho em thì tốt biết bao... Mấy đêm trước, anh mơ thấy thầy mẹ anh. Hai "cụ via" vui lắm, nói là sắp được đón anh. Kiếp sau hai đứa mình sẽ chung sống nhé!
- Ðợi kiếp sau lâu lắm, em không đợi được đâu, sau khi chết hai linh hồn chúng mình phải gặp nhau cơ. Chúng mình nên chọn nơi thật thơ mộng như bên Hồ Tây, trên đường Thanh Niên ấy,
- Ý kiến hay quá, nhưng theo anh, chúng mình hẹn gặp nhau trên đê sông Hồng, chỗ Ðồn Thủy đi thẳng ra...
- Này, nếu ở thế giới bên kia mà anh phụ em, em sẽ "hỏa thiêu" luôn cả linh hồn anh
- Trời đã thương anh, ban em cho anh, anh mà phụ em, trời cho set nổ trên đầu, đánh chết tươi anh ngay. Em ơi, anh muốn sang bên buồng em quá. Nghĩ tới được ôm ấp em, vuốt ve em, anh run cả người lên đây nầy...
- Em cũng muốn lắm, mồ hôi em cũng lấm tấm trên trán đây,
Gã tù hạ thấp giọng, nói nhỏ: Em đã thông cảm thì anh mạnh dạn nói. Ðêm qua, anh nghĩ sẽ đề nghị với em là chúng mình sẽ thành vợ chồng, nhưng chuyện động phòng là không thể được rồi. anh chỉ muốn chúng mình ngắm thân thể của nhau!! Ðến giờ vệ sinh, anh sẽ đứng lên cùm nhìn sang buồng em. Ðến lượt em cũng thế, nhớ cởi hết ra đấy!!
- Nếu có cơ hội, anh mở lỗ cửa gió buồng em như hôm nọ, em sẽ để môi ra cho anh hôn..
- Sáng kiến hay quá, ờ... mà không phải hôn. Anh sẽ uống linh hồn em!
... Nhiều tiếng giầy thình thịch đi vào sân. Rồi tiếng mở khóa loảng xoảng. Gã tử tù ngưng nói, xong hốt hoảng: Có lẽ anh "đi" đấy. Giọng cô gái hồi hộp: Có thể là em!
Tên quản giáo mở cửa buồng gã tử tù. Hai vũ trang xông vào quát: Ngồi im không được cử động. Chúng bẻ tay gã tử tù ra sau lưng, dùng còng số 8 khóa lại. Gã tử tù nói to: Anh đi trước anh đợi em ở bờ sông Hồng! Cô gái đập cửa buồng gào lên: Xin các ông đưa tôi đi bắn cùng anh ấy! Xin các ông!
Gã tử tù bị đẩy ra hành lang, hướng về buồng cô gái: Tạm biệt em, đừng cầu xin gì chúng nó cả. Chắc chắn chúng mình sẽ gặp nhau. Cô gái nức nở: Anh ơi, Em thương anh quá. Em muốn đi với anh, chúng mình gặp nhau ở bờ sông Hồng... Em sẽ tới đó.
Ra tới sân, gã ngoái cổ lại kêu lớn... Ðừng buồn, chúng mình gặp nhau trên bờ sông Hồng... ở bờ sông Hồng nghe em.... Sông Hồng... sông Hồng em ơi...
Hãy Phá Vỡ Khối Nặng Im Lặng Hãy Phá Vỡ Khối Nặng Im Lặng - Phan Nhật Nam